Huyết áp cao hay tăng huyết áp xảy ra khi huyết áp đo tại phòng khám lớn hơn hoặc bằng 140/90 mmHg. Tiền tăng huyết áp khi nằm trong khoảng 120-139/80-89 mmHg, mức huyết áp tối ưu khi dưới 120/80 mmHg. Đây được coi là “kẻ giết người thầm lặng” vì ít gây triệu chứng và có thể dẫn đến bệnh tim, đột quỵ và suy thận. Các nguyên nhân bao gồm di truyền, chế độ ăn uống kém (nhiều muối), thiếu vận động, căng thẳng, được điều trị bằng thay đổi lối sống và thuốc.
Các loại hạt được xem là thực phẩm tốt cho tim mạch vì chứa protein, chất xơ và chất béo lành mạnh. Một số còn giàu vitamin và khoáng chất đặc biệt, có thể mang lại lợi ích cho người cao huyết áp.
Hạnh nhân
Hạnh nhân là nguồn chất xơ và protein thực vật dồi dào. Duy trì chế độ ăn giàu hai chất này có thể giảm nguy cơ cao huyết áp. Hạnh nhân còn chứa các dưỡng chất có lợi cho huyết áp gồm:
Magie: 28 g hạnh nhân cung cấp khoảng 76,5 mg magie (tương đương 18-25% nhu cầu cơ thể cần hằng ngày – DV). Magie giúp hạ huyết áp chủ yếu bằng cách hoạt động như một chất ức chế kênh canxi tự nhiên, thúc đẩy sự giãn nở của mạch máu và giảm sức cản mạch máu.
Vitamin E: 28 g hạnh nhân chứa khoảng 7,26 mg vitamin E (gần 50% DV). Vitamin E là chất chống oxy hóa giúp hạn chế tổn thương tế bào do gốc tự do – yếu tố liên quan đến bệnh tim mạch.
Hạt óc chó
Loại hạt này không chỉ giàu protein và chất xơ mà còn chứa nhiều chất béo không bão hòa đa (chất béo tốt). 28 g (khoảng 7 hạt óc chó) có khoảng 13,4 g chất béo tốt, bao gồm omega-3 và omega-6. Những chất béo này mang lại nhiều lợi ích như omega-3 có thể giảm mỡ máu và nguy cơ rối loạn nhịp tim, omega-6 hỗ trợ kiểm soát đường huyết, đồng thời cả hai đều góp phần giảm huyết áp.
Hạt dẻ cười
Hạt dẻ cười là món ăn vặt giàu dinh dưỡng như protein, chất xơ và chất béo lành mạnh – tất cả đều liên quan đến cải thiện huyết áp. Ngoài ra, loại hạt này còn chứa chất chống oxy hóa như beta-carotene, lutein, zeaxanthin và vitamin C, giúp giảm stress oxy hóa, đều là những yếu tố có thể ảnh hưởng đến huyết áp. Kali trong hạt dẻ cười có tác dụng giãn mạch máu và đào thải natri dư thừa, từ đó cải thiện huyết áp.
Hạt Brazil
Hạt Brazil là loại hạt lớn, giàu dưỡng chất tốt cho tim mạch. Khẩu phần 6 hạt cung cấp 2,1 g chất xơ, 4 g protein, 6,9 g chất béo không bão hòa đa. Chế độ ăn giàu các chất này có thể hỗ trợ kiểm soát huyết áp tốt hơn.
Đặc biệt, hạt Brazil rất giàu selen, một hạt có thể chứa 68-91 mcg selen. Ở liều lượng hợp lý, selen giúp giảm viêm và hỗ trợ sức khỏe tim mạch. Tuy nhiên, cần lưu ý không nên tiêu thụ quá 400 mcg selen mỗi ngày.
Để bổ sung hạt vào chế độ ăn, bạn có thể trộn các loại hạt vào salad, thêm hạt óc chó và chuối vào cháo yến mạch, rắc hạt dẻ cười lên trái cây tươi, kết hợp hạt với sữa chua… Lưu ý kiểm soát khẩu phần khoảng một nắm (tương đương 28 g) mỗi ngày vì chúng giàu calo có thể dẫn đến tăng cân.
Ngày 29/4, Sở Y tế tỉnh Nghệ An cho biết kết quả xét nghiệm trên các mẫu bệnh phẩm củng cố kết luận Salmonella là tác nhân gây ra vụ ngộ độc. Các bệnh nhân trú tại xã Diễn Ngọc, Diễn Thọ, Diễn Bích, Diễn Hoa (trước đây thuộc huyện Diễn Châu), lần lượt nhập viện điều trị từ ngày 17-21/4, hiện đã bình phục và xuất viện.
Salmonella là tác nhân phổ biến gây nhiễm khuẩn tiêu hóa, thường khởi phát sau 16-48 giờ với các triệu chứng như tiêu chảy, đau bụng, sốt, buồn nôn và mệt mỏi. Đa số trường hợp tự hồi phục sau 4-7 ngày, nhưng ở trẻ nhỏ, người cao tuổi hoặc suy giảm miễn dịch, bệnh có thể gây biến chứng nặng như nhiễm trùng huyết, viêm màng não, đe dọa tính mạng nếu không điều trị kịp thời.
Vi khuẩn thường tồn tại trong đường tiêu hóa động vật, lây sang người qua thực phẩm nhiễm khuẩn như trứng, thịt gia cầm chưa nấu chín, sữa chưa tiệt trùng, rau sống hoặc do nhiễm chéo trong chế biến. Trong đó, trứng và sản phẩm từ trứng là nguồn lây quan trọng, bởi vi khuẩn có thể xâm nhập vào bên trong quả trứng ngay từ buồng trứng của gà mái trước khi hình thành vỏ trứng.
Gần đây, các tỉnh phía Nam liên tiếp ghi nhận hàng trăm người nhập viện sau khi ăn bánh mì. Ngày 3 và 4/3, 79 bệnh nhân tại phường Vũng Tàu ngộ độc do ăn bánh mì vỉa hè đường Đồ Chiểu. Trước đó vài ngày, 22 người ở TP HCM và hơn 70 người tại cơ sở Hồng Ngọc 12 (Đồng Tháp) cũng gặp triệu chứng tương tự.
Cụ thể, Chính phủ quyết nghị tạm ngưng hiệu lực áp dụng Nghị định 46 quy định chi tiết thi hành một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật An toàn thực phẩm và Nghị quyết 66.13 quy định về công bố, đăng ký sản phẩm thực phẩm cho đến khi Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) và Nghị định hướng dẫn Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) có hiệu lực thi hành.
Trong thời gian 2 văn bản trên tạm ngưng hiệu lực, Nghị định số 15 ngày 2-2-2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm và các văn bản quy định, hướng dẫn thi hành tiếp tục có hiệu lực.
Theo đó, Chính phủ yêu cầu các bộ: Y tế, Công Thương, Nông nghiệp và Môi trường chủ động hướng dẫn tổ chức triển khai thi hành nghị quyết này theo lĩnh vực được phân công quản lý.
Các bộ ngành thực hiện việc tăng cường triển khai kế hoạch kiểm tra, theo dõi, giám sát định kỳ, đột xuất, giám sát, hướng dẫn, xử lý vi phạm về an toàn thực phẩm trong quá trình sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh thực phẩm. Thực hiện việc rà soát, sửa đổi, bổ sung và ban hành các quy định, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN), các hướng dẫn chuyên môn, quy trình nội bộ.
Chính phủ cũng yêu cầu các bộ ngành liên quan chủ động rà soát Luật An toàn thực phẩm năm 2010 để đề xuất các nội dung sửa đổi, bổ sung, tham gia xây dựng luật và các nghị định, văn bản hướng dẫn. Thường xuyên tuyên truyền, phổ biến các quy định về an toàn thực phẩm đến hiệp hội, doanh nghiệp và các đối tượng liên quan.
Ngoài ra Chính phủ giao Bộ Y tế kiểm tra, theo dõi, giám sát, xử lý các hành vi vi phạm về đăng ký bản công bố sản phẩm, quảng cáo, điều kiện sản xuất. Bộ Công Thương kiểm tra, rà soát, theo dõi, giám sát, xử lý vi phạm trong hoạt động kinh doanh thực phẩm, thực phẩm là hàng giả, hàng cấm, hàng nhập lậu và các hành vi gian lận thương mại.
Bộ Khoa học và Công nghệ tăng cường kiểm tra, theo dõi, giám sát hoạt động của các tổ chức đã đăng ký hoạt động công nhận (trong đó có hoạt động công nhận phòng thử nghiệm), phối hợp với các bộ để rà soát đảm bảo đầy đủ các tiêu chuẩn quốc gia về thực phẩm.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tăng cường quản lý hoạt động quảng cáo. Ngăn ngừa xảy ra ngộ độc thực phẩm đối với thức ăn đường phố và bếp ăn học đường, tập thể
UBND các tỉnh thành phối hợp hướng dẫn, tuyên truyền các quy định liên quan, tăng cường kiểm tra định kỳ; kiểm tra đột xuất, theo dõi giám sát thực phẩm là hàng giả, hàng cấm, hàng nhập lậu, ngăn ngừa xảy ra ngộ độc thực phẩm.
Thực hiện việc công khai, cập nhật thông tin về các tổ chức thử nghiệm, giám định, chứng nhận. Kết nối, chia sẻ dữ liệu với Cổng dịch vụ công quốc gia để giải quyết các thủ tục hành chính và quản lý an toàn thực phẩm.
Đối với các hồ sơ đã nộp trước ngày nghị quyết này có hiệu lực được tiếp tục giải quyết theo quy định tại Nghị định số 15. Như vậy, nghị quyết này sẽ thay thế Nghị quyết số 09 được ban hành trước đó về việc tạm ngưng hiệu lực và thời hạn áp dụng việc tạm ngưng chỉ đến ngày 15-4.
Trà xanh là đồ uống phổ biến nhờ những lợi ích cho sức khỏe như hỗ trợ tim mạch, cải thiện chức năng não và thúc đẩy chuyển hóa. Tuy nhiên, không ít người băn khoăn về lượng caffeine trong loại đồ uống này, đặc biệt là những người nhạy cảm với chất kích thích hoặc muốn kiểm soát giấc ngủ.
Caffeine là một chất kích thích hệ thần kinh trung ương, giúp tăng tỉnh táo và khả năng tập trung bằng cách ức chế adenosine - chất dẫn truyền thần kinh gây buồn ngủ trong cơ thể. Khi tiêu thụ ở mức vừa phải, caffeine có thể cải thiện trí nhớ, tâm trạng, hiệu suất vận động, đồng thời thúc đẩy quá trình trao đổi chất. Tuy nhiên, nếu dùng quá nhiều, caffeine có thể gây mất ngủ, lo âu, tim đập nhanh hoặc cảm giác bồn chồn, đặc biệt ở những người nhạy cảm.
Hiểu rõ hàm lượng caffeine trong trà xanh giúp bạn sử dụng hợp lý và an toàn hơn.
Lượng caffeine trong một tách trà xanh
Trung bình, một tách trà xanh dung tích khoảng 230-240 ml chứa từ 30 đến 50 mg caffeine. Đây là mức thấp hơn đáng kể so với cà phê, nhưng vẫn đủ để tạo ra tác động nhất định lên hệ thần kinh. Vì caffeine trong trà xanh là một thành phần tự nhiên, nên hàm lượng của nó chịu ảnh hưởng trực tiếp từ nhiều yếu tố khách quan và chủ quan trong quá trình trồng, sản xuất cũng như pha chế.
Yếu tố ảnh hưởng đến lượng caffeine trong trà xanh
Giống cây trà và điều kiện trồng trọt: Nguồn gốc và điều kiện trồng trọt ảnh hưởng lớn đến hàm lượng caffeine trong trà xanh. Cây trà trồng ở môi trường khí hậu, thổ nhưỡng khác nhau cho mức caffeine khác nhau. Đặc biệt, độ tuổi của lá khi thu hoạch là yếu tố quan trọng: lá non và búp trà thường chứa nhiều caffeine hơn, trong khi lá già có hàm lượng thấp hơn rõ rệt.
Hình thức trà (túi lọc và lá rời): Trà túi lọc thường có lượng caffeine cao hơn trà lá rời. Nguyên nhân là lá trà trong túi lọc thường được nghiền nhỏ, làm tăng diện tích tiếp xúc với nước, từ đó giúp caffeine hòa tan nhanh và nhiều hơn trong quá trình pha.
Trà xanh dạng bột (matcha): Matcha là dạng trà xanh có hàm lượng caffeine đậm đặc nhất do sử dụng toàn bộ lá trà nghiền mịn. Tuy nhiên, khi sử dụng matcha, mọi người thường dùng khẩu phần rất nhỏ (chỉ khoảng 1 g hoặc nửa thìa cà phê), nên tổng lượng caffeine trong một tách thường không cao hơn đáng kể so với trà túi lọc.
Cách pha chế: Nhiệt độ nước và thời gian hãm trà ảnh hưởng trực tiếp đến lượng caffeine. Nước càng nóng, thời gian ngâm càng lâu thì caffeine chiết xuất càng nhiều. Ngược lại, nếu muốn giảm lượng caffeine, có thể pha trà với nước mát hơn hoặc rút ngắn thời gian hãm.
So sánh với các loại đồ uống khác
So với các loại đồ uống có caffeine phổ biến, trà xanh thuộc nhóm thấp. Một tách trà xanh chứa khoảng 30-50 mg caffeine, trong khi cùng dung tích này, trà đen trung bình khoảng 55 mg và cà phê pha 102-200 mg, cà phê hòa tan là 27-173 mg, còn espresso dao động 240-720 mg. Các loại nước tăng lực cũng thường có hàm lượng caffeine cao hơn trà xanh (72-80 mg). Điều này cho thấy trà xanh là lựa chọn phù hợp cho người muốn hạn chế caffeine nhưng vẫn cần sự tỉnh táo nhẹ.
Điểm đáng chú ý của trà xanh so với cà phê là chứa L-theanine, một axit amin có khả năng làm chậm quá trình hấp thụ caffeine vào máu. Nhờ đó, trà xanh mang lại cảm giác tỉnh táo nhẹ nhàng và ổn định hơn so với cà phê, vốn có thể gây kích thích mạnh và cảm giác hồi hộp ở một số người. Sự kết hợp giữa caffeine và L-theanine còn hỗ trợ cải thiện khả năng tập trung mà không tạo áp lực lớn lên hệ thần kinh.
Liều lượng sử dụng
Caffeine trong trà xanh không đáng lo ngại đối với hầu hết mọi người nếu tiêu thụ ở mức độ hợp lý. Theo các khuyến nghị, người trưởng thành khỏe mạnh có thể tiêu thụ tối đa khoảng 400 mg caffeine mỗi ngày. Với mức này, bạn có thể uống khoảng 4-6 tách trà xanh mà vẫn nằm trong giới hạn an toàn. Trên thực tế, uống một đến hai tách mỗi ngày là phù hợp với đa số người và ít khi gây tác dụng phụ.