Sớm 27/3 – ngày mà các đại học Ivy League trả kết quả, Nguyễn Quang Anh, học sinh trường Quốc tế St. Paul Hà Nội, hồi hộp ngồi trước màn hình máy tính. Nộp hồ sơ vào 5 trường ở nhóm này, nam sinh nhận bốn thông báo trượt. Ngỡ cơ hội đã khép lại, Quang Anh bất ngờ khi mở lá thư cuối từ Đại học Cornell và thấy dòng chữ “Congratulations” (Chúc mừng).
“Em vỡ òa”, Quang Anh nói.
Cornell hiện đứng thứ 12 trên bảng xếp hạng đại học Mỹ, với tỷ lệ chấp nhận 8%, theo US News. Ngoài trường này, Quang Anh cũng đỗ Đại học Nam California (top 28) và Đại học California ở San Diego (top 29).
Có định hướng du học từ những năm cuối THCS, Quang Anh đặt mục tiêu vào lớp chuyên Anh, trường THPT chuyên Hà Nội – Amsterdam (Ams), nhưng trượt. Dù buồn vì “cú vấp” này, em không để tâm trạng ủ ê kéo dài, mà quyết định nhập học trường Quốc tế St. Paul Hà Nội, điều chỉnh lại lộ trình của mình.
Quang Anh theo học 10 môn AP (Advanced Placement) – chương trình nâng cao dành cho học sinh THPT, tập trung lĩnh vực khoa học tự nhiên như Giải tích, Khoa học môi trường, Sinh học, Vật lý và Hóa học. Kết quả, em đạt điểm tuyệt đối 5/5 ở bốn môn, còn lại đều được 4/5 điểm. Quang Anh cũng thi và đạt SAT 1540/1600, IELTS 8.0 khi còn học lớp 11.
Nam sinh nhìn nhận học các môn AP giúp sớm tiếp cận với kiến thức đại cương ở đại học, đồng thời nhận ra mình không thích Kỹ thuật cơ khí như định hướng. Thay vào đó, em thấy hứng thú với Kỹ thuật môi trường – lĩnh vực có thể ứng dụng khoa học để giải quyết các vấn đề phát triển bền vững.
Xác định được ngành học, Quang Anh có hướng hoạt động ngoại khóa rõ ràng hơn chứ không dàn trải như trước. Nam sinh tâm đắc với dự án chế tạo drone (máy bay không người lái) đo độ ô nhiễm không khí, tham gia cùng các sinh viên, giảng viên trường Đại học Thủy lợi vào giữa năm 2025.
Em kể được học lắp rắp drone, tìm hiểu về cảm biến và cách lập trình thu thập dữ liệu. Nam sinh thấy drone có thể áp dụng để giải quyết nhiều khâu trong các dự án về môi trường.
“Em không chỉ tham gia cho có, mà thực sự muốn hiểu về các giải pháp bảo vệ, phát triển môi trường bền vững”, nam sinh nói.
Những trải nghiệm thực tế trở thành chất liệu cho bài luận chính của Quang Anh. Nam sinh mở đầu bằng câu chuyện mà mình thấy thường ngày: ô nhiễm không khí ở Hà Nội, với hình ảnh bầu trời mờ đục do bụi mịn. Từ đó, Quang Anh bày tỏ khao khát được học về Kỹ thuật môi trường, để tìm ra giải pháp bảo vệ sức khỏe cộng đồng, đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững.
Giai đoạn sát hạn nộp hồ sơ là lúc Quang Anh chịu nhiều áp lực nhất, bởi ngoài học tập còn lo hoạt động ngoại khóa và viết luận, việc nào cũng “cần làm ngay”.
Em chia nhỏ công việc theo thứ tự ưu tiên, tập trung xử lý dứt điểm từng phần. Có những buổi, nam sinh chỉ viết luận, không làm thêm việc khác để tập trung.
Tự đánh giá, Quang Anh thấy điểm mạnh trong hồ sơ là “kể được một câu chuyện hay”, bài luận và hoạt động thể hiện rõ định hướng và mục tiêu khi tới Mỹ. Nam sinh cũng học thêm 4 môn AP khác, liên quan trực tiếp tới ngành Kỹ thuật môi trường để bắt nhịp chương trình đại học tốt hơn.
Thầy Gus Marantos, Cố vấn hướng nghiệp đại học, Điều phối viên chương trình AP của trường St. Paul, đánh giá Quang Anh trong nhóm học giỏi nhất trường bởi sự tò mò và kỷ luật.
“Các đại học Mỹ thích những học sinh dám thử thách bản thân. Quang Anh đã chứng minh được năng lực ở trình độ đại học ngay từ khi chưa tốt nghiệp phổ thông”, thầy Gus nhận xét.
Nhìn lại hành trình đã qua, Quang Anh cho rằng trượt trường chuyên không phải là thất bại mà là bước ngoặt quan trọng.
“Miễn là không từ bỏ, sẽ luôn có con đường khác để theo đuổi mục tiêu”, nam sinh đúc rút. Sau khi tốt nghiệp tại Mỹ, em dự định trở về Việt Nam, tham gia vào các dự án phát triển bền vững.
Ngày 21.4, một lãnh đạo UBND xã Dray Bhăng cho biết, đơn vị đã ban hành quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức cách chức đối với bà Võ Thị Hường, Hiệu trưởng Trường tiểu học Kim Châu.
Trước đó, trong quá trình thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, bà Võ Thị Hường đã để xảy ra nhiều sai phạm và đã bị xử lý kỷ luật về mặt Đảng với hình thức cách hết các chức vụ trong Đảng.
Theo quyết định, bà Hường đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn để tác động, chi phối việc chi trả, phân bổ chế độ khen thưởng theo quy định; bố trí, thanh toán chế độ giảng dạy sai quy định, thiếu khách quan; thông đồng, hợp thức hóa hồ sơ, chứng từ nhằm trục lợi cá nhân trong việc thanh toán chế độ giảng dạy của cá nhân mình.
Đáng chú ý, bà Hường chỉ đạo chỉnh sửa, giả mạo chữ viết, chữ ký trong biên bản họp phụ huynh nhằm hợp thức hóa hồ sơ, chứng từ; quản lý, sử dụng quỹ hội phụ huynh không đúng quy định.
Ngoài ra, nữ hiệu trưởng không công khai minh bạch, sai phạm trong việc vận động và sử dụng kinh phí tài trợ của phụ huynh để mua sắm trang thiết bị cho nhà trường; sử dụng con dấu vi phạm pháp luật; vi phạm về hồ sơ chứng từ kế toán, có hành vi gian dối, đối phó, gây khó khăn cho hoạt động kiểm tra, giám sát; gây mất đoàn kết nội bộ nghiêm trọng.
Theo kế hoạch tuyển sinh đầu cấp của Hà Nội, giai đoạn 2016-2018, mỗi năm thủ đô có hơn 80.000 học sinh hoàn thành chương trình THCS; từ 2019 đến nay, không năm nào dưới 100.000.
Năm 2026 được coi là mốc kỷ lục với 147.000 học sinh tốt nghiệp THCS, trong đó khoảng 130.000 em đăng ký thi lớp 10. Tuy nhiên, con số này sẽ sớm bị vượt qua, khi năm 2027 dự kiến có gần 190.000 em tốt nghiệp THCS, tính theo số học sinh vào lớp 6 năm 2023 (sinh năm Nhâm Thìn - 2012).
Với cách tính tương tự, giai đoạn 2028-2030, số học sinh lớp 9 được dự báo quanh mức 160.000, cao hơn khoảng 20.000 so với năm nay.
Còn so với thập kỷ trước, số học sinh lớp 9 của Hà Nội tăng 80.000-110.000; riêng giai đoạn 2021-2026 tăng 37.000.
Trong khi đó, từ năm 2021 đến nay, Hà Nội có thêm tổng cộng 11-13 trường THPT công lập (chưa gồm trường Việt Hùng, Minh Châu do chưa được giao chỉ tiêu). Nếu mỗi trường tuyển 15 lớp 10 (sĩ số 45) thì số suất học tăng thêm khoảng 7.400- 8.700, chỉ bằng 20-23% so với số học sinh tăng thêm. Chưa kể, không phải trường nào cũng tuyển được mức này.
"Học sinh tăng nhanh mà tốc độ xây trường thì chậm", TS. KTS Đào Ngọc Nghiêm, nguyên Giám đốc Sở Quy hoạch Kiến trúc Hà Nội, nhận định.
Chênh lệch cung - cầu khiến kỳ thi lớp 10 ở Hà Nội luôn được đánh giá căng thẳng nhất cả nước. Năm nay, tỷ lệ vào công lập chỉ 55-57%, thấp nhất trong 10 năm. Với mức gần 190.000 em năm tới, nhiều nhà giáo dự đoán tỷ lệ này còn giảm.
"Cuộc đua vào lớp 10 ở Hà Nội vẫn sẽ tiếp tục kéo dài, thậm chí tăng cao trong năm 2027", thầy Quang, hiệu trưởng một trường THCS ở ngoại thành Hà Nội, nhận định.
Theo ông Đào Ngọc Nghiêm, một trong những lý do khiến thủ đô thiếu trường THPT công lập là công tác dự báo chưa sát với mức tăng dân số thực tế. Trước đây, giới chức dự kiến Hà Nội có 9 triệu dân vào năm 2030, nhưng nay đã gần đạt ngưỡng này. Trong khi đó, quỹ đất dành cho trường học ít.
Dù vậy, ông thấy thành phố cũng đang thực hiện nhiều kế hoạch dài hạn để giải quyết việc thiếu trường.
Đầu tiên là xây trường mới. Đồ án Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm cho biết sẽ ưu tiên dành 5% quỹ đất phục vụ công cộng của các phường và đất chưa khai thác để xây trường học, tận dụng đất cải tạo chung cư cũ hoặc sau khi di dời trụ sở các cơ quan...
Ngoài ra, thành phố thử nghiệm áp dụng cơ chế đặc thù trong xây dựng trường. Trước đây, trường học không được xây quá 4 tầng, song một số ở khu vực đông dân như quận Hai Bà Trưng cũ đã xây cao hơn, như THCS Vân Hồ, THCS Lê Ngọc Hân. Gần đây, THPT Đỗ Mười được xây mới với 5 tầng nổi, sử dụng thang máy.
Một cán bộ Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội cho biết năm 2027, thành phố dự kiến có thêm bốn trường THPT công lập, nằm tại Đông Anh, Phú Diễn, Vĩnh Hưng và Tây Mỗ. Trong 5 năm tới, số trường tăng "ít nhất" 8-10, gồm 6 trường liên cấp tiên tiến dự kiến hoạt động từ năm 2029.
Trước mắt, thầy Quang khuyên phụ huynh không nên đợi tới khi con học lớp 9 mới tính chuyện thi lớp 10, mà cần lựa chọn lộ trình sớm, phù hợp. Ông cũng cho rằng phụ huynh nên cởi mở hơn với trường tư thục, học nghề, miễn sao phù hợp với năng lực của con và định hướng, tài chính của gia đình.
Đây là chỉ số phản ánh sâu sắc hành vi học tập và chất lượng giáo dục, cần được công khai như một thông lệ chính thức.
Thực tế cho thấy điểm số cao chưa chắc đồng nghĩa với chất lượng cao. Nhiều địa phương đạt điểm trung bình ấn tượng, nhưng phần lớn học sinh (HS) lại tập trung vào những môn dễ đạt điểm, trong khi các môn có độ phân hóa cao như ngoại ngữ hay khoa học tự nhiên (KHTN) có tỷ lệ dự thi thấp. Khi đó, điểm số không còn phản ánh đầy đủ năng lực HS mà bị chi phối bởi chiến lược lựa chọn môn thi.
Vì thiếu dữ liệu về tỷ lệ chọn môn nên việc so sánh giữa các địa phương dễ rơi vào tình trạng khập khiễng. Năm 2025 là một ví dụ điển hình: Nghệ An đạt điểm trung bình 6,52, xếp thứ 1; Hà Tĩnh 6,48, xếp thứ 2; Thanh Hóa 6,31, xếp thứ 7; trong khi TP.HCM đạt 6,29, xếp thứ 8. Nếu chỉ nhìn vào thứ hạng, có thể cho rằng các địa phương đứng trên có chất lượng giáo dục cao hơn TP.HCM. Tuy nhiên, TP.HCM lại có tỷ lệ HS chọn tiếng Anh và các môn KHTN cao hơn đáng kể, đồng nghĩa với việc HS phải đối mặt với đề thi có độ khó và tính phân hóa cao hơn. Vì vậy, điểm số chỉ có ý nghĩa khi được đặt trong tương quan với tỷ lệ chọn môn; nếu tách rời, mọi kết luận đều thiếu cơ sở khoa học.
Một vấn đề đáng lo ngại hơn là việc lựa chọn môn thi đang tác động ngược trở lại mục tiêu giáo dục. Chương trình GDPT mới hướng tới phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực, nhưng trong thực tế, tâm lý "chọn an toàn để đỗ" lại chi phối mạnh mẽ quyết định của HS. Hệ quả là HS có xu hướng né tránh môn khó, ưu tiên môn dễ; nhà trường và địa phương cũng vô hình trung chạy theo thành tích; từ đó làm lệch hướng mục tiêu giáo dục ngay từ khâu lựa chọn môn học.
Khi việc học bị dẫn dắt bởi thi cử, mục tiêu phát triển toàn diện khó được thực hiện trọn vẹn. Điều này thể hiện rõ qua số liệu tại Hội thảo khoa học về giáo dục STEM ngày 21.3, Bộ GD-ĐT cho biết có khoảng 60 - 65% HS lựa chọn tổ hợp khoa học xã hội (KHXH) để học ở cấp THPT. Sự mất cân đối này kéo dài sẽ dẫn đến thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực KH-CN và kỹ thuật, đi ngược yêu cầu phát triển của kỷ nguyên vươn mình.
Trong bối cảnh như trên, việc công khai tỷ lệ các môn tự chọn không nhằm phê phán hay tạo áp lực cho địa phương, trường học mà để nhìn thẳng vào thực tế. Dữ liệu này giúp nhận diện rõ hành vi học tập của HS, phát hiện xu hướng trong lựa chọn và từ đó đánh giá đúng bản chất chất lượng giáo dục. Đây chính là "tấm gương" phản chiếu trung thực hơn so với các bảng điểm đơn thuần.
Khi dữ liệu được minh bạch, xã hội sẽ hiểu đúng hơn về kết quả thi; nhà quản lý có thêm căn cứ để điều chỉnh chính sách; còn các địa phương buộc phải nhìn lại chiến lược giáo dục của mình. Quan trọng hơn, minh bạch dữ liệu tạo ra một áp lực tích cực, thúc đẩy cải tiến từ bên trong thay vì chạy theo thành tích bề nổi.
Ở tầm vĩ mô, tỷ lệ chọn môn còn là công cụ dự báo quan trọng. Nếu HS ít chọn ngoại ngữ, cần xem lại cách dạy, học và thi môn này. Nếu các môn KHTN ít được lựa chọn, đó là dấu hiệu cảnh báo thiếu hụt nguồn nhân lực STEM trong tương lai. Ngược lại, khi HS tập trung quá nhiều vào một nhóm môn, nguy cơ mất cân đối nhân lực sẽ gia tăng. Khi đó, dữ liệu không chỉ là thống kê, mà trở thành cơ sở để hoạch định và điều chỉnh chiến lược phát triển quốc gia.
Trong xu hướng chuyển từ "dạy cái gì" sang "phát triển năng lực gì", minh bạch dữ liệu là yêu cầu tất yếu. Công khai tỷ lệ chọn môn không làm xấu đi hình ảnh giáo dục, mà ngược lại góp phần củng cố niềm tin xã hội và tạo động lực cải cách. Đây cần được xem là bước đi không thể né tránh.
Đã đến lúc việc công bố tỷ lệ HS chọn các môn tự chọn ở các địa phương trở thành thông lệ hằng năm, đi kèm với công bố điểm thi và được phân tích sâu theo từng địa phương, từng trường học. Chỉ khi đó, chúng ta mới có thể trả lời một cách trung thực câu hỏi: Giáo dục đang phát triển thực chất hay chỉ đẹp trên bảng điểm?