Theo đề xuất mới nhất từ Bộ Di trú, Tị nạn và Quốc tịch Canada (IRCC), sinh viên quốc tế sẽ được đi làm ngay trong thời gian chờ gia hạn giấy phép học tập (study permit) hoặc giấy phép làm việc sau tốt nghiệp (PGWP).
Với nhóm theo học các chương trình có thực tập bắt buộc, giới chức dự kiến bỏ yêu cầu xin giấy phép làm việc thực tập (co-op work permit). Tương tự, người nước ngoài đến học nghề cũng có thể được miễn giấy phép học tập nếu đáp ứng đủ điều kiện.
IRCC cho biết những thay đổi trên nhằm xóa bỏ sự chồng chéo, giúp hệ thống hành chính vận hành hiệu quả hơn. Việc gỡ bỏ các rào cản này còn được cho là sẽ giúp các đại học thu hút thêm sinh viên quốc tế.
Đề xuất trên được đưa ra trong bối cảnh các chính sách với du học sinh của nước này thay đổi liên tục, mà nguồn lực lại hạn chế, gây tình trạng ùn tắc hồ sơ nghiêm trọng. Tính đến ngày 9/4, thời gian chờ trung bình để được cấp giấy phép làm việc ở Canada đã lên tới 247 ngày.
Canada hiện là một trong hai điểm đến du học hàng đầu thế giới, cùng với Mỹ. Trong khoảng một triệu sinh viên quốc tế năm ngoái, 41% đến từ Ấn Độ, 12% từ Trung Quốc.
Tuy nhiên, dữ liệu mới nhất do Chính phủ nước này công bố ngày 25/2 cho thấy chỉ hơn 115.000 sinh viên quốc tế mới đến nước này, giảm khoảng 177.000 người (tương đương 61%) so với năm 2024.
Còn theo IRCC, số người sở hữu giấy phép du học đã giảm gần 30%, kể từ cuối năm 2023 đến 2025, từ gần một triệu người xuống còn 690.000.
Khánh Linh (Theo IRCC, The Pie News)
Tin Gốc: https://vnexpress.net/du-hoc-sinh-canada-co-the-di-lam-khong-can-giay-phep-5061037.html

Thời gian qua, lĩnh vực báo chí - truyền thông tại VN ghi nhận tốc độ phát triển mạnh mẽ. Nếu như trước đây, đào tạo báo chí, truyền thông chủ yếu tập trung ở một số cơ sở truyền thống như Học viện Báo chí và Tuyên truyền, hay Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn (ĐH Quốc gia Hà Nội), Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn (ĐH Quốc gia TP.HCM), thì hiện nay hệ thống đào tạo đã mở rộng với rất nhiều trường đào tạo ngành báo chí như: Học viện Ngoại giao, Trường ĐH Văn hóa, Học viện Công nghệ bưu chính viễn thông, ĐH Huế, ĐH Cần Thơ, ĐH Vinh, ĐH Thái Nguyên…
Không chỉ khối trường công lập, đào tạo báo chí - truyền thông hiện ghi nhận sự tham gia mạnh mẽ của nhiều trường ĐH tư thục. Một số trường như Văn Lang, Kinh tế - Tài chính, Hoa Sen, Văn Hiến, Phenikaa, Đại Nam, Hòa Bình, Thăng Long… tập trung vào những ngành như truyền thông đa phương tiện, quan hệ công chúng, công nghệ truyền thông… góp phần mở rộng quy mô đào tạo.
Thống kê cho thấy cả nước hiện có khoảng 35 trường ĐH, học viện đào tạo các ngành thuộc nhóm báo chí - truyền thông; riêng ngành báo chí có khoảng 15 cơ sở đào tạo chuyên biệt với số lượng đào tạo mỗi năm khoảng hơn 1.000 cử nhân. Đó là chưa kể hàng ngàn sinh viên tốt nghiệp các ngành như truyền thông đa phương tiện, quan hệ công chúng cũng sẵn sàng gia nhập thị trường lao động báo chí. Số lượng chỉ tiêu tuyển sinh cũng tăng dần theo từng năm.
Đặc biệt, nhóm ngành này thu hút rất đông thí sinh đăng ký dự thi, khiến điểm đầu vào rất cao. Ở một số trường lấy mức điểm gần như tuyệt đối. Điển hình tại Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn (ĐH Quốc gia Hà Nội), tổ hợp môn ngữ văn, lịch sử, địa lý (khối C00) ngành báo chí năm 2024 lên tới mức 29,03 điểm cho thấy thí sinh phải đạt trung bình hơn 9,6 điểm mỗi môn mới trúng tuyển.
Trong khi đào tạo báo chí bùng nổ thì thực tế nhu cầu ngành báo chí - truyền thông lại có chiều hướng ngược lại.
Nhà báo Bùi Ngọc Hải, lãnh đạo một cơ quan truyền thông, cho biết trong dòng chảy chung của công cuộc sắp xếp bộ máy, việc sáp nhập các cơ quan báo chí đã tạo ra một lực lượng lớn nhân sự dư thừa. Mặt khác, những cơ quan báo chí thực sự năng động và có tiềm lực kinh tế cũng phải cắt giảm nhân sự đáng kể do sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo (AI). Ở những cơ quan này, AI tham gia rất sâu vào quá trình sản xuất, đẩy số lượng tin bài lên cao và giá thành sản xuất xuống thấp. Một số loại tin bài hiện nay được tạo ra 100% bằng AI. Vì vậy, nguồn nhân lực được tinh gọn, hiệu quả hơn.
Bên cạnh đó, thời nay, điều tạo nên sự khác biệt nội dung so với mạng xã hội chính là báo chí dữ liệu. Đại đa số các cơ quan báo chí còn đang loay hoay với hướng đi này nên lại càng mới đối với hệ thống đào tạo nghề báo. "Nói chung, việc đào tạo nghề báo hiện nay trong các trường đang trở nên quá chậm và lạc hậu so với những yêu cầu của thực tiễn. Có thể khẳng định: Chưa bao giờ nghề báo đứng trước thử thách cực đại như bây giờ", ông Bùi Ngọc Hải nói.
Bà Bùi Hương Giang, một nhà báo kỳ cựu với gần 30 năm kinh nghiệm, từng giữ các vị trí quản lý tại Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV), cho biết thực tế thị trường việc làm ngành báo chí, truyền thông hiện nay vô cùng khốc liệt và đang trong tình trạng bão hòa. Sự bùng nổ của mạng xã hội (TikTok, YouTube…) khiến báo chí chính thống phải cạnh tranh "sinh tử" với các KOL, nhà sáng tạo nội dung độc lập. Sinh viên mới ra trường non nớt về tuổi đời lẫn tuổi nghề gần như "không có cửa" để cạnh tranh.
Thêm vào đó, AI đang tạo ra một cơn chấn động trong ngành. Đồng thời, công cuộc quy hoạch, sáp nhập báo chí từ T.Ư đến địa phương cũng đang tạo ra một làn sóng cắt giảm nhân sự. Những người trụ lại phải chịu áp lực KPI khốc liệt và phải đa năng "4 trong 1" (viết bài, chụp ảnh, quay phim, dựng video).
Nhà báo Hương Giang cũng cho rằng các bạn trẻ không nên suy nghĩ theo hướng "không làm báo thì làm truyền thông doanh nghiệp". Thực tế, các tập đoàn lớn không tuyển sinh viên mới ra trường làm PR mà chỉ "trải thảm đỏ" săn đón những nhà báo gạo cội, có sẵn kinh nghiệm và mạng lưới quan hệ sâu rộng.
Nhà báo Thúy Hà, từng có 20 năm gắn bó với nghề báo, nhìn nhận "cánh cửa" bước vào nghề báo hiện nay đã thu hẹp một cách đáng báo động. Cuộc tinh giản bộ máy cộng với sức mạnh của AI dẫn đến hệ quả là các cơ quan báo chí không còn mặn mà với sinh viên mới ra trường. Những tòa soạn lớn nếu cần thì sẽ tuyển dụng những nhà báo đã có kinh nghiệm thực chiến để làm việc được ngay.
Chia sẻ về việc vì sao nhu cầu ngành báo đang có xu hướng thu hẹp nhưng quy mô đào tạo vẫn tăng và về cơ hội cho sinh viên ra trường, TS Lê Thu Hà, Phó viện trưởng Viện Báo chí - Truyền thông (Học viện Báo chí và Tuyên truyền), cho rằng cần nhìn nhận vấn đề ở góc độ rộng hơn.
Theo TS Hà, điều đang diễn ra không phải là sự thu hẹp cơ hội, mà là tái phân bổ cơ hội nghề nghiệp. Báo chí ngày nay không còn là con đường nghề nghiệp đơn tuyến. Những kỹ năng báo chí hiện đại đang trở thành nền tảng quan trọng để người học bước vào nhiều lĩnh vực khác nhau như truyền thông số, sáng tạo nội dung, phân tích dữ liệu, truyền thông doanh nghiệp hay công nghiệp văn hóa.
"Người học không nên tự giới hạn mình trong suy nghĩ rằng làm báo là phải công tác tại cơ quan báo chí. Điều quan trọng là người học xây dựng năng lực linh hoạt: có tư duy báo chí, khả năng phát hiện vấn đề, kiểm chứng thông tin và kể chuyện có trách nhiệm, đồng thời có kỹ năng công nghệ để thích ứng với nhiều môi trường khác nhau", TS Hà nhấn mạnh.
Theo TS Hà, việc sáp nhập các cơ quan báo chí không đồng nghĩa rằng cử nhân báo chí mất đi cơ hội việc làm. Ngược lại, đây là quá trình thanh lọc và nâng chuẩn nghề nghiệp, buộc người làm nghề phải tinh nhuệ hơn, đa năng hơn. Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, nhiều lĩnh vực mới đang mở ra như báo chí dữ liệu, sản xuất podcast, sáng tạo nội dung đa nền tảng, quản trị rủi ro truyền thông hay chiến lược nội dung số. Đây đều là những "mảnh đất" giàu tiềm năng cho sinh viên báo chí nếu được chuẩn bị tốt.
Tuy nhiên, TS Hà cũng cho rằng đào tạo báo chí cần phải đổi mới theo hướng gia tăng tích hợp kỹ năng số, tư duy dữ liệu, khả năng kể chuyện đa nền tảng, năng lực thích ứng nghề nghiệp cũng như tính liên ngành.
Theo nhà báo Bùi Ngọc Hải, muốn không thất nghiệp, sinh viên báo chí đừng chỉ học viết mà phải biết làm nội dung đa phương tiện trên cơ sở sử dụng tốt AI. Tức là mỗi nhà báo phải biến bản thân thành một "tòa soạn di động nhỏ". Một người đa nhiệm, sắc sảo sẽ luôn có chỗ, dù môi trường báo chí khốc liệt như thế nào. Thậm chí, không vào được cơ quan báo chí, họ cũng có thể xây dựng sự nghiệp dựa trên thương hiệu cá nhân.
Tin Gốc: Thanh Niên

Hiện phía Bắc có 2 trường sư phạm tổ chức kỳ thi đánh giá năng lực độc lập để xét tuyển vào đại học là Trường đại học Sư phạm Hà Nội và Trường đại học Sư phạm Hà Nội 2.
Không phải kỳ thi bắt buộc, nhưng khi thí sinh tham gia kỳ thi sẽ có thêm cơ hội trúng tuyển vào các nhóm ngành sư phạm.
Năm nay, Trường đại học Sư phạm Hà Nội dự kiến tuyển gần 3.000 chỉ tiêu cho nhóm ngành đào tạo giáo viên. Trong đó, sư phạm ngữ văn dẫn đầu với 450 chỉ tiêu, sư phạm toán 300, giáo dục tiểu học 215, giáo dục mầm non 190...
Các ngành giáo dục mầm non, tiểu học, sư phạm toán, tin học, vật lý, hóa đều tuyển chương trình dạy bằng tiếng Anh.
Năm ngoái điểm chuẩn trúng tuyển vào khối ngành đào tạo giáo viên của trường dao động 21,63 - 29,06, sư phạm lịch sử cao nhất.
Nhiều ngành trên 28 điểm mới đỗ như giáo dục chính trị, sư phạm toán, sư phạm vật lý, sư phạm hóa học, sư phạm ngữ văn, sư phạm địa lý...
Nhà trường lưu ý, sinh viên học các chương trình đào tạo giáo viên (sư phạm) sẽ được hỗ trợ tiền đóng học phí, chi phí sinh hoạt nếu đăng ký và cam kết phục vụ trong ngành giáo dục. Nếu sinh viên không đăng ký hưởng hỗ trợ sẽ tự túc nộp học phí theo quy định của trường.
Thí sinh trúng tuyển ngành sư phạm sinh học sau khi nhập học nếu có nguyện vọng thì có thể đăng ký dự tuyển vào học chương trình đào tạo giáo viên dạy bằng tiếng Anh: sư phạm sinh học (dạy sinh học bằng tiếng Anh).
Nhà trường sẽ cập nhật chỉ tiêu chính thức đối với các chương trình đào tạo giáo viên sau khi nhận được công văn của Bộ Giáo dục và Đào tạo về phân bổ số lượng chỉ tiêu năm 2026.
Để xét tuyển vào trường, ngoài phương thức truyền thống như xét điểm thi tốt nghiệp THPT, thí sinh có thể tham gia kỳ thi năng khiếu, hoặc kỳ thi đánh giá năng lực độc lập (kỳ thi SPT) do trường tổ chức hai đợt cuối tháng 5-2026 (ngày 23, 24-5 và 30, 31-5) để tranh suất vào nhóm ngành đào tạo giáo viên. Năm ngoái có khoảng 18.000 thí sinh đã tham dự kỳ thi này.
Dự kiến chỉ tiêu tuyển sinh, tổ hợp xét tuyển vào nhóm ngành đào tạo giáo viên của Trường đại học Sư phạm Hà Nội năm 2026 như sau:
Với nhóm ngành đào tạo giáo viên, năm nay Trường đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội tuyển 250 sinh viên cho 5 ngành, gồm: sư phạm tiếng Anh 150 sinh viên; các ngành sư phạm tiếng Trung, sư phạm tiếng Đức, sư phạm tiếng Nhật, sư phạm tiếng Hàn Quốc, tuyển 25 sinh viên/ngành.
Ngoài tuyển thêm ngành sư phạm tiếng Đức, trường còn dành 30 chỉ tiêu để đào tạo sư phạm tiếng Anh chất lượng cao. Thí sinh cần trúng tuyển nhập học các ngành tương ứng để có thể đăng ký dự tuyển vào các chương trình đào tạo chất lượng cao, tài năng.
Năm ngoái điểm chuẩn trúng tuyển vào ngành sư phạm tiếng Anh và sư phạm tiếng Trung của trường ở mức tuyệt đối 30/30, ngoài ra thí sinh cần phải đáp ứng tiêu chí phụ là đặt nguyện vọng 1 mới có thể trúng tuyển.
Dự kiến chỉ tiêu tuyển sinh các ngành sư phạm Trường đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội như sau:
Trường đại học Thủ đô Hà Nội dự kiến tuyển sinh 11 ngành đào tạo giáo viên, trong đó giáo dục tiểu học dẫn đầu với 310 chỉ tiêu, giáo dục mầm non 200 chỉ tiêu. Các ngành còn lại dự kiến tuyển 30-50 sinh viên, tùy ngành.
Năm ngoái trường công bố điểm chuẩn trúng tuyển vào các ngành đào tạo giáo viên từ 23 - 27,38 điểm, cao nhất là sư phạm lịch sử. Sư phạm toán, giáo dục công dân, sư phạm văn cùng có điểm chuẩn trên 27.
Dự kiến chỉ tiêu tuyển sinh các ngành đào tạo giáo viên năm 2026 của Trường đại học Thủ đô Hà Nội như sau:
Trường đại học Sư phạm Hà Nội 2 dự kiến tuyển hơn 2.300 chỉ tiêu đào tạo các ngành sư phạm, trong đó nhóm ngành giáo dục mầm non, giáo dục tiểu học, sư phạm toán, sư phạm văn, sư phạm khoa học tự nhiên dẫn đầu chỉ tiêu.
Năm ngoái, Trường đại học Sư phạm Hà Nội 2 lấy điểm chuẩn từ 20,25 - 28,52, ngành sư phạm ngữ văn cao nhất, quản lý thể dục thể thao thấp nhất.
Kỳ thi đánh giá độc lập lấy kết quả xét tuyển vào đại học (SP2E) do Trường đại học Sư phạm Hà Nội 2 tổ chức sẽ diễn ra trong 2 ngày 16 và 17-5. Đây là năm thứ hai nhà trường tổ chức kỳ thi này.
Hiện có 3 trường đại học sử dụng kết quả bài thi làm căn cứ xét tuyển vào đại học, gồm: Trường đại học Sư phạm Hà Nội 2, Trường đại học Sư phạm TP.HCM, Phân hiệu Đại học Thái Nguyên tại Hà Giang.
Dự kiến chỉ tiêu tuyển sinh các ngành đào tạo giáo viên năm 2026 của Trường đại học Sư phạm Hà Nội 2 như sau:
Trường đại học Sư phạm nghệ thuật Trung ương dự kiến tuyển gần 2.000 chỉ tiêu đại học chính quy, trong đó ngành sư phạm âm nhạc dẫn đầu với 480 chỉ tiêu, sư phạm mỹ thuật 400 chỉ tiêu.
Để xét tuyển vào các ngành đào tạo giáo viên của trường, thí sinh phải tham gia kỳ thi năng khiếu do trường tổ chức trong hai đợt thi vào giữa tháng 5 hoặc giữa tháng 6-2026.
Dự kiến chỉ tiêu tuyển sinh các ngành đào tạo giáo viên năm 2026 của Trường đại học Sư phạm nghệ thuật Trung ương như sau:
Dự kiến chỉ tiêu tuyển sinh các ngành đào tạo giáo viên năm 2026 của Trường đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên như sau:
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Đối sánh môn toán giai đoạn 2021-2025 cho thấy chất lượng có sự phân hóa rõ giữa các vùng, miền, thậm chí trong nhóm thành phố trực thuộc T.Ư cũng tồn tại khoảng cách đáng kể. Điều này đặt ra yêu cầu phải nhìn nhận sâu hơn, không chỉ ở điểm thi mà ở cấu trúc chất lượng dạy học và các yếu tố hệ thống phía sau.
Trong thời đại công nghiệp 4.0, khi trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn chi phối đời sống, môn toán giữ vai trò nền tảng trong giáo dục phổ thông (GDPT). Không chỉ dừng ở tính toán, toán học rèn luyện cho học sinh tư duy logic, khả năng phân tích và giải quyết vấn đề – những năng lực cốt lõi của tư duy khoa học và tư duy thuật toán.
Toán học là ngôn ngữ của khoa học – công nghệ, hiện diện trong nhiều lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu, kỹ thuật, tài chính hay y học. Vì vậy, chất lượng dạy và học toán ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành nguồn nhân lực công nghệ, đặc biệt là AI.
Nhiều quốc gia đã đổi mới mạnh mẽ dạy và học toán theo hướng phát triển năng lực: giảm ghi nhớ máy móc, tăng cường giải quyết vấn đề thực tiễn, mô hình hóa, tư duy thống kê và ứng dụng công nghệ số. Học sinh được khuyến khích khám phá, thảo luận, trình bày nhiều cách giải, làm dự án thực tiễn, thay vì học công thức, giải đề.
Chương trình GDPT 2018 đã tiếp cận theo hướng này. Tuy nhiên, quá trình triển khai còn phụ thuộc lớn vào năng lực giáo viên, điều kiện dạy học và cách thức kiểm tra, đánh giá. Chính vì vậy, kết quả thi toán còn là "tấm gương" của toàn bộ hệ thống giáo dục.
Trong kỷ nguyên số, toán là nền tảng để làm chủ công nghệ và giữ vai trò then chốt trong các kỳ thi, đặc biệt kỳ thi tốt nghiệp THPT. Tuy nhiên, so sánh toàn quốc chưa phản ánh rõ khác biệt vùng miền, nên cần đối sánh theo nhóm địa phương có điều kiện tương đồng.
Trước ngày 1.7.2025, Việt Nam có 6 thành phố trực thuộc T.Ư. Sau mốc này, có thêm 6 tỉnh được sáp nhập vào 6 thành phố. Vì vậy, khi phân tích kết quả môn toán giai đoạn 2021–2025, cần đặt trong bối cảnh nhóm 12 địa phương, để bảo đảm tính hợp lý thực tiễn phát triển giáo dục.
Điểm trung bình của nhóm được tính bằng trung bình cộng điểm toán của 12 địa phương theo từng năm, trong khi mức trung bình cả nước là kết quả của 63 địa phương. Kết quả cho thấy điểm trung bình của nhóm luôn cao hơn mặt bằng chung cả nước.
Tính bình quân 5 năm, mỗi địa phương được lấy điểm trung bình của 5 năm liên tiếp. Nhóm 12 địa phương đạt mức 6,24 điểm, cao hơn mức 5,93 của cả nước khoảng 0,3 điểm. Dù không lớn, khoảng cách này cho thấy đây là nhóm có chất lượng dạy và học toán khá tốt, phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội và đội ngũ giáo viên ở các đô thị, địa phương phát triển.
Tuy nhiên, chênh lệch trong nhóm vẫn rõ rệt. So với mức trung bình cả nước, có 10 địa phương cao hơn, trong khi Hậu Giang và Sóc Trăng thấp hơn. Nếu so với mức trung bình của nhóm, chỉ 7 địa phương vượt lên, chủ yếu là các đô thị lớn và địa phương có điều kiện kinh tế tốt như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, TP.HCM và các tỉnh công nghiệp. Những nơi này có hệ thống trường học đa dạng, môi trường cạnh tranh và khả năng tiếp cận giáo dục STEM (khoa học-công nghệ-kỹ thuật-toán học) tốt hơn.
Ngược lại, các địa phương như Huế, Cần Thơ, Quảng Nam, Hậu Giang, Sóc Trăng có điểm thấp hơn trung bình nhóm, chủ yếu do còn nhiều khu vực khó khăn, điều kiện dạy và học hạn chế.
Khoảng cách giữa địa phương cao nhất và thấp nhất lên tới hơn 1,2 điểm, phản ánh rõ sự khác biệt về điều kiện phát triển và chất lượng giáo dục. Nhìn chung, các vùng kinh tế phát triển vẫn có lợi thế rõ rệt, trong khi một số khu vực còn nhiều thách thức. Dữ liệu điểm và thứ hạng môn toán của 12 địa phương thể hiện ở bảng sau.
Nếu đặt kết quả môn toán năm 2025 của 6 thành phố trực thuộc T.Ư (mới) trong tương quan xếp hạng với 34 tỉnh, thành phố mới sau sáp nhập, có thể rút ra một số nhận định tổng quan sau.
Trước hết, phần lớn các thành phố trực thuộc trung ương đều nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước về môn toán. Hà Nội đạt 5,29 điểm (hạng 2/34), TP.HCM 5,26 điểm (hạng 3/34), và Hải Phòng 5,13 điểm (hạng 4/34). Ba đô thị lớn này đều thuộc top 5, cho thấy lợi thế rõ rệt về dạy và học toán.
Tiếp theo là Huế (4,90 điểm, hạng 7) và Đà Nẵng (4,89 điểm, hạng 8), tiếp tục khẳng định mặt bằng dạy học toán ở các đô thị lớn nhìn chung vẫn ở mức cao so với cả nước.
Trong khi đó, Cần Thơ chỉ đạt 4,32 điểm, xếp hạng 27/34, thấp hơn đáng kể. Kết quả này phản ánh phần nào thực trạng chung của khu vực đồng bằng sông Cửu Long, nơi điểm toán thường thấp hơn nhiều vùng khác.
Nhìn tổng thể, 5/6 thành phố trực thuộc T.Ư nằm trong top 10 toàn quốc về môn toán năm 2025, cho thấy lợi thế của đô thị lớn về điều kiện giáo dục, đội ngũ và môi trường học tập. Tuy nhiên, khoảng cách giữa Cần Thơ và các thành phố còn lại cũng cho thấy chênh lệch vùng miền vẫn tồn tại.
Đáng lưu ý, sau sáp nhập, sự chênh lệch này có thể bị "che lấp" trong số liệu trung bình. Nếu thiếu phân tích chi tiết theo vùng, nguy cơ bỏ sót các "vùng trũng" giáo dục là rất lớn.
Để lý giải sự khác biệt trên, cần nhìn từ 3 cấp độ: lớp học, nhà trường và hệ thống.
Ở cấp lớp học, phương pháp dạy học vẫn là yếu tố quyết định. Nhiều nơi vẫn nặng về luyện tập dạng bài, trong khi yêu cầu mới là phát triển tư duy và năng lực. Khi đề thi thay đổi, những hạn chế này bộc lộ rõ và những học sinh yếu sẽ mất tự tin khi gặp dạng đề thi mới.
Ở cấp nhà trường, sự khác biệt về điều kiện cơ sở vật chất, quy mô lớp học, và văn hóa học tập ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả. Những trường có môi trường học tập tích cực, chú trọng STEM thường có kết quả tốt hơn.
Ở cấp hệ thống, việc phân bổ giáo viên, đầu tư nguồn lực và chính sách hỗ trợ vùng khó khăn đóng vai trò then chốt. Những địa phương thiếu giáo viên toán giỏi thường gặp khó khăn kéo dài, khó cải thiện trong ngắn hạn.

