Trong quản trị quốc gia, những tháng ngày đầu của một Chính phủ nhiệm kỳ mới là thời gian xác lập cách thức vận hành. Đó là lúc Chính phủ trả lời những câu hỏi căn bản: sẽ quản lý hay kiến tạo, kiểm soát hay trao quyền, tập trung hay phân cấp?
Lịch sử cải cách cho thấy, những chính phủ thành công không phải là những chính phủ ban hành nhiều chính sách nhất, mà là những chính phủ định hình được “hệ điều hành” tốt cho cả nhiệm kỳ ngay từ những bước đi đầu tiên.
Trong bối cảnh đó, việc Chính phủ ban hành đồng loạt 8 nghị quyết về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh ngay trong tháng đầu tiên của nhiệm kỳ không chỉ là một quyết sách hành chính thông thường. Đó là một tuyên bố chính trị – thể chế về cách Chính phủ lựa chọn hành động.
Điều này hoàn toàn phù hợp với cam kết khi phát biểu nhậm chức của Thủ tướng Lê Minh Hưng: xây dựng một Chính phủ hiện đại, kiến tạo và phục vụ nhân dân, đoàn kết một lòng dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng mà hạt nhân là đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.
Một quyết định chưa từng có: quy mô, tốc độ và cách tiếp cận điểm gây ấn tượng mạnh nhất trước hết là quy mô cải cách.
Theo các nghị quyết được ban hành, Chính phủ tiến hành sửa đổi, bổ sung đồng bộ 163 văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có tới 155 nghị định – một con số chưa từng có trong các đợt cải cách trước đây.
Trên cơ sở đó, 184 thủ tục hành chính được bãi bỏ, 134 thủ tục được phân cấp, và 349 thủ tục được đơn giản hóa. Không dừng lại ở đó, Chính phủ còn quyết định bãi bỏ 890 điều kiện kinh doanh, đồng thời đưa tỷ lệ thủ tục hành chính do cấp Trung ương trực tiếp giải quyết xuống còn khoảng 27%.
Mục tiêu đặt ra là giảm hơn 50% thời gian và chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp.
Những con số này không chỉ phản ánh quy mô, mà còn cho thấy một cách tiếp cận mới: đổi mới một cách căn cơ và có hệ thống, thay vì điều chỉnh từng phần nhỏ lẻ như trước đây.
Điểm thứ hai là tốc độ triển khai. Việc ban hành đồng loạt 8 nghị quyết ngay trong tháng đầu nhiệm kỳ cho thấy đây không phải là những quyết định mang tính thử nghiệm, mà là những lựa chọn đã được cân nhắc kỹ lưỡng và triển khai với quyết tâm cao.
Trong quản trị công, tốc độ không đơn thuần là yếu tố kỹ thuật. Khi cải cách được thực hiện nhanh và đồng bộ, đó là dấu hiệu của một chính phủ không chỉ có ý chí, mà còn có năng lực hành động.
Điểm thứ ba, và quan trọng hơn cả, là cách tiếp cận. Những gì diễn ra không chỉ là “cắt giảm thủ tục”, mà là thiết kế lại cách vận hành của hệ thống hành chính. Chính phủ không chỉ giảm số lượng quy định, mà đang thay đổi logic vận hành của quyền lực nhà nước một cách thực chất và hiệu quả.
Nếu nhìn sâu vào nội dung của 8 nghị quyết, có thể thấy rõ ba chuyển dịch lớn – ba lựa chọn mang tính chiến lược của Chính phủ trong cách thức vận hành.
Trong một thời gian dài, hệ thống quản lý của chúng ta vận hành theo logic tiền kiểm: phải xin phép trước khi làm, phải được chấp thuận trước khi triển khai. Cách tiếp cận này giúp giảm rủi ro, nhưng lại tạo ra chi phí tuân thủ lớn, làm chậm dòng chảy của nền kinh tế.
Với 8 nghị quyết lần này, việc bãi bỏ hàng loạt điều kiện kinh doanh và thủ tục tiền kiểm cho thấy một chuyển dịch rõ ràng: từ kiểm soát trước sang quản trị rủi ro trong quá trình vận hành.
Nhà nước không còn đứng ở vị trí “giữ cửa”, mà chuyển sang vai trò thiết lập tiêu chuẩn, giám sát và xử lý vi phạm trên cơ sở dữ liệu và quy định của pháp luật. Đây là một thay đổi không chỉ về công cụ, mà về triết lý quản lý. Không phải kiểm soát trước để tránh rủi ro, mà là quản lý rủi ro một cách chủ động và linh hoạt.
Một trong những nội dung nổi bật của các nghị quyết là việc phân cấp 134 thủ tục hành chính, qua đó giảm mạnh tỉ lệ thủ tục do cấp Trung ương trực tiếp giải quyết.
Điều này cho thấy một lựa chọn rõ ràng: Trung ương không còn ôm việc, mà chuyển sang tập trung vào thiết kế thể chế và giám sát, trong khi trao quyền thực thi cho địa phương.
Phân quyền, nếu chỉ dừng lại ở giao việc, sẽ không tạo ra thay đổi thực chất. Nhưng nếu đi kèm với trách nhiệm giải trình và đo lường kết quả, nó sẽ trở thành động lực để nâng cao hiệu quả quản trị.
Ở đây, điều đáng chú ý không phải chỉ là “phân cấp bao nhiêu”, mà là cách phân quyền trong hệ thống hành chính – một yếu tố cốt lõi của năng lực thực thi quốc gia.
Từ kiểm soát sang kiến tạo: Định vị lại vai trò của Nhà nước
Có lẽ chuyển dịch sâu sắc nhất nằm ở cách Chính phủ định vị lại vai trò của mình đối với nền kinh tế.
Khi 890 điều kiện kinh doanh được bãi bỏ, thông điệp gửi đi là rất rõ: doanh nghiệp không còn là đối tượng cần được kiểm soát chặt chẽ, mà là chủ thể cần được trao quyền để phát triển. Nhà nước không đứng ở vị trí “cấp phép để cho tồn tại”, mà chuyển sang vai trò kiến tạo môi trường để phát triển.
Đây chính là bước chuyển từ một nền hành chính quản lý sang một nền hành chính kiến tạo – một chuyển dịch đã được nhắc đến nhiều năm, nhưng chỉ thực sự trở nên rõ nét khi được cụ thể hóa bằng những quyết định có quy mô lớn như lần này.
Những chuyển dịch nói trên không chỉ mang ý nghĩa về mặt thể chế, mà còn có tác động trực tiếp đến người dân, doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế.
Với doanh nghiệp, việc cắt giảm thủ tục và điều kiện kinh doanh đồng nghĩa với việc giảm đáng kể chi phí tuân thủ – không chỉ là chi phí chính thức, mà cả những chi phí không chính thức vốn là một gánh nặng lâu nay.
Quy trình nhanh hơn, rõ ràng hơn cũng giúp doanh nghiệp tăng tốc độ ra quyết định, nâng cao khả năng cạnh tranh.
Với người dân, việc giảm thủ tục và giảm tiếp xúc trực tiếp với cơ quan hành chính sẽ góp phần giảm rủi ro nhũng nhiễu, đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ công.
Với nền kinh tế, ý nghĩa lớn nhất là khơi thông dòng chảy nguồn lực. Khi các rào cản thủ tục được dỡ bỏ, nguồn vốn, ý tưởng và năng lực sản xuất có thể vận hành nhanh hơn, hiệu quả hơn.
Đây chính là điều kiện cần để đạt được các mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn tới. Quan trọng hơn, những quyết định này góp phần tái thiết niềm tin – niềm tin của doanh nghiệp vào môi trường kinh doanh, niềm tin của người dân vào hiệu quả của bộ máy hành chính.
Đúng như Thủ tướng Lê Minh Hưng đã phát biểu khi nhậm chức: tôi ý thức sâu sắc rằng, lòng tin của nhân dân là nguồn lực lớn nhất của quốc gia.
Thực tế, trong tất cả các cuộc làm việc với các bộ ngành sau khi nhậm chức, Thủ tướng luôn nhấn mạnh yêu cầu tập trung, dứt khoát cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh.
Ông nêu rõ, đây là một trong những giải pháp nhanh nhất, ngắn nhất để hoàn thiện thể chế, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, tác động trực tiếp ngay tới tăng trưởng với mục tiêu 2 con số và quan trọng hơn cả, sẽ giúp củng cố niềm tin của người dân và doanh nghiệp.
Thách thức của lựa chọn: cải cách thực chất tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận một cách thẳng thắn rằng, lựa chọn này đi kèm với những thách thức không nhỏ.
Thứ nhất, chuyển sang hậu kiểm đòi hỏi một hệ thống dữ liệu và năng lực giám sát hiện đại. Nếu không có công cụ phù hợp, việc giảm tiền kiểm có thể dẫn đến rủi ro trong quản lý.
Thứ hai, phân quyền đòi hỏi phải thiết lập cơ chế kiểm soát quyền lực mới. Nếu không, có thể xuất hiện tình trạng buông lỏng hoặc “đẩy trách nhiệm” giữa các cấp.
Thứ ba, và quan trọng nhất, là thay đổi tư duy của bộ máy. Nếu tư duy quản lý cũ vẫn tồn tại, thì cải cách trên giấy có thể không chuyển hóa thành thay đổi trong thực tế.
Thủ tướng Lê Minh Hưng đã chỉ rõ, điều quan trọng là tinh thần chỉ đạo của Trung ương, Bộ Chính trị và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về đổi mới tư duy phải được quán triệt không chỉ ở cấp lãnh đạo các bộ hay địa phương, mà phải xuống tới cấp các vụ cục, đơn vị trực thuộc, cấp thực thi.
Bởi lẽ, cải cách lớn nhất không nằm ở văn bản, mà nằm ở cách bộ máy thực thi nó mỗi ngày. Một lựa chọn đã được xác lập những tháng ngày đầu không quyết định toàn bộ nhiệm kỳ, nhưng nó quyết định hướng đi của Chính phủ.
Với việc ban hành 8 nghị quyết lần này, Chính phủ đã phát đi một tín hiệu rõ ràng: lựa chọn con đường cải cách thực chất, trao quyền và kiến tạo phát triển.
Với quyết tâm mạnh mẽ, những quyết định này không chỉ làm cho thủ tục nhanh hơn, chi phí thấp hơn. Quan trọng hơn, nó có thể làm cho nền kinh tế vận hành theo một logic hoàn toàn khác – logic của niềm tin, của hiệu quả và của tăng trưởng. Chính phủ đã cam kết là hành động, nỗ lực hết sức mình để kiến tạo cho sự phát triển, đem đến cuộc sống tốt đẹp hơn cho người dân.
Thủ tướng Lê Minh Hưng lãnh đạo, quản lý toàn diện mọi hoạt động thuộc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ.
Người đứng đầu Chính phủ trực tiếp chỉ đạo, điều hành lĩnh vực chiến lược quốc phòng, an ninh quốc gia và đối ngoại; chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước; chiến lược, chính sách tài chính, tín dụng, tiền tệ quốc gia; định hướng sử dụng ngân sách nhà nước; ngoại giao và quan hệ đối ngoại.
Thủ tướng cũng trực tiếp chỉ đạo công tác tổ chức bộ máy; cải cách hành chính; địa giới hành chính; những vấn đề chung về công tác thi đua, khen thưởng; quan hệ phối hợp giữa Chính phủ với các cơ quan Đảng, Quốc hội, Chủ tịch nước, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội; chỉ đạo chung về lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Thủ tướng phụ trách Bộ Công an, Ngoại giao và làm Chủ tịch Ủy ban Chỉ đạo nhà nước về Biển Đông - Hải đảo; Chủ tịch Ủy ban quốc gia về chuyển đổi số; Chủ tịch Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Trung ương; Trưởng Ban Chỉ đạo Nhà nước các chương trình, công trình, dự án trọng điểm quốc gia; Trưởng Ban Chỉ đạo An toàn, an ninh mạng quốc gia; Trưởng Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ; Chủ tịch một số Hội đồng, Ủy ban quốc gia và Trưởng các Ban Chỉ đạo quan trọng khác.
So với nhiệm kỳ trước, Thủ tướng vẫn phụ trách các lĩnh vực trọng yếu thuộc thẩm quyền của Chính phủ. Điểm khác là nhiệm kỳ trước Thủ tướng phụ trách Bộ Quốc phòng, Công an và 3 cơ quan truyền thông, nay Thủ tướng phụ trách Bộ Công an và Ngoại giao.
Phó thủ tướng Phạm Gia Túc được phân công làm Phó thủ tướng Thường trực. Ông Túc được giao theo dõi lĩnh vực công nghiệp; thương mại - xuất nhập khẩu; dự trữ và cung ứng xăng dầu, dịch vụ logistics; bảo đảm năng lượng, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; giao thông vận tải; bảo đảm trật tự, an toàn giao thông; xây dựng; các công trình trọng điểm quốc gia, các dự án đầu tư xây dựng cơ bản thuộc thẩm quyền theo lĩnh vực được phân công.
Các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất; quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh; cơ chế, chính sách chung về đấu thầu, cũng do Phó thủ tướng Phạm Gia Túc phụ trách.
Đồng thời, ông phụ trách lĩnh vực phòng, chống tội phạm; đặc xá; phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại; hội nhập quốc tế; theo dõi, chỉ đạo đàm phán và thực hiện các cam kết quốc tế song phương, đa phương.
Ông chỉ đạo chung về xử lý, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc liên quan đến các dự án tồn đọng kéo dài trên phạm vi cả nước; trực tiếp chỉ đạo xử lý, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc liên quan đến các dự án trong lĩnh vực năng lượng, hạ tầng và các lĩnh vực được giao phụ trách; phối hợp công tác giữa Chính phủ với Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Phó thủ tướng Phạm Gia Túc chỉ đạo các Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng, Văn phòng Chính phủ; một số lĩnh vực của Bộ Công an theo phân công của Thủ tướng.
Khi Thủ tướng vắng mặt hoặc được ủy nhiệm, Phó thủ tướng Thường trực thay mặt Thủ tướng chỉ đạo các công việc của Chính phủ.
Lĩnh vực ông tác của Phó thủ tướng thường trực Phạm Gia Túc được mở rộng hơn so với người tiền nhiệm Nguyễn Hòa Bình hồi cuối nhiệm kỳ trước. Ông Túc không chỉ phụ trách các vấn đề về xử lý dự án tồn đọng kéo dài, chống tội phạm mà còn phụ trách hầu hết các lĩnh vực về Công Thương, giao thông vận tải, xây dựng.
Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng Phan Văn Giang phụ trách công tác bảo đảm quốc phòng, an ninh; công tác biên giới và các vấn đề Biển Đông - Hải đảo; viện trợ phi Chính phủ nước ngoài, các tổ chức phi Chính phủ nước ngoài; quan hệ của Việt Nam với các tổ chức quốc tế và khu vực; công tác người Việt Nam ở nước ngoài và các vấn đề người nước ngoài ở Việt Nam; các vấn đề về nhân quyền.
Nhiệm kỳ trước, Bộ Quốc phòng do Thủ tướng trực tiếp phụ trách, nay do Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng Phan Văn Giang phụ trách. Ông Giang còn đảm nhiệm một số lĩnh vực của Bộ Ngoại giao theo sự phân công của Thủ tướng.
Phó thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà phụ trách những vấn đề thường xuyên về thi đua - khen thưởng, cải cách hành chính; lao động, việc làm, người có công, bình đẳng giới; chính sách tiền lương và bảo hiểm xã hội; y tế, dân số, gia đình và trẻ em; các vấn đề xã hội; công tác quản lý về cai nghiện ma túy; văn hóa; du lịch; thể dục, thể thao; truyền thông, báo chí, xuất bản.
Bà Trà theo dõi việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy đến năm 2030, Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025-2035, Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển giai đoạn 2026-2035.
Lĩnh vực công tác của bà đã mở rộng hơn so với hồi cuối nhiệm kỳ trước. Trước đây, bà phụ trách Bộ Nội vụ, nay đảm nhiệm thêm Bộ Y tế, Văn hóa Thể thao và Du lịch.
Phó thủ tướng Hồ Quốc Dũng đảm nhiệm lĩnh vực dân tộc, tôn giáo; việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030.
Ông Dũng trực tiếp phụ trách khoa học và công nghệ; đổi mới sáng tạo, phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trên phạm vi cả nước và ở nước ngoài; chuyển đổi số; các nội dung liên quan đến công nghiệp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo; lĩnh vực tài nguyên và môi trường; biến đổi khí hậu; nông nghiệp và phát triển nông thôn, xây dựng nông thôn mới; phòng, chống lụt bão, tìm kiếm cứu nạn.
Ông trực tiếp chỉ đạo Bộ Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Dân tộc và Tôn giáo.
Lĩnh vực công tác của Phó thủ tướng Hồ Quốc Dũng có nhiều thay đổi so với cuối nhiệm kỳ trước - khi ông phụ trách lĩnh vực xây dựng thể chế và xử lý tranh chấp, khiếu kiện quốc tế.
Phó thủ tướng Nguyễn Văn Thắng được giao phụ trách lĩnh vực kế hoạch đầu tư; dự báo và chính sách điều hành kinh tế vĩ mô; tài chính, giá cả; tiền tệ, ngân hàng; thị trường vốn, thị trường chứng khoán; các nguồn đầu tư tài chính; dự trữ Nhà nước.
Ngoài ra, ông cũng phụ trách lĩnh vực chi ngân sách nhà nước, sử dụng dự phòng ngân sách nhà nước, Quỹ dự trữ tài chính, Quỹ dự trữ ngoại hối và các Quỹ khác của Nhà nước; phát hành công trái, trái phiếu Chính phủ; sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước; phát triển các loại hình doanh nghiệp. Kinh tế tập thể, hợp tác xã; cơ chế, chính sách chung về quản lý tài sản công; hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vận động vốn vay ưu đãi; đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài; các nội dung liên quan đến Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam; trực tiếp chỉ đạo xử lý, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc liên quan đến các dự án trong lĩnh vực đất đai và các lĩnh vực được giao phụ trách.
Phó thủ tướng Nguyễn Văn Thắng theo dõi Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội, Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Bảo hiểm tiền gửi.
Phó thủ tướng Lê Tiến Châu đảm nhiệm lĩnh vực xây dựng thể chế, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; xử lý tranh chấp, khiếu kiện quốc tế; cải cách tư pháp; giáo dục, đào tạo; giáo dục nghề nghiệp; phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026-2035.
Theo nghị quyết, Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp các cơ quan liên quan tiếp thu ý kiến thành viên Chính phủ, hoàn thiện tờ trình, đề án và dự thảo nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc thành lập 10 phường, cùng dự thảo nghị quyết của Quốc hội về việc thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương.
Bộ trưởng Nội vụ được giao thừa ủy quyền Thủ tướng ký tờ trình, đề án và báo cáo tiếp thu, giải trình, chỉnh lý hồ sơ. Các vấn đề phát sinh vượt thẩm quyền thì báo cáo Thủ tướng xem xét, quyết định.
Trước đó ngày 25/3, Hội nghị Trung ương 2 khóa 14 đã thống nhất chủ trương thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương, giao Chính phủ hoàn thiện hồ sơ để trình Quốc hội khóa 16 xem xét, quyết định tại kỳ họp thứ nhất.
Đồng Nai nằm ở vùng Đông Nam Bộ, có lịch sử hình thành hơn 325 năm. Sau khi sáp nhập với Bình Phước, địa phương có diện tích hơn 12.000 km2, dân số khoảng 4,5 triệu, trở thành cực tăng trưởng năng động của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
Liền kề và liên kết trực tiếp với siêu đô thị TP HCM, Đồng Nai còn là điểm giao thoa của nhiều hành lang kinh tế và trục kết nối chiến lược, giữ vai trò cầu nối với Tây Nguyên, Nam Trung Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long.
Năm 2025, GRDP của Đồng Nai tăng 9,63%, vượt 1,13% so với chỉ tiêu Chính phủ giao. Quy mô GRDP theo giá hiện hành đạt 677.932 tỷ đồng, tăng 84.468 tỷ đồng; GRDP bình quân đầu người đạt khoảng 150,86 triệu đồng.
Đồng Nai hội tụ đầy đủ các loại hình giao thông gồm đường bộ, đường sắt, đường thủy và cảng biển. Khi sân bay Long Thành đi vào hoạt động, địa phương sẽ hình thành mạng lưới kết nối đa phương thức, tăng khả năng giao thương và kết nối chuỗi cung ứng.
Hiện Đồng Nai có 89 khu công nghiệp được quy hoạch, thu hút gần 2.300 dự án từ 45 quốc gia và vùng lãnh thổ, với tổng vốn đăng ký hơn 44 tỷ USD. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp - xây dựng chiếm gần 55% GRDP, dịch vụ 26%, nông - lâm - thủy sản hơn 12%.
Hiện cả nước có 6 thành phố trực thuộc Trung ương gồm Hà Nội, TP HCM, Hải Phòng, Đà Nẵng, Huế và Cần Thơ.
Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy Đồng Nai đã có văn bản gửi Đảng ủy UBND thành phố Đồng Nai; Hội đồng tư vấn đặt tên, đổi tên đường, phố và công trình công cộng trên địa bàn thành phố Đồng Nai về đề xuất đặt tên đường cho 5 đại lộ trên địa bàn.
Cụ thể, đề xuất đặt tên Trương Văn Bang cho tuyến đường ven sông Đồng Nai, đoạn từ cầu Hóa An đến phường Tân Triều (dài hơn 5 km). Trương Văn Bang là nhà cách mạng, Bí thư lâm thời đầu tiên của Tỉnh ủy Biên Hòa, người có nhiều đóng góp cho phong trào cách mạng tại địa phương.
Đề xuất đặt tên Phạm Hùng cho tuyến đường ven sông Cái từ đường Hà Huy Giáp đến đường Trần Quốc Toản (dài 4,6 km). Phạm Hùng là nhà lãnh đạo có vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến trường miền Nam, trực tiếp chỉ đạo khu vực Đông Nam bộ trong giai đoạn kháng chiến.
Đối với tuyến đường xuyên cù lao Phố (có 2 nhánh). Đối với nhánh nối Võ Thị Sáu với cầu An Hảo (dài 3,72 km) được đề xuất đặt tên Nguyễn Văn Linh.
Nguyễn Văn Linh là người khởi xướng công cuộc đổi mới, đồng thời những chủ trương phát triển kinh tế của giai đoạn này đã tạo nền tảng để Đồng Nai bứt phá mạnh mẽ về công nghiệp, hình thành các khu công nghiệp lớn và trở thành một trong những địa phương thu hút đầu tư hàng đầu cả nước.
Nhánh còn lại (dài 1,72 km, từ vòng xuyến giao với nhánh 1 đến khu vực cầu Bửu Hòa) được đề xuất đặt tên Minh Mạng.
Vua Minh Mạng là người đổi tên trấn Biên Hòa thành tỉnh Biên Hòa, xác lập đơn vị hành chính cấp tỉnh trực thuộc Trung ương. Đây là dấu mốc có ý nghĩa đặc biệt trong tiến trình phát triển của vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai.
Đề xuất đặt tên Đại lộ Nguyễn Hữu Cảnh cho tuyến hương lộ 2 (dài khoảng 15 km, nối quốc lộ 51 cao tốc TP.HCM - Long Thành). Nguyễn Hữu Cảnh là người có công mở cõi phương Nam, đặt nền móng hành chính đầu tiên cho vùng đất Trấn Biên - Biên Hòa - Đồng Nai.
Bên cạnh đó, Đồng Nai cũng đề xuất đặt tên cho 2 tuyến đường kết nối sân bay Long Thành (T1, T2). Theo đó, tuyến T1 (dài 3,86 km từ bùng binh Bà Ký Long Phước đến sân bay) được đề xuất đặt tên Võ Văn Kiệt. Theo Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy Đồng Nai, tên gọi này gắn với dấu ấn của cố Thủ tướng trong tư duy phát triển hạ tầng, công nghiệp hóa vùng Đông Nam bộ và định hướng quy hoạch hệ thống cảng hàng không quốc gia.
Tuyến T2 (dài khoảng 3,5 km, từ trung tâm phường Long Thành đến sân bay) được đề xuất mang tên Phan Văn Khải. Cố Thủ tướng Phan Văn Khải được đánh giá là người có đóng góp lớn cho tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam, đồng thời là người ký quyết định phê duyệt quy hoạch phát triển hệ thống sân bay toàn quốc, trong đó có sân bay Long Thành.