Khi tình cờ phát hiện một khối bất thường trên cơ thể, đa số mọi người lập tức lo lắng và nghĩ ngay đến ung thư. Bác sĩ Hiếu nói bệnh nhân cần giữ bình tĩnh đầu tiên, lựa chọn hướng tiếp cận hợp lý để ngăn chặn những hậu quả đáng tiếc do điều trị vội vã.
Người dân tuyệt đối không giữ tâm lý “tặc lưỡi” chờ đợi tổn thương tự biến mất, ngoại trừ các loại hạch phản ứng viêm do sâu răng hay mụn nhọt ở vùng hàm, nách, bẹn. Việc phát hiện sớm và chẩn đoán đúng bản chất tế bào đóng vai trò quyết định hiệu quả chữa trị.
Thực tế, bướu lành tính như u nang, u mỡ, u máu hay u xơ chiếm tỷ lệ 80-90% trong tổng số các ca mắc, đặc biệt tại tuyến giáp. Thậm chí, nhiều khối u ở phổi vẫn mang bản chất lành tính hoặc do nhân viên y tế đọc nhầm kết quả chiếu chụp. Do đó, người dân cần hiểu rõ khối u (tumor) hoàn toàn khác biệt với bệnh ung thư (cancer).
Để có kết luận chính xác, bệnh nhân cần tìm đến đúng chuyên khoa liên quan đến vị trí tổn thương thay vì chỉ tập trung vào các cơ sở chụp chiếu hình ảnh. Bác sĩ Hiếu lấy ví dụ người mắc bướu tuyến giáp cần khám nội tiết, u vú hay tử cung khám sản, u dưới da khám da liễu hoặc cơ xương khớp. Việc chọn một bệnh viện gần nhà, nơi bác sĩ tư vấn cặn kẽ và không dọa nạt người bệnh, sẽ giúp tiết kiệm thời gian, tiền bạc. Ông khuyên người dân tránh chạy theo các phòng khám quảng cáo máy móc hiện đại để rồi đối mặt nguy cơ “tiền mất tật mang”, điển hình như trường hợp đốt u tuyến giáp sai chỉ định gây chảy máu thứ phát, chèn ép đường thở suýt tử vong.
Khi đã chọn đúng người thầy thuốc, người bệnh phải kiên nhẫn tuân thủ phác đồ và chờ đợi kết quả giải phẫu bệnh thay vì yêu cầu điều trị bao vây ngay lập tức. Ngành y tế chỉ định phương pháp phẫu thuật, hóa trị hay xạ trị dựa trên bằng chứng khoa học chuẩn quốc tế, không áp dụng tư duy “đánh nhầm hơn bỏ sót”. Bác sĩ sẽ tiếp tục theo dõi u lành và chỉ can thiệp cắt, đốt khi tổn thương to lên hoặc gây chèn ép cơ quan xung quanh. Đối với ung thư, giới chuyên môn thiết kế phương án điều trị riêng biệt cho từng cá nhân, đòi hỏi người bệnh đặt trọn niềm tin vào chuyên gia y tế để đạt hiệu quả cao nhất.
Tại Việt Nam, hàng năm có hơn 182.000 ca mới và hơn 122.000 ca tử vong do ung thư. Hơn 350.000 bệnh nhân đang sống chung với căn bệnh này. Bình quân cứ 100.000 người Việt có 159 ca được chẩn đoán mắc mới ung thư và 106 trường hợp tử vong. Tỷ suất mắc mới của Việt Nam xếp thứ 91, tỷ suất tử vong xếp 50 trên tổng cộng 185 nước, ngày càng tăng nhanh trên bảng xếp hạng toàn cầu.
Các chuyên gia nhận định tỷ lệ tử vong do ung thư ở Việt Nam cao do bệnh thường được phát hiện ở giai đoạn muộn, dẫn đến hiệu quả điều trị hạn chế. Thêm vào đó, những ung thư phổ biến nhất ở người Việt lại là loại có tiên lượng xấu như ung thư gan,phổi. Tuổi thọ tăng, già hóa dân số, ô nhiễm môi trường, thói quen sinh hoạt không lành mạnh như rượu bia, thuốc lá điện tử, chế độ ăn thiếu hợp lý cũng góp phần làm gia tăng nguy cơ mắc ung thư.
Ngày 5.5 nữ bệnh nhân N.T.T.H (37 tuổi, ở Hà Nội) đã được ra viện sau 3 tuần ghép tế bào gốc tự thân điều trị u lympho không Hodgkin tế bào B hệ thần kinh T.Ư, là bệnh ác tính hiếm gặp, dễ tái phát.
Trước đó, năm 2025, chị H. bị liệt, cấp cứu tại bệnh viện về ngoại khoa, được phát hiện u não ác tính. Khi đó, do tính chất khối u, các bác sĩ đã phẫu thuật nhưng chỉ có thể phẫu thuật được khoảng 70%, không thể lấy hết khối u.
Tháng 5.2025, bệnh nhân vào điều trị tại Trung tâm Huyết học, Bệnh viện 19 - 8 trong tình trạng nặng do đã ở giai đoạn muộn của bệnh, khối u kích thước khá lớn (8 x 10 mm).
Tại đây, sau 3 đợt truyền hóa chất, với phác đồ điều trị hóa chất liều rất cao, khối u đã "tiêu" hết. Quá trình điều trị bệnh nhân cũng đã trải qua các diễn biến rất nặng: suy thận cấp, suy giảm toàn bộ miễn dịch, nấm họng, loét miệng…, được điều trị, chăm sóc toàn diện bởi các chuyên khoa: huyết học truyền máu, chống nhiễm khuẩn, dinh dưỡng…
"Tuy nhiên, đây là bệnh nguy hiểm, khả năng tái phát rất cao, do đó, bệnh nhân được hội chẩn và được chỉ định ghép tế bào gốc tự thân để ngăn ngừa tái phát, sau 7 đợt truyền hóa chất, với sự hỗ trợ của Viện Huyết học - truyền máu T.Ư", bác sĩ Lê Thị Thùy Dương (Trung tâm Huyết học - truyền máu, Bệnh viện 19 - 8) cho biết.
Theo bác sĩ Dương, quá trình ghép tế bào gốc yêu cầu rất ngặt nghèo về kiểm soát nhiễm khuẩn, do người bệnh cần truyền hóa chất liều rất cao, miễn dịch gần như bằng không. Bệnh nhân được theo dõi, chăm sóc y tế đặc biệt, theo dõi sát sao diễn biến sức khỏe. Sau khoảng 3 tuần truyền tế bào gốc, bệnh nhân H. ra viện với tình trạng sức khỏe khả quan.
Bác sĩ chuyên khoa 1 Phạm Thị Việt Anh, Phó giám đốc phụ trách Trung tâm Huyết học - truyền máu, Bệnh viện 19-8, cho biết, trong lực lượng y tế công an nhân dân, Bệnh viện 19 - 8 là đơn vị đi đầu triển khai kỹ thuật ghép tế bào gốc tự thân trong điều trị các bệnh lý huyết học.
"Trước đây, vào điều trị chủ yếu là cán bộ, chiến sĩ công an. Với bệnh nhân H., đây là lần đầu tiên chúng tôi thực hiện thành công ca ghép cho một bệnh nhân ngoài lực lượng công an nhân dân. Các kỹ thuật chuyên sâu, công nghệ cao của bệnh viện không chỉ phục vụ lực lượng công an mà đang từng bước được mở rộng để phục vụ người dân", bác sĩ Phạm Thị Việt Anh chia sẻ.
Với thành công trong điều trị ca bệnh ác tính hiếm gặp, PGS-TS Nguyễn Tiến Quang, Giám đốc Bệnh viện 19-8, nhìn nhận, ca ghép khẳng định đội ngũ y bác sĩ của bệnh viện đã làm chủ các kỹ thuật điều trị chuyên sâu, hiện đại, là tiền đề quan trọng để bệnh viện tiếp tục phát triển các kỹ thuật chuyên sâu trong thời gian tới, góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, thêm cơ hội điều trị hiệu quả cho người bệnh.
Sự việc xảy ra tại xã Phiêng Pằn, tỉnh Sơn La. Trong 6 người ăn món canh nấm rừng do gia đình tự hái, một người (sinh năm 2010) tử vong tại nhà. 5 người còn lại có biểu hiện ngộ độc đã được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Bạch Mai.
Tại Trung tâm Chống độc Bệnh viện Bạch Mai, các chuyên gia sinh học xác định nguyên nhân khiến 5 BN ngộ độc do nấm thuộc nhóm Amanita, là nấm độc nguy hiểm hàng đầu có chứa độc tố amatoxin.
Các bệnh nhân đã được khẩn trương điều trị giải độc, lọc máu tăng thải độc. Tuy nhiên, diễn biến bệnh cực kỳ phức tạp. Trong đó, bệnh nhân 62 tuổi bị suy gan tối cấp, hôn mê gan, men gan tăng trên 7.000 U/L, cao gấp hàng trăm lần bình thường, kèm suy thận vô niệu, tụt huyết áp và suy hô hấp. Gia đình đã xin đưa bệnh nhân về nhà tối 6.5, do tình trạng quá nặng.
Một bệnh nhân khác (25 tuổi) bị suy gan tối cấp, hôn mê gan với men gan trên 5.000 U/L. Các trường hợp còn lại đều có tổn thương gan ở nhiều mức độ, trong đó có bé gái 5 tuổi bị viêm gan nhiễm độc.
TS-BS Nguyễn Trung Nguyên, Giám đốc Trung tâm Chống độc, cho biết có 2 nhóm nấm độc: nhóm gây ngộ độc sớm và nhóm gây ngộ độc muộn. Nguy hiểm nhất là nhóm gây ngộ độc muộn, cũng chính là nhóm mà các bệnh nhân ở Sơn La đã ăn phải.
Đây là những loại nấm màu trắng, nhìn sạch sẽ, hấp dẫn, trông giống nấm ăn bình thường. Nhưng khi vào cơ thể, độc tố amatoxin trong nấm tấn công gan, thận cực kỳ dữ dội.
Theo Cục An toàn thực phẩm, Bộ Y tế, mùa xuân, thời tiết ấm, ẩm rất thuận lợi cho các loài nấm phát triển và đây cũng là thời điểm thường xảy ra các vụ ngộ độc nấm.
So với các loại ngộ độc khác thì ngộ độc nấm xảy ra ít hơn về số ca, nhưng tỷ lệ tử vong lại rất cao. Phòng ngừa ngộ độc nấm rất quan trọng, vì nhiều loại nấm hoang dại có thể gây ngộ độc nặng, thậm chí tử vong.
Cơ quan này lưu ý, không nên tin hoàn toàn kinh nghiệm truyền miệng "nấm có côn trùng ăn là nấm lành", vì có nấm côn trùng ăn được nhưng người thì bị ngộ độc. Nhiều loại nấm độc không có vị đắng hoặc mùi đặc biệt, khi ăn vẫn ngọt, ngon.
Cách an toàn nhất là chỉ ăn nấm trồng có nguồn gốc rõ ràng hoặc nấm đã rất quen thuộc ở địa phương.
Không hái, không ăn nấm hoang dã khi không biết rõ; không mua nấm trôi nổi, không rõ nguồn gốc; không tin vào mẹo dân gian, kinh nghiệm "truyền miệng" như thử bằng bạc, tỏi, gạo… để nhận biết nấm độc.
Khi có dấu hiệu ngộ độc nấm cần đưa ngay đến cơ sở y tế gần nhất; bảo quản mẫu nấm (nếu có) để hỗ trợ chẩn đoán và có phác đồ điều trị chính xác.