Vào lúc 3h sáng 8-4 (theo giờ Việt Nam), FTSE Russell đã công bố kết quả rà soát giữa kỳ trong khuôn khổ kỳ đánh giá phân loại thị trường chứng khoán tháng 3-2026.
FTSE Russell chính thức xác nhận lộ trình nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam lên mới nổi thứ cấp. Việc đưa cổ phiếu Việt Nam vào các bộ chỉ số toàn cầu của tổ chức này bắt đầu từ tháng 9-2026 và hoàn tất một năm sau đó.
Tại sự kiện Investor Day, ông Đặng Thanh Tùng – Giám đốc nghiệp vụ tại Dragon Capital – đánh giá việc dòng vốn ngoại quay trở lại thị trường chắc chắn xảy ra, khi Việt Nam được chính thức đưa vào rổ chỉ số của tổ chức này.
Ông Tùng cho biết có rất nhiều quỹ thụ động theo dõi và đầu tư theo rổ chỉ số FTSE Emerging Markets Index. Những quỹ này sẽ buộc phải giải ngân khi Việt Nam vào danh sách. Đây là nguồn vốn có tính ổn định cao, góp phần định hình mặt bằng dòng tiền dài hạn cho thị trường.
Ngoài ra, một số quỹ chủ động cũng đã mua dần vào thị trường Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh sau đợt điều chỉnh vừa qua định giá về mức tương đối hấp dẫn. Trước đó, định giá thị trường Việt Nam cũng đã hấp dẫn với khối ngoại.
Chuyên gia Dragon Capital nhận định các yếu tố biến động bên ngoài có thể tác động đến Việt Nam. Nhưng tốc độ tăng trưởng xấp xỉ 2 chữ số là mức đáng ghen tị với nhiều quốc gia trên thế giới.
“Các quỹ đầu tư tìm kiếm các nước có tăng trưởng kinh tế cao, từ đó tác động đến các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán”, ông Tùng chia sẻ.
Trên thực tế, từ đầu năm tới nay khối ngoại vẫn bán ròng và mạnh vào tháng 3 do yếu tố địa chính trị xảy ra. Hầu như tất cả thị trường đều bị rút vốn, không riêng Việt Nam. Nhóm nhà đầu tư ngoại tạm thời rút vốn và cần thời gian để đánh giá tình hình.
Tuy nhiên, nếu loại bỏ tháng 3, khối ngoại đã quay trở lại mua ròng một số phiên trong 2 tháng đầu năm. Điều này cho thấy dòng vốn ngoại hứng thú với thị trường Việt Nam.
Ông Tùng cho biết một số thị trường khi được đưa vào rổ của FTSE Russell đều có đà tăng 2 con số, dù tăng trưởng kinh tế không ở mức cao. Trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế Việt Nam được dự báo đạt 2 chữ số và chứng khoán được nâng hạng, chuyên gia này kỳ vọng thị trường có thể tăng “bằng lần”.
Chuyên gia Dragon Capital nhấn mạnh FTSE Russell chỉ là bước đầu trên lộ trình phát triển của thị trường. Ông kỳ vọng Việt Nam sẽ được nâng hạng bởi MSCI trước năm 2030, đồng thời cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia lên mức “Điểm đầu tư” (tiếng Anh: Investment grade).
Dựa vào phân tích kỹ thuật, Chứng khoán Vietcap đánh giá diễn biến cung cầu cho thấy VN-Index có điều kiện tăng điểm vào đầu phiên 8-4. Tuy nhiên, nhóm ngân hàng vẫn đối mặt với khả năng bị bán trở lại tại vùng giá cao đầu phiên. Điều này sẽ khiến chỉ số biến động mạnh với biên độ dự báo trong vùng 1.650 – 1.710 điểm.
Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) nhận định thị trường chưa ghi nhận phản ứng hồi phục mạnh tại MA(200), vùng hỗ trợ quan trọng kể từ phiên giảm ngày 23-3. Dù vậy, việc đà giảm chững lại, biên độ dao động thu hẹp dần và thanh khoản tiếp tục suy giảm cho thấy dấu hiệu cạn cung.
Bên cạnh đó, thông tin về kết quả đánh giá nâng hạng dự kiến có thể đóng vai trò là chất xúc tác cho nhịp hồi phục của chỉ số. Tuy nhiên, tình hình leo thang đối với chiến sự tại khu vực Trung Đông vẫn đang là “cơn gió ngược” tác động tới thị trường hiện tại.
Trong bối cảnh hiện tại, thị trường đã thỏa mãn một trong hai điều kiện đề ra trước đó là giữ vững MA(200). Yếu tố còn lại cần được xác nhận là sự lan tỏa rõ ràng hơn của dòng tiền, đặc biệt ở nhóm vốn hóa lớn sau thông tin nâng hạng. Khi cả hai điều kiện cùng hội tụ, VDSC khuyến nghị nhà đầu tư có thể cân nhắc gia tăng tỉ trọng hoặc mở vị thế mới.
Với quan điểm thận trọng hơn, Chứng khoán Vietcombank khuyến nghị nhà đầu tư ưu tiên quản trị rủi ro và duy trì tỉ trọng danh mục ở mức an toàn. Nhà đầu tư có thể tận dụng các nhịp rung lắc của thị trường để cân nhắc giải ngân từng phần, tập trung chủ yếu vào những cổ phiếu có nền tảng cơ bản tốt và thuộc các nhóm ngành đang thu hút dòng tiền như ngân hàng, bán lẻ và chứng khoán.
Những nghị quyết vừa được ban hành liên quan tới các lĩnh vực quản lý nhà nước của các bộ: Công Thương; Nông nghiệp và Môi trường; Khoa học và Công nghệ; Giáo dục và Đào tạo; Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Y tế, Công an, và nghị quyết chung của Bộ Tư pháp, bao hàm 7 bộ: Quốc phòng, Nội vụ, Tài chính, Xây dựng, Ngoại giao, Tư pháp, Ngân hàng Nhà nước.
Theo đó, tổng thể 8 nghị quyết, về cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính đã bãi bỏ 184 thủ tục hành chính, phân cấp xuống địa phương 134 thủ tục và đơn giản hóa 349 thủ tục.
Về điều kiện kinh doanh, các nghị quyết nêu trên bãi bỏ 890 điều kiện kinh doanh, đơn giản hóa bốn điều kiện kinh doanh.
Tổng số lượng văn bản sửa đổi, bổ sung là 164 văn bản. Trong đó có 2 nghị quyết của Chính phủ và 155 nghị định; 6 quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Như vậy, với việc ban hành 8 nghị quyết cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, Chính phủ đã hoàn thành cơ bản 4/4 chỉ tiêu về cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, phân cấp phân quyền được giao.
Trong đó, tổng số thủ tục hành chính cấp Trung ương chỉ còn khoảng 27%, đạt mục tiêu Kết luận số 18 mà Trung ương đề ra là không quá 30%.
Cùng đó, tỉ lệ cắt giảm thời gian, chi phí tuân thủ giải quyết thủ tục hành chính so với năm 2024 đều vượt trên 50% đáp ứng yêu cầu của Kết luận số 18.
Trong khảo sát mới nhất của Reuters, các nhà kinh tế học hạ dự báo tăng trưởng của nhiều nước Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh (GCC). Một số quốc gia khu vực này bị thay đổi triển vọng từ tăng trưởng sang suy giảm kinh tế.
Chiến sự tại Trung Đông đã làm xáo trộn thị trường năng lượng - huyết mạch kinh tế của nhiều nước khu vực này, gây ra cú sốc nguồn cung mang tính lịch sử. Việc phục hồi khủng hoảng năng lượng có thể phải chờ đến năm sau.
GDP Qatar, Kuwait và Bahrain được dự báo giảm lần lượt 6%, 4,4% và 2,9% năm nay. Các số liệu này trái ngược hoàn toàn so với ước tính hồi tháng 1, là tăng trưởng 3-5%. Trong khi đó, tăng trưởng kinh tế của UAE nhiều khả năng gần như đứng yên. Hồi đầu năm, nền kinh tế này được kỳ vọng tăng 5%.
Trong đợt giá dầu tăng tốc trước đây, các nền kinh tế vùng Vịnh thường hưởng lợi lớn nhờ xuất khẩu năng lượng. Tuy nhiên lần này, việc Iran gần như phong tỏa eo biển Hormuz - tuyến vận tải chịu trách nhiệm chuyên chở 20% dầu thô và khí hóa lỏng (LNG) toàn cầu - dẫn đến thiếu cung nhiên liệu. Nhiều cơ sở hạ tầng ngành năng lượng trong khu vực, từ Arab Saudi, UAE, Kuwait đến Qatar bị tập kích, khiến các nền kinh tế này chao đảo. Giá dầu thô hiện tăng khoảng 40% so với trước chiến sự.
"Chúng tôi không cho rằng GDP có thể dễ dàng quay về quỹ đạo tăng trưởng trước đó. Vài năm tới, GDP sẽ vẫn ở mức thấp bất chấp đà phục hồi nhanh. Các quốc gia này cần nửa cuối năm nay để tái thiết chuỗi cung ứng", ông Ralf Wiegert, nhà kinh tế học tại S&P Global Market Intelligence, nhận định.
Trên CNBC, Ryan Sweet – kinh tế trưởng tại Oxford Economics cũng cho rằng xung đột tại Iran là yếu tố "thay đổi cuộc chơi" với các nước vùng Vịnh. "Ngoài tác động đến doanh thu dầu khí, chiến sự còn ảnh hưởng đến du lịch, dòng tiền đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Trung Đông", ông cho biết.
Đầu tháng này, Economist ước tính các nước vùng Vịnh thiệt hại hàng chục tỷ USD vì chiến sự. Con số này đến từ doanh thu bán dầu khí sụt giảm, cơ sở hạ tầng thiết yếu chịu thiệt hại và chi phí cho hệ thống đánh chặn phòng không. Thiệt hại về uy tín thậm chí còn lớn hơn khi xung đột phơi bày điểm yếu của Trung Đông về mặt địa lý lẫn địa chính trị. Đây là vấn đề các quốc gia vùng Vịnh không dễ khắc phục, tạp chí này nhận định.
Arab Saudi, nước xuất khẩu dầu thô lớn nhất thế giới, và Oman được cho là chống chịu cú sốc này tốt hơn. Hai nền kinh tế này được dự báo vẫn tăng trưởng 2,6% và 2,2% năm nay. Tuy nhiên, các số liệu đều thấp hơn đáng kể so với dự báo tháng 1 là tăng 4,3% và 2,8%.
Giá dầu tăng đang kéo lạm phát toàn cầu lên cao. Các nền kinh tế vùng Vịnh cũng không ngoại lệ. Lạm phát tại đây được dự báo đạt 2-3% năm nay, tăng so với chỉ 1-2% hồi đầu năm.
"Vòng 2 của cú sốc này sẽ xảy ra với các lĩnh vực phi dầu mỏ. Điều này đặc biệt quan trọng với Arab Saudi, UAE và Qatar", Lluis Dalmau Taules - nhà kinh tế học tại Allianz cho biết. Lĩnh vực du lịch của Trung Đông tăng trưởng nhanh nhất thế giới trong vài năm qua. Vì vậy, chiến sự tác động mạnh đến bán lẻ và nhiều ngành nghề khác.
Các nhà kinh tế dự báo năm tới, Trung Đông sẽ hồi phục nhanh nếu xung đột sớm kết thúc. Theo đó, Qatar, UAE và Kuwait có thể tăng trưởng lần lượt 7,8%, 5,4% và 5% năm tới. GDP Arab Saudi, Bahrain và Oman được kỳ vọng ở mức 2,8-4,5%.
Trước đó, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cũng đưa ra dự báo sản xuất năng lượng và giao thông trong khu vực hồi phục, bình thường trở lại trong vài tháng tới.
Goldman Sachs cho rằng việc khôi phục này sẽ không đồng đều giữa các nền kinh tế ở vùng Vịnh. Về dài hạn, các nhà phân tích tại ngân hàng này cho rằng hoạt động kinh tế tại đây sẽ phục hồi mạnh nhờ được hỗ trợ từ nguồn lực vốn công, dự trữ dồi dào của chính phủ và doanh thu dầu khí tăng trở lại.
Quý 1-2026 tiếp tục ghi nhận dư nợ margin toàn thị trường chứng khoán Việt Nam lập kỷ lục, đồng thời đánh dấu quý thứ 12 liên tiếp tăng trưởng. Nhu cầu vay ký quỹ tăng mạnh buộc các công ty chứng khoán phải liên tục tìm cách bổ sung vốn.
Nhờ các đợt tăng vốn, dư địa cho vay (tối đa gấp 2 lần vốn chủ sở hữu) của ngành vẫn được cải thiện. Theo thống kê tại hơn 40 công ty chứng khoán, dư địa cho vay bình quân đã nâng lên gần 46%.
Tuy nhiên, bức tranh không đồng đều khi vẫn có gần một nửa số công ty có dư địa thấp hơn mặt bằng chung. Đáng chú ý, nhiều trường hợp chỉ còn room cho vay dưới 10% như Mirae Asset Vietnam (MAS), MBS, VBSE (CTS), KB Securities Vietnam (KBSV), Chứng khoán HSC (HCM), Chứng khoán Phú Hưng (PHS) và Chứng khoán Dầu khí (PSI).
Trong đó, một số công ty như PHS hay PSI gần như đã sử dụng hết dư địa cho vay. Với Chứng khoán HSC, dù liên tục tăng vốn trong nhiều năm, công ty vẫn thường xuyên nằm trong nhóm "căng" margin, cho thấy nhu cầu vốn luôn ở mức cao.
Tương tự, CTS và MBS cũng cho thấy áp lực cần sớm được bổ sung vốn từ cổ đông để duy trì khả năng cho vay.
Nhìn chung, dù dư địa cho vay toàn ngành đang được cải thiện, hiện tượng "khát vốn" vẫn diễn ra ở nhiều công ty. Quan trọng hơn, không phải doanh nghiệp nào cũng có cùng khả năng để giải bài toán này.
Hầu hết các công ty chứng khoán đều phải đối mặt với áp lực chứng minh hiệu quả với cổ đông trong bối cảnh thị trường đặt nhiều kỳ vọng như nâng hạng, triển khai giao dịch T0 hay cơ chế bán chứng khoán chờ về.
Tuy nhiên, để thuyết phục cổ đông thì các bài toán hiệu quả từ tự doanh và cho vay margin đang là những nút thắt chưa dễ giải.
Quý gần nhất cho thấy hoạt động tự doanh đã ảnh hưởng đáng kể đến kết quả kinh doanh của nhiều công ty.
Còn lãi suất cho vay ký quỹ có xu hướng tăng, gây áp lực lên biên lợi nhuận - vốn là trụ cột của ngành.
Một chuyên gia chứng khoán cho biết chi phí vốn đang tăng nhanh hơn lãi suất cho vay ở một số công ty chứng khoán lớn khiến biên lợi nhuận mảng cho vay ký quỹ bị thu hẹp. Nếu xu hướng này kéo dài, việc mở rộng dư nợ có thể không còn mang lại hiệu quả như trước.
Ông Nguyễn Thế Minh - Giám đốc Khối Ngân hàng đầu tư của Chứng khoán An Bình - nhận định các công ty cần phải tăng vốn để giảm chi phí vốn, dù có thể dẫn đến pha loãng cổ phiếu trong ngắn hạn. Theo ông, lợi thế đang nghiêng về nhóm có cổ đông là tổ chức tài chính hoặc ngân hàng.
Tại ĐHĐCĐ thường niên 2026, Chứng khoán HSC đang quyết tâm trở lại đường đua sau khi nhận được cam kết đồng hành từ HFIC. Công ty dự kiến nâng vốn từ 10.808 tỉ đồng lên khoảng 15.800 tỉ đồng.
Ở nhóm dẫn đầu, SSI đặt mục tiêu đạt 30.000 tỉ đồng vốn điều lệ, trong khi TCBS có thể tạm thời trở lại vị trí dẫn đầu trong quý 2-2026.
Đáng chú ý, nhóm công ty chứng khoán có ngân hàng nhà nước hậu thuẫn đang tỏ ra chủ động hơn.
Chứng khoán BIDV (BSI) đặt mục tiêu nâng vốn lên 11.000 tỉ đồng và chỉ chờ sự chấp thuận chính thức từ cổ đông Hana Securities.
Trước đó, VCBS dự kiến tăng vốn gấp 5 lần lên 12.500 tỉ đồng sau khi được Vietcombank thông qua.
Trong khi đó, CTS cũng đã "úp mở" kế hoạch tăng vốn và có thể trình cổ đông trong năm 2026.