Đầu tháng 4/2025, buổi tái khám định kỳ được kỳ vọng mang lại sự nhẹ nhõm sau 5 năm ông chiến đấu ung thư hạ họng, nhưng tổn thương mới lại xuất hiện, bác sĩ nghi ngờ ung thư phổi giai đoạn 2.
Ông kể với bác sĩ về đứa con đang du học xa nhà, về những khoản nợ và chi phí điều trị đã bào mòn gia đình suốt nhiều năm. Rồi người đàn ông hỏi “tôi còn sống được bao lâu, liệu có nên dừng điều trị, giữ lại chút sức tàn và tiền bạc cho người thân”.
PGS.TS Vũ Anh Hải, Giám đốc Trung tâm Ung bướu, ngồi đối diện lắng nghe bệnh nhân. Theo bác sĩ Hải, câu hỏi về thời gian sống thường xuất hiện ở những bệnh nhân giai đoạn muộn hoặc tái phát, bởi đây là lúc họ lo lắng nhất và dễ buông xuôi nhất.
“Câu hỏi như tiếng thở dài của một người trụ cột đang kiệt quệ cả sức khỏe lẫn tinh thần”, TS Hải kể lại.
Tại Việt Nam, theo số liệu Globocan 2022, mỗi năm có hơn 182.000 ca ung thư mới và gần 122.000 ca tử vong. Hơn 70% bệnh nhân đến viện trong giai đoạn muộn. Khi nhận chẩn đoán ung thư, tâm lý người bệnh thường sụp đổ. Một nghiên cứu của Bệnh viện Quân y 103 thực hiện trên 264 bệnh nhân ung bướu chỉ ra gần 58% người bệnh rơi vào trầm cảm. Một nghiên cứu toàn cầu từ Anh, Mỹ và Đức do New York Times trích dẫn cảnh báo tỷ lệ tự tử ở bệnh nhân ung thư cao hơn 85% so với dân số chung. Bệnh nhân có xu hướng nghĩ đến cái chết ngay khi cảm thấy mất kiểm soát cuộc sống.
Hiểu rõ hiệu ứng domino từ sự tuyệt vọng, bác sĩ Hải chọn cách không đưa ra một con số định mệnh, mà chỉ cho bệnh nhân thấy cơ hội. Bác sĩ giải thích phác đồ mổ nội soi lồng ngực cắt thùy trên phổi và nạo vét hạch ít xâm lấn hơn mổ mở. Lời khẳng định kết quả sẽ tốt hơn nếu không bỏ cuộc đã giữ người đàn ông lại với cuộc sống. Ông đồng ý lên bàn mổ và tiếp nhận hóa chất bổ trợ.
Quyết định đó quan trọng hơn bất kỳ tiên lượng nào, bởi theo bác sĩ Hải, tâm lý bệnh nhân tác động trực tiếp đến hiệu quả điều trị theo một cơ chế rất cụ thể. Khi bệnh nhân suy sụp, họ ăn uống kém, thể trạng sa sút nhanh, không tuân thủ phác đồ. Đến lúc đó, ngay cả thuốc đặc trị hay kỹ thuật hiện đại nhất cũng mất đi phần lớn hiệu quả.
“Chỉ cần bác sĩ buông tay, bệnh nhân sẽ bỏ cuộc ngay lập tức”, ông nói.
Quan niệm cũ gán cho từng giai đoạn một tỷ lệ sống sót cố định, như ung thư giai đoạn một sống được 90%, giai đoạn hai 70%, giai đoạn ba là 50%, giai đoạn bốn chỉ còn 15-20%. Bác sĩ cho biết quan niệm này không còn phù hợp. Thay vì đưa ra một “án tử” bằng mốc thời gian 3 tháng hay 5 tháng, nhiều chuyên gia chọn cách chỉ ra cơ hội.
Trên thế giới, các bác sĩ thường tra cứu dữ liệu từ các viện, hiệp hội ung thư uy tín, hoặc sử dụng chuyên môn để đưa ra dự đoán lâm sàng. Tiên lượng đưa ra dưới dạng trung vị, khác với mức trung bình. Ví dụ, nếu một bệnh nhân ung thư được thông báo tiên lượng là một năm, khoảng một nửa số bệnh nhân có tình trạng tương tự sẽ sống được đến cuối năm, nửa còn lại tử vong trước đó. Trong một số trường hợp, ung thư tiến triển nhanh chóng, bệnh nhân có thời gian sống ngắn hơn tiên lượng. Nếu người bệnh có sức khỏe tốt và được tiếp cận với phương pháp điều trị mới nhất, họ sẽ sống lâu hơn, đôi khi là nhiều năm.
Bác sĩ Ngô Văn Tỵ tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội thường từ chối biến các con số thống kê cộng đồng thành hạn sử dụng cho một sinh mệnh. Khi người bệnh gặng hỏi về thời gian, ông thường hỏi ngược lại rằng họ cần chuẩn bị điều gì. Có người cần thu xếp tài chính, người muốn dặn dò con cái hoặc chỉ cần một điểm tựa tinh thần.
Trong khi đó, với những ca bệnh muộn chiếm đến 70% số ca nhập viện, bác sĩ Hà Hải Nam tại Bệnh viện K tập trung vào chăm sóc giảm nhẹ. Việc xoa dịu nỗi đau thể xác được đặt lên hàng đầu bởi sống lâu không đồng nghĩa với sống tốt nếu phải đánh đổi bằng sự giày vò tận cùng.
“Mất mát là quy luật của cuộc đời, nhưng giảm nhẹ đi phần nào đau đớn cho người bệnh thì nhân đạo phần đó. Sống lâu hơn và sống tốt hơn không phải lúc nào cũng là một”, bác sĩ Nam bày tỏ.
Bà Nmami Agarwal, chuyên gia dinh dưỡng Ấn Độ, cho biết uống trà cùng hoặc ngay sau bữa ăn làm giảm hấp thu sắt. Trà chứa tannin, chất cản trở cơ thể hấp thu sắt từ thực phẩm, theo trang NDTV (Ấn Độ).
Theo đó, uống trà ngay sau bữa ăn có thể làm giảm khả năng hấp thu sắt, ngay cả khi bữa ăn giàu thực phẩm như đậu lăng, rau chân vịt hay củ dền.
Cơ thể không nhận đủ sắt dù đã ăn thực phẩm giàu dưỡng chất. Tình trạng này kéo dài gây mệt mỏi, suy nhược và rụng tóc.
Bà Agarwal khuyến nghị không uống trà cùng bữa ăn. Thời gian phù hợp là cách bữa ăn từ 1 đến 2 giờ. Cách này giúp cơ thể hấp thu sắt tốt hơn.
Bạn nên kết hợp thực phẩm giàu sắt với thực phẩm chứa vitamin C như cam, chanh... Vitamin C giúp tăng khả năng hấp thu sắt. Việc điều chỉnh thời điểm uống trà giúp giữ thói quen mà không ảnh hưởng sức khỏe.
Buổi sáng là thời điểm phù hợp để uống trà. Trà đen hoặc trà xanh giúp cơ thể tỉnh táo và cung cấp chất chống oxy hóa.
Buổi chiều sau bữa trưa vài giờ, một tách trà nhẹ giúp giảm cảm giác buồn ngủ. Trà xanh giúp duy trì sự tỉnh táo mà không gây quá tải caffeine.
Khoảng 16 đến 17 giờ, uống trà cùng bữa phụ giúp cơ thể thư giãn. Trà gừng hoặc trà thảo quả tạo cảm giác sảng khoái mà không ảnh hưởng hấp thu sắt.
Trước bữa tối, nên chọn trà thảo mộc không chứa caffeine như hoa cúc hoặc bạc hà. Các loại trà này hỗ trợ tiêu hóa, giúp cơ thể thư giãn và cải thiện giấc ngủ.
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), trẻ em là một trong những nhóm dễ bị tổn thương nhất trước các đợt nắng nóng kéo dài, với nguy cơ gặp các vấn đề sức khỏe liên quan đến mất nước, kiệt sức và sốc nhiệt.
Sốc nhiệt ở trẻ có thể xảy ra khi cơ thể trẻ không được bù đủ nước hoặc không có thời gian nghỉ ngơi hợp lý trong môi trường nóng. Việc nhận biết sớm các dấu hiệu của kiệt sức do nóng và sốc nhiệt sẽ giúp cha mẹ bảo vệ con an toàn trong những ngày thời tiết khắc nghiệt như hiện nay.
Trước khi diễn tiến thành sốc nhiệt, trẻ thường trải qua giai đoạn nhẹ hơn như chuột rút do nóng hoặc kiệt sức do nóng. Tình trạng này thường xảy ra sau khi trẻ vận động hoặc vui chơi lâu dưới trời nắng nóng dẫn đến mất nước và điện giải qua mồ hôi.
Một số dấu hiệu cha mẹ có thể nhận thấy gồm: thân nhiệt tăng (thường dưới 40oC); da mát nhưng ẩm, ra nhiều mồ hôi; choáng, chóng mặt, mệt lả; đau đầu; khát nước nhiều; cáu gắt, khó chịu; chuột rút cơ; buồn nôn hoặc nôn mửa.
Một số trẻ có nguy cơ bị kiệt sức do nóng cao hơn như trẻ thừa cân hoặc béo phì; trẻ đang mắc bệnh; bị cháy nắng hoặc đang dùng một số loại thuốc.
Điều quan trọng là cần xử trí sớm để tránh tiến triển thành sốc nhiệt. Khi có các dấu hiệu nghi ngờ trẻ bị kiệt sức do nóng, cha mẹ nên:
- Đưa trẻ vào nơi mát, có bóng râm hoặc phòng có điều hòa.
- Cho trẻ uống nước mát, có thể bổ sung muối như nước điện giải, uống từng ngụm nhỏ thay vì uống nhiều một lần.
- Dùng khăn ướt bằng nước mát, không dùng nước đá lạnh lau khắp người cho trẻ, chú ý các vùng có mạch máu lớn như gáy, nách, bẹn, trán để hỗ trợ hạ nhiệt.
- Nếu trẻ bị chuột rút có thể xoa bóp nhẹ nhàng. Nếu trẻ không uống được hoặc có các biểu hiện như lừ đừ, lơ mơ, mệt nhiều, bứt rứt, da tái... thì cần đưa trẻ đến ngay cơ sở y tế để được thăm khám kịp thời.
Sốc nhiệt là tình trạng nghiêm trọng xảy ra khi cơ thể trẻ không còn khả năng điều hòa thân nhiệt. Nhiệt độ cơ thể tăng nhanh có thể dẫn đến tổn thương não, thậm chí đe dọa đến tính mạng nếu không được xử trí kịp thời.
Sốc nhiệt là một trường hợp cấp cứu y khoa tối khẩn cấp. Nếu con bạn ở ngoài trời hoặc trong bất kỳ môi trường nóng nào và có các triệu chứng trên hãy thực hiện các bước sau càng sớm càng tốt:
- Đưa trẻ vào nơi mát và cởi bớt quần áo cho trẻ.
- Dùng khăn tẩm nước mát lạnh đắp vùng trán, gáy, nách và lau khắp người để làm hạ nhiệt nhanh, có thể kèm quạt mát để thoát nhiệt, tản nhiệt dễ dàng hơn.
- Nếu có điều kiện có thể ngâm trẻ trong bồn nước mát, không dùng nước đá lạnh vì có thể làm trẻ bị co mạch.
- Theo dõi tình trạng ý thức và thân nhiệt liên tục, nếu nhiệt độ xuống dưới 38oC thì ngưng làm mát.
- Tránh cho trẻ uống quá nhiều chất lỏng trừ khi trẻ tỉnh táo và nhận thức được mọi việc. Tuyệt đối không cho trẻ uống nước nếu trẻ đang lơ mơ hoặc rối loạn ý thức.
Ngày 16/4, các bác sĩ Bệnh viện Phụ sản Hà Nội nói sản phụ mang thai lần đầu, thai thụ tinh nhân tạo, một trai và một gái. Trong thai kỳ, bệnh nhân có tiền sử sinh non, từ tuần 20 bắt đầu có dấu hiệu cổ tử cung ngắn.
Từ tuần 22, bệnh nhân xuất hiện đau bụng, ra dịch, cơn co tử cung, cổ tử cung mở. Khoảng một tuần sau, bệnh nhân cấp cứu tại Khoa sản bệnh A4, cổ tử cung mở 2-3 cm.
"Lúc này, thai thứ nhất tụt thấp, chân thò ra ngoài trong bọc ối, tiên lượng rất nặng, nguy cơ sinh non và nhiễm trùng cao", bác sĩ Trương Minh Phương, người điều trị chính, nói.
TS.BS Mai Trọng Hưng, Giám đốc Bệnh viện và bác sĩ Phương nhận định khả năng giữ thai khó, nguy cơ nhiễm trùng đe dọa mẹ và thai còn lại. Tuần 26, sản phụ chuyển dạ, bé gái sinh non, nặng 650g, chuyển Bệnh viện Nhi Trung ương điều trị. Trẻ bị biến chứng chảy máu não, nhiễm trùng.
Sau khi cân nhắc kỹ lưỡng giữa nguy cơ của mẹ, thai còn lại và cơ hội sống của thai nếu nuôi thêm trong bụng, các bác sĩ đã quyết định điều trị cắt cơn chuyển dạ để giữ lại thai nhi thứ hai trong tử cung mẹ.
"Thông thường, thai thứ hai sẽ sinh ngay sau thai một. Đây là lựa chọn mang tính bước ngoặt, mở ra cơ hội sống cao hơn cho em bé", bác sĩ Hưng nói.
Quá trình giữ thai 13 tuần với phác đồ điều trị nghiêm ngặt, điều chỉnh liên tục. Bệnh nhân phải kiểm soát nhiễm trùng chặt chẽ. Thai phát triển, tăng cân đều nhưng chậm.
Sáng 15/4, thai được 38 tuần, bác sĩ hội chẩn quyết định mổ lấy thai. Bé trai chào đời nặng 2,4 kg. Tình trạng ổn định. Bé gái nặng 1,8 kg, tự thở, tự ăn, phản xạ tốt.
Theo bác sĩ, thai thứ hai được giữ thêm 13 tuần sau khi thai một đã sinh là khoảng thời gian rất dài, hiếm gặp, bước tiến quan trọng trong sản khoa, mở ra cơ hội cho các ca song thai nguy cơ cao.
Bác sĩ khuyến cáo sản phụ cần theo dõi thai kỳ chặt chẽ bằng siêu âm 4D, doppler màu, đo tim thai... để phát hiện sớm bất thường. Nhờ đó, bác sĩ khám, siêu âm thai định kỳ mới đưa ra hướng xử trí phù hợp, an toàn cho mẹ và bé.