Theo đó, Cục Quản lý dược yêu cầu các đơn vị trên toàn quốc thu hồi toàn bộ lô thuốc Natri clorid 0,9% (số giấy đăng ký lưu hành 893100060724), số lô 10370725, ngày sản xuất 14-7-2025, hạn dùng 14-1-2028, do Công ty Pharmedic sản xuất.
Nguyên nhân thu hồi là theo báo cáo của cơ sở kiểm nghiệm, lô thuốc dung dịch nhỏ mắt Natri clorid 0,9% nêu trên không đạt tiêu chuẩn chất lượng về chỉ tiêu độ trong, vi phạm mức độ 3.
Thuốc nhỏ mắt – nhỏ mũi Natri Clorid 0,9% của Công ty Pharmedic được giới thiệu có thành phần chính natri clorid, dùng để rửa mắt, rửa mũi, phụ trị nghẹt mũi, sổ mũi, viêm mũi do dị ứng; sản phẩm dùng được cho trẻ sơ sinh. Đây cũng là sản phẩm được bán tại nhiều nhà thuốc, bệnh viện và được nhiều người sử dụng.
Cục Quản lý dược yêu cầu Công ty Pharmedic phải ngừng việc kinh doanh và tiến hành biệt trữ lô thuốc bị thu hồi nêu trên. Đồng thời báo cáo tình hình phân phối thuốc tới cơ sở bán buôn, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
Chủ trì, phối hợp với tổ chức, cá nhân có liên quan gửi thông báo thu hồi lô thuốc bị thu hồi nêu trên tới tất cả cơ sở bán buôn, bán lẻ, cơ sở tổ chức chuỗi nhà thuốc, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã nhận lô thuốc nêu trên.
Tổ chức thu hồi và tiếp nhận toàn bộ lô thuốc bị thu hồi nêu trên, hoàn thành trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày 11-5.
Xử lý lô thuốc bị thu hồi; chi trả chi phí cho việc thu hồi, xử lý thuốc bị thu hồi; bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
Cục cũng giao cơ sở bán buôn, bán lẻ, cơ sở tổ chức chuỗi nhà thuốc ngừng kinh doanh, cung cấp, cấp phát lô thuốc bị thu hồi nêu trên, thông báo và tổ chức thu hồi, tiếp nhận toàn bộ lô thuốc bị thu hồi nêu trên, trả thuốc cho cơ sở đã cung cấp thuốc.
Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và người sử dụng thuốc ngừng việc kê đơn, bán, cấp phát và sử dụng lô thuốc bị thu hồi nêu trên, trả thuốc cho cơ sở cung cấp thuốc.
Cục Quản lý dược yêu cầu các sở y tế tỉnh, thành phố giám sát chất lượng thuốc lưu hành, đặc biệt tập trung lấy mẫu kiểm nghiệm đối với sản phẩm bị thu hồi.
Hội thảo "Thực trạng vi phạm quy định cấm bán, quảng cáo và khuyến mại thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng tại các điểm bán lẻ và phơi nhiễm với quảng cáo, khuyến mại thuốc lá mới của người trưởng thành" do Trường ĐH Y tế công cộng (Hà Nội) tổ chức vừa qua đã đưa ra các bằng chứng mới nhất về thực trạng bán, quảng cáo, khuyến mại thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng tại VN. Qua đó, lấy ý kiến chuyên gia, cơ quan quản lý để góp phần tăng cường hiệu quả thực thi các quy định phòng chống tác hại của thuốc lá.
Kết quả khảo sát trên 2.462 sinh viên từ 18 - 24 tuổi tại các trường đại học ở Hà Nội, Đà Nẵng, Huế và TP.HCM cho thấy: 14,3% sinh viên đã từng thử thuốc lá điện tử và 3,3% hiện đang sử dụng. Đối với thuốc lá nung nóng, tỷ lệ này là 6,2% đã từng thử và 0,8% hiện đang sử dụng. Độ tuổi trung bình bắt đầu sử dụng các sản phẩm thuốc lá mới là khoảng 16,9 tuổi.
Sau khi Nghị quyết 173 của Quốc hội được triển khai, nghiên cứu ghi nhận những chuyển biến tích cực bước đầu trong việc kiểm soát thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng. Khảo sát tại 126 điểm bán lẻ từng kinh doanh các sản phẩm này và có địa chỉ cụ thể trên Google Maps cho thấy 64,3% cơ sở đã đóng cửa.
Nghiên cứu cũng cho thấy có sự chuyển dịch các hoạt động kinh doanh, quảng cáo, tiếp thị sản phẩm sang môi trường internet. Trong số các điểm bán được khảo sát, 34,9% đã chuyển sang bán hàng trực tuyến. Đồng thời, 39,2% sinh viên cho biết vẫn tiếp xúc với quảng cáo thuốc lá điện tử hoặc thuốc lá nung nóng trong vòng 30 ngày qua, trên một kênh mạng xã hội.
Đại diện nhóm nghiên cứu cho rằng, bên cạnh việc tiếp tục hoàn thiện chính sách và giám sát, thực thi pháp luật, cần tăng cường truyền thông thay đổi nhận thức và hành vi hút thuốc lá để bảo vệ sức khỏe cộng đồng, đặc biệt là thanh thiếu niên và trẻ em.
Hội thảo là hoạt động thuộc khuôn khổ dự án "Hỗ trợ phòng chống tác hại của thuốc lá thông qua việc cung cấp bằng chứng về thực trạng bán, quảng cáo và khuyến mại các sản phẩm thuốc lá mới tại VN và khuyến nghị các giải pháp ngăn ngừa tác hại của thuốc lá mới", do Tổ chức Chiến dịch vì trẻ em không thuốc lá (Mỹ) tài trợ.
Đây là thông tin được chia sẻ tại lễ tổng kết công tác phòng chống lao năm 2025 và phương hướng hoạt động năm 2026 diễn ra tại Hà Nội ngày 7-5.
Chia sẻ tại chương trình, TS.BS Đinh Văn Lượng, Giám đốc Bệnh viện Phổi Trung ương, cho biết trong năm 2025, Việt Nam phát hiện trên 119.000 bệnh nhân lao mới, mức cao nhất từ trước đến nay.
Tỉ lệ điều trị khỏi và hoàn thành điều trị duy trì ở mức 90%. Dù vậy, Chương trình Chống lao Quốc gia vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn.
Cụ thể, gánh nặng bệnh lao tại Việt Nam còn cao so với khu vực, đứng thứ 12/30 nước có gánh nặng bệnh lao, 10/30 nước có gánh nặng bệnh lao kháng thuốc cao nhất trên toàn cầu.
Mầm bệnh lao vẫn âm thầm lây lan trong cộng đồng. Năm 2024, Tổ chức Y tế Thế giới ước tính Việt Nam có 184.000 bệnh nhân lao mới, 9.400 bệnh nhân lao kháng thuốc và khoảng 12.000 người tử vong do lao hằng năm. Trong đó, TP.HCM hiện là địa phương phát hiện nhiều bệnh nhân lao nhất cả nước, với 20.000 ca mỗi năm.
"Ngoài ra, có tới gần 40% bệnh nhân lao chưa được phát hiện và báo cáo. Nguồn lực cho công tác phòng, chống lao tại một số địa phương còn chưa đáp ứng được nhu cầu", TS Lượng nhấn mạnh.
Vì thế, năm nay Chương trình Chống lao xác định trọng tâm là phát hiện bệnh lao gắn với khám sức khỏe định kỳ cho người dân. Để triển khai hiệu quả giải pháp này, Bệnh viện Phổi Trung ương - Chương trình Chống lao Quốc gia đề xuất Bộ Y tế chỉ đạo tất cả các cơ sở y tế triển khai kịp thời, đồng bộ việc lồng ghép khám sàng lọc lao trong khám sức khỏe định kỳ hằng năm cho mỗi người dân.
Báo cáo về chương trình chống lao tại TP.HCM, đại diện Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch cho hay năm qua thành phố đã thực hiện sàng lọc lao gắn với khám sức khỏe định kỳ cho người dân. Thực hiện xây dựng đề án tham mưu cho Sở Y tế về việc tầm soát phát hiện sớm bệnh lao gắn với khám sức khỏe định kỳ. Hiện thành phố đang theo dõi, điều trị cho hơn 20.500 người mắc lao.
Dự kiến trong năm 2026, thành phố ưu tiên lựa chọn mô hình sàng lọc chẩn đoán sớm bệnh lao tùy theo từng khu vực như lồng ghép sàng lọc lao trong khám chữa bệnh cho người nguy cơ mắc lao cao và có triệu chứng nghi lao; khám sức khỏe định kỳ, các chương trình sức khỏe cộng đồng,… nhằm phát hiện sớm bệnh nhân lao để đưa vào điều trị kịp thời.
Theo Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Liên Hương, Chương trình Chống lao Quốc gia vẫn đang đối mặt với những khó khăn, thách thức. "Gánh nặng bệnh lao tại Việt Nam còn cao so với khu vực, chúng ta vẫn là một trong những nước có gánh nặng bệnh lao kháng thuốc cao nhất thế giới. Hằng năm vẫn có hàng chục nghìn người tử vong do lao.
Tình trạng phát hiện muộn, bỏ sót ca bệnh trong cộng đồng vẫn còn cao. Nguồn lực cho công tác phòng, chống lao tại một số địa phương còn chưa đáp ứng được yêu cầu", Thứ trưởng Nguyễn Thị Liên Hương nói.
Để tiến tới mục tiêu chấm dứt bệnh lao tại Việt Nam vào năm 2030, bà đề nghị tập trung một số nhiệm vụ trọng tâm như tổ chức nghiên cứu, đánh giá dịch tễ học bệnh lao, làm cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách và phân bổ nguồn lực hiệu quả; củng cố, nâng cao năng lực của các bệnh viện lao/bệnh viện phổi của các địa phương.
Bên cạnh đó cần tăng cường phát hiện lao trong công tác khám chữa bệnh, coi đây là nhiệm vụ thường quy của tất cả các cơ sở y tế, cả công lập và ngoài công lập.
Một nghiên cứu mới đăng trên American Journal of Preventive Cardiology (Mỹ) cho thấy các vitamin nhóm B, đặc biệt là B1 (thiamin), B2 (riboflavin) và B3 (niacin), đóng vai trò quan trọng trong việc giảm nguy cơ đột quỵ.
Cơ thể cần 6 nhóm dưỡng chất thiết yếu để duy trì sức khỏe, gồm: Carbohydrate, protein, chất béo, vitamin, khoáng chất và nước. Gọi là “thiết yếu” vì cơ thể không tự tạo đủ, buộc chúng ta phải bổ sung qua ăn uống.
Trong khi tinh bột, đạm và nước thường được chú ý, thì vitamin, khoáng chất lại dễ bị bỏ quên. Các vi chất này giữ vai trò quan trọng trong hoạt động enzym, biểu hiện gien và bảo vệ tế bào khỏi stress oxy hóa, theo EatingWell (Mỹ).
Stress oxy hóa có thể làm tổn thương tế bào và góp phần gây viêm mạn tính - một yếu tố chính dẫn đến nhiều bệnh, trong đó có đột quỵ, hiện là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 3 trên thế giới.
Vì việc điều trị đột quỵ cần nhiều thời gian và chi phí cao, phòng ngừa vẫn là chiến lược quan trọng nhất để giảm nguy cơ. Bên cạnh mô hình ăn uống tổng thể, các nhà nghiên cứu ngày càng quan tâm đến vai trò của từng dưỡng chất riêng lẻ, đặc biệt là các vi chất thường bị lãng quên.
Các nhà khoa học muốn tìm hiểu mối liên hệ giữa việc bổ sung vitamin B lâu dài (qua ăn uống và mức vitamin trong máu) với nguy cơ đột quỵ. Sau khi sử dụng và tổng hợp dữ liệu từ 2 nghiên cứu lớn tại Mỹ, họ nhận thấy:
Kết quả này phù hợp với nhiều nghiên cứu trước đó, đặc biệt là với folate trong bảo vệ tim mạch.
Ngoài ra, những người có lượng vitamin B cao cũng có chế độ ăn lành mạnh hơn, thường dùng thực phẩm bổ sung vitamin và quan tâm tới sức khỏe nhiều hơn.
Đặc biệt, kết quả được xác nhận không chỉ từ dữ liệu ăn uống mà còn từ nồng độ vitamin đo trong máu, làm tăng độ tin cậy của phát hiện. Tuy vậy, đây là nghiên cứu quan sát, nên chưa thể khẳng định chắc chắn rằng vitamin B trực tiếp làm giảm nguy cơ đột quỵ mà cần thêm các nghiên cứu can thiệp.
Có 8 loại vitamin B thiết yếu: B1, B2, B3, B5, B6, B7, B9, B12. Mỗi loại có vai trò riêng trong chuyển hóa năng lượng, hoạt động tế bào và sức khỏe tim mạch. Tin tốt là các vitamin này rất phổ biến trong thực phẩm hằng ngày.
Nếu muốn tăng cường vitamin B1, B2, B3 để giảm nguy cơ đột quỵ, mọi người có thể bổ sung từ các loại thực phẩm:
Thay vì tập trung vào một vitamin riêng lẻ, nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng của một chế độ ăn cân bằng gồm ngũ cốc nguyên hạt, đạm nạc, các loại đậu, hạt và sữa. Ngoài ra, thực phẩm bổ sung có thể hữu ích trong một số trường hợp, nhưng không phải lúc nào cũng cần thiết nếu bạn ăn uống cân bằng. Nếu muốn dùng vitamin tổng hợp, nên hỏi ý kiến bác sĩ.