Chia sẻ với phóng viên Dân trí, nhạc sĩ nói anh đang quay chương trình, chưa thể tiết lộ thêm.
Trên trang cá nhân, Nguyễn Văn Chung cho biết anh bất ngờ khi nhận được lời mời từ nhà sản xuất chương trình tham gia mùa 2. Trước đó, anh từng theo dõi mùa đầu tiên của chương trình và có lúc nghĩ đến việc tham gia, nhưng cho rằng đó chỉ là “suy nghĩ thoáng qua”.
Theo nam nhạc sĩ, anh từng ngại ngần từ chối lời mời vì phải cân nhắc nhiều vấn đề trong cuộc sống cá nhân. Ngoài việc có nhiều dự án âm nhạc và lịch làm việc tất bật thời gian qua, anh hiện còn là sinh viên Nhạc viện với lịch học dày đặc.
Bên cạnh đó, Nguyễn Văn Chung cũng sống cùng con trai nên lo lắng không thể dành thời gian cho con trong quá trình tham gia chương trình kéo dài nhiều tháng.
Thế nhưng, sau nhiều buổi trao đổi với ê-kíp sản xuất, nam nhạc sĩ nhận được nhiều sự chia sẻ, hỗ trợ, do đó anh quyết định nhận lời.
“Tôi rất muốn nắm lấy cơ hội này để được sống cùng anh em nghệ sĩ, cùng làm nhạc, học hỏi và biểu diễn. Chỉ nghĩ đến thôi đã thấy háo hức và hạnh phúc”, anh chia sẻ.
Tác giả Nhật ký của mẹ cũng thừa nhận hành trình phía trước sẽ nhiều thử thách, nhưng anh muốn “một lần bước đến ranh giới của chính mình để xem bản thân có thể đi xa đến đâu”.
Nhiều khán giả bày tỏ sự mong đợi màn xuất hiện của nhạc sĩ Nguyễn Văn Chung khi anh thử sức hát và nhảy.
Nguyễn Văn Chung sinh năm 1983, sở hữu nhiều ca khúc quen thuộc với khán giả Việt như Chiếc khăn gió ấm, Con đường mưa, Vầng trăng khóc, Mùa đông không lạnh, Nhật ký của mẹ… Đặc biệt, anh sở hữu ca khúc đạt hàng tỷ lượt xem Viết tiếp câu chuyện hòa bình.
Bên cạnh sáng tác, Nguyễn Văn Chung hiện theo học chính quy tại Học viện Âm nhạc TPHCM.
Tin Gốc: Dân Trí

Con đường đầy lá vàng trong bức tranh Biệt thự Đà Lạt 1 (2013), được giới thiệu tại triển lãm Cuộc chơi với lá của nghệ sĩ Tạ Hải, diễn ra ngày 15-19/4 tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Ông trưng bày hơn 80 tác phẩm, hầu hết được thực hiện khoảng 10 năm trở lại đây.
Con đường đầy lá vàng trong bức tranh Biệt thự Đà Lạt 1 (2013), được giới thiệu tại triển lãm Cuộc chơi với lá của nghệ sĩ Tạ Hải, diễn ra ngày 15-19/4 tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Ông trưng bày hơn 80 tác phẩm, hầu hết được thực hiện khoảng 10 năm trở lại đây.
Nghệ sĩ Tạ Hải dùng những chiếc lá, cánh hoa khô để tạo hình cho bức Hồ Gươm vào thu (2013).
Ông bắt đầu sáng tạo tranh lá từ năm 1965, kiên trì theo đuổi hơn 60 năm. Thường ngày, nghệ sĩ tìm kiếm chất liệu trên các con đường mình đi qua. Bắt gặp những chiếc lá rụng, có màu sắc đẹp, ông nhặt lại, tích lũy cho các tác phẩm. Có lần, trong chuyến đi Nga, thấy lá sồi đẹp, nghệ sĩ cũng chất đầy hai vali. Về nhà, ông không đem phơi nắng hay nhuộm, tẩy mà giữ theo tự nhiên.
Nghệ sĩ Tạ Hải dùng những chiếc lá, cánh hoa khô để tạo hình cho bức Hồ Gươm vào thu (2013).
Ông bắt đầu sáng tạo tranh lá từ năm 1965, kiên trì theo đuổi hơn 60 năm. Thường ngày, nghệ sĩ tìm kiếm chất liệu trên các con đường mình đi qua. Bắt gặp những chiếc lá rụng, có màu sắc đẹp, ông nhặt lại, tích lũy cho các tác phẩm. Có lần, trong chuyến đi Nga, thấy lá sồi đẹp, nghệ sĩ cũng chất đầy hai vali. Về nhà, ông không đem phơi nắng hay nhuộm, tẩy mà giữ theo tự nhiên.
Tác phẩm Mùa hoa cải ven sông (2010).
Theo nghệ sĩ Tạ Hải, khi làm tranh lá, công đoạn khó nhưng cũng thú vị nhất là tìm màu. Nếu họa sĩ có thể dễ dàng chuẩn bị một bảng màu như mong muốn, ông phải đi sưu tầm, chắt lọc ở nhiều nơi. Nghệ sĩ tiếc nuối khi chưa tìm được một số gam màu như xanh coban, tím.
Tác phẩm Mùa hoa cải ven sông (2010).
Theo nghệ sĩ Tạ Hải, khi làm tranh lá, công đoạn khó nhưng cũng thú vị nhất là tìm màu. Nếu họa sĩ có thể dễ dàng chuẩn bị một bảng màu như mong muốn, ông phải đi sưu tầm, chắt lọc ở nhiều nơi. Nghệ sĩ tiếc nuối khi chưa tìm được một số gam màu như xanh coban, tím.
Tranh Làng cổ Đường Lâm (2016). Do phụ thuộc vào màu thiên nhiên, các tác phẩm của Tạ Hải có các màu chủ đạo là đỏ, trắng, vàng, đen, nâu.
Tranh Làng cổ Đường Lâm (2016). Do phụ thuộc vào màu thiên nhiên, các tác phẩm của Tạ Hải có các màu chủ đạo là đỏ, trắng, vàng, đen, nâu.
Bức Được mùa (2018) đưa người xem về không gian yên bình ở miền quê. Trong tranh, nghệ sĩ sử dụng vỏ ngô khô để tạo ánh vàng của bầu trời.
Bức Được mùa (2018) đưa người xem về không gian yên bình ở miền quê. Trong tranh, nghệ sĩ sử dụng vỏ ngô khô để tạo ánh vàng của bầu trời.
Nghệ sĩ Tạ Hải thực hiện tranh Cây gạo trước đền năm 2012. Ông sử dụng một loại keo dính chuyên dụng, có tác dụng chống mối mòn, ẩm mốc, giúp bảo quản chất lượng nghệ thuật cho các tác phẩm.
Nghệ sĩ Tạ Hải thực hiện tranh Cây gạo trước đền năm 2012. Ông sử dụng một loại keo dính chuyên dụng, có tác dụng chống mối mòn, ẩm mốc, giúp bảo quản chất lượng nghệ thuật cho các tác phẩm.
Tranh Làng quê (2010), khắc họa khung cảnh thanh bình ở nông thôn, là chủ đề được Tạ Hải yêu thích. Ông cho biết sinh ra và lớn lên ở thành phố nên luôn thèm ngắm nhìn những ngôi nhà mái rạ, đống rơm, nhà tranh vách đất.
Tranh Làng quê (2010), khắc họa khung cảnh thanh bình ở nông thôn, là chủ đề được Tạ Hải yêu thích. Ông cho biết sinh ra và lớn lên ở thành phố nên luôn thèm ngắm nhìn những ngôi nhà mái rạ, đống rơm, nhà tranh vách đất.
Tác phẩm Đi chợ vùng cao (2012).
Theo nghệ sĩ Tạ Hải, điều khiến ông kiên trì theo một chất liệu trong hơn 60 năm là tình yêu lớn với thiên nhiên, trân trọng những gì tự nhiên mang lại. Trước những chiếc lá, cánh hoa rụng mà nhiều người bỏ đi, ông vẫn nhìn thấy sức sống riêng, muốn tái tạo chúng bằng cách đưa vào các bức tranh của mình.
Tác phẩm Đi chợ vùng cao (2012).
Theo nghệ sĩ Tạ Hải, điều khiến ông kiên trì theo một chất liệu trong hơn 60 năm là tình yêu lớn với thiên nhiên, trân trọng những gì tự nhiên mang lại. Trước những chiếc lá, cánh hoa rụng mà nhiều người bỏ đi, ông vẫn nhìn thấy sức sống riêng, muốn tái tạo chúng bằng cách đưa vào các bức tranh của mình.
Sắc vàng bao phủ một góc đường trong bức tranh Đà Lạt (2021).
Ngoài các sáng tác được trưng bày ở triển lãm, ông có hơn 500 bức tại nhà. Nghệ sĩ đóng khung kính cho tranh, không đặt ở tầng thấp để tránh ẩm, mốc.
Sắc vàng bao phủ một góc đường trong bức tranh Đà Lạt (2021).
Ngoài các sáng tác được trưng bày ở triển lãm, ông có hơn 500 bức tại nhà. Nghệ sĩ đóng khung kính cho tranh, không đặt ở tầng thấp để tránh ẩm, mốc.
Tranh Suối hoa (2016).
Bên cạnh những sáng tác về phong cảnh ở Việt Nam và một số quốc gia, nghệ sĩ trưng bày các bức chân dung, khắc họa vẻ đẹp con người.
Phó giáo sư, Tiến sĩ Nghệ thuật học Nguyễn Đức Bảo nhận định tranh lá của Tạ Hải là ''một lối chơi tao nhã đầy bản sắc, góp một tiếng nói cảm xúc mới lạ và làm phong phú đời sống thẩm mỹ đương đại'', ''một tâm thức chân quê đằm thắm, là góc nhìn của những người con không quên cội nguồn văn hóa''.
Tranh Suối hoa (2016).
Bên cạnh những sáng tác về phong cảnh ở Việt Nam và một số quốc gia, nghệ sĩ trưng bày các bức chân dung, khắc họa vẻ đẹp con người.
Phó giáo sư, Tiến sĩ Nghệ thuật học Nguyễn Đức Bảo nhận định tranh lá của Tạ Hải là ''một lối chơi tao nhã đầy bản sắc, góp một tiếng nói cảm xúc mới lạ và làm phong phú đời sống thẩm mỹ đương đại'', ''một tâm thức chân quê đằm thắm, là góc nhìn của những người con không quên cội nguồn văn hóa''.
Nghệ sĩ Tạ Hải bên tác phẩm của mình. Ông đã thực hiện hai triển lãm cá nhân trước đó, lần lượt vào năm 1998 và 2008. Nhìn lại 'cuộc dạo chơi', ông đúc kết bằng những câu thơ: ''Thừa lá làm chi chẳng vẽ vời. Ai mà hỏi tớ, tớ chỉ cười. Thơ thẩn nhặt từng chiếc lá rụng. Vẽ vời với tớ ấy cuộc chơi''.
Nghệ sĩ Tạ Hải bên tác phẩm của mình. Ông đã thực hiện hai triển lãm cá nhân trước đó, lần lượt vào năm 1998 và 2008. Nhìn lại 'cuộc dạo chơi', ông đúc kết bằng những câu thơ: ''Thừa lá làm chi chẳng vẽ vời. Ai mà hỏi tớ, tớ chỉ cười. Thơ thẩn nhặt từng chiếc lá rụng. Vẽ vời với tớ ấy cuộc chơi''.
Tin Gốc: Vnexpress

Tác giả Lê Viết Yên, người em kết nghĩa của ông, cho biết nhà thơ ra đi nhẹ nhàng, thanh thản. Buổi sáng, ông Viết Yên vẫn còn đút cho nhà thơ ăn yến, trò chuyện cùng ông. Một năm nay, sức khỏe suy yếu nên ông không còn ngồi tại quán cà phê gần nhà, trò chuyện cùng bạn bè, người hâm mộ như trước. Một tuần trước, ông bắt đầu ăn ít và yếu dần.
Linh cữu nhà thơ sẽ được đặt tại chùa Vĩnh Nghiêm từ ngày 7 đến ngày 9/5, trước khi đi hỏa táng tại Trung tâm Bình Hưng Hòa.
Nhà thơ tên khai sinh là Phạm Kim Long, sinh năm 1940 ở Kiến Xương, Thái Bình (hiện là Hưng Yên). Ông bộc lộ năng khiếu văn chương từ nhỏ, bắt đầu làm thơ từ năm 13 tuổi. Năm 1954, ông chuyển vào miền Nam sinh sống. Tại đây, ông từng đi tu và học tại Trường Đại học Vạn Hạnh Phật học rồi lại hoàn tục. Năm 1968, ông bắt đầu xuất hiện trên thi đàn với tập Thơ Phạm Thiên Thư, nhanh chóng được độc giả yêu thích.
Bài thơ nổi tiếng nhất của ông là Ngày xưa Hoàng Thị, ra đời năm 1966 khi ông hồi tưởng những hồi ức về chuyện tình học trò khi xưa. Ông từng chia sẻ "nàng thơ" của tác phẩm là bà Hoàng Thị Ngọ, kém ông hai tuổi, học chung lớp ở trường trung học Văn Lang. Nhà của cả hai đều nằm ở khu vực Tân Định - Sài Gòn, cùng đi qua con đường Trần Quang Khải với những cây dầu cao vút. Trong bài thơ, ông viết: "Mười năm rồi Ngọ/ Tình cờ qua đây/ Cây xưa vẫn gầy/ Phơi nghiêng dáng đỏ/ Áo em ngày nọ/ Phai nhạt mấy màu/ Chân theo tìm nhau/ Còn là vang vọng".
Tác phẩm nổi tiếng hơn khi được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc thành ca khúc cùng tên, công bố năm 1971, qua phần thể hiện của danh ca Thái Thanh. Ngoài Ngày xưa Hoàng thị, nhạc sĩ Phạm Duy từng phổ thơ ông thành các bài Đưa em tìm động hoa vàng, Em lễ chùa này, Gọi em là đóa hoa sầu.
Ông còn viết Đoạn trường vô thanh để kể tiếp Truyện Kiều của Nguyễn Du, soạn lại Bộ Kinh Hiền của Phật giáo thành thơ Kinh Hiền Hội Hoa Đàm, viết Từ điển cười - Tiếu liệu pháp bằng 24 nghìn câu thơ tứ tuyệt.
Ông nổi tiếng vì những áng thơ thấm đẫm tinh thần Phật giáo, ảnh hưởng từ những năm tu tập. Sinh thời, ông cho biết: "Tôi vào chùa vì một biến cố cá nhân. Còn sau đó, khi đã trải qua ngần ấy năm trong cửa thiền, tôi đã hiểu thiền và quyết định hoàn tục với cái lý người ta có thể tìm thấy chân lý của thiền ngay trong cõi trần tục".
Trong cuốn Hội hoa đàm, Thượng tọa Thích Tâm Giác từng viết về Phạm Thiên Thư ở phần giới thiệu: "Ông đã mở ra một trang sử mới cho nền văn học Phật giáo Việt Nam trong việc thi hóa kinh Phật và mang giáo nghĩa giải thoát vào thi ca dân tộc. Mỗi khi nghe lời thơ Đạo Ca, ngâm Đoạn trường vô thanh và đọc Kinh Ngọc, Kinh Thơ, Kinh Hiền... của thi sĩ họ Phạm, người ta như thể không còn phân biệt nổi biên giới giữa Đạo và Đời mà dường như bị hút vào một dòng sinh lực không gian vô tận dung hòa mọi tư tưởng nhân sinh. Phải chăng, đó là nét đặc thù của Phật giáo Việt Nam đã hơn một lần chói sáng qua triều đại Lý, Trần".
Tin Gốc: Vnexpress
Giải Trí
Lục Tiểu Linh Đồng nói gì về nhận định 'chỉ sống nhờ vai Tôn Ngộ Không'?

Hơn 40 năm theo đuổi nghệ thuật, tên tuổi của Lục Tiểu Linh Đồng gắn liền với vai Tôn Ngộ Không trong Tây du ký (bản 1986). Theo China News, phim không chỉ gây tiếng vang ở Trung Quốc mà còn phổ biến tại nhiều quốc gia trên thế giới, đến nay đã được chiếu hơn 4.000 lần ở trong lẫn ngoài nước, trở thành một tác phẩm kinh điển khó vượt qua.
Hình tượng Tôn Ngộ Không do Lục Tiểu Linh Đồng thể hiện cũng trở thành biểu tượng màn ảnh trong lòng hàng triệu triệu khán giả. Sau tác phẩm kinh điển này, ông từng đảm nhận nhiều vai diễn khác nhau song độ nổi tiếng lẫn sức ảnh hưởng không tài nào sánh được với hình tượng "Tề Thiên Đại Thánh". Trong cuộc trò chuyện được China News đăng tải mới đây, diễn viên 67 tuổi không phủ nhận điều này, ngược lại ông nói rằng mình có lẽ là diễn viên hạnh phúc nhất Trung Quốc, thậm chí là trên toàn thế giới.
Lục Tiểu Linh Đồng tự hào: "Nhiều khi đặt chân đến một nơi nào đó, tôi hỏi khán giả rằng có ai chưa từng xem phiên bản Tây du ký của Đài truyền hình trung ương Trung Quốc (CCTV) sản xuất mà tôi tham gia diễn xuất không? Gần như không có ai giơ tay. Một diễn viên có thể đạt đến mức độ như vậy thật là hạnh phúc".
Nghệ sĩ U.70 cũng cho biết phiên bản Tôn Ngộ Không này được công chúng công nhận không phải vì cá nhân ông giỏi đến mức nào mà nhờ nền tảng hầu hí và nghệ thuật truyền thống Trung Quốc. "Chúng tôi thường nói rằng, với tư cách là một diễn viên, khi đóng cùng một nhân vật, bạn phải làm được những điều người khác không làm được, làm tốt hơn người khác, làm khéo léo hơn người khác, làm xuất sắc hơn người khác và làm điều gì đó hoàn toàn khác biệt so với người khác", ông chia sẻ. Diễn viên cho rằng điều khó nhất chính là đạt đến "cảnh giới hóa thân".
Lục Tiểu Linh Đồng cũng cho rằng Tây du ký bản 1986 được làm tốt nhờ nỗ lực chung của toàn bộ ê-kíp hàng nghìn người. Thời điểm đó, thù lao của đạo diễn Dương Khiết lẫn dàn diễn viên, nhân viên sản xuất đều rất thấp. "Tôi quay 25 tập phim trong 6 năm, cát sê chưa đến 2.000 tệ nhưng lại vô cùng mãn nguyện", nam diễn viên nhắc lại.
Về việc Tây du ký (1986) duy trì sức hút suốt 40 năm qua, Lục Tiểu Linh Đồng cho rằng nguyên nhân nằm ở việc nắm bắt được cốt lõi của văn hóa trên thống. "Từ cốt truyện, nhân vật đến việc chuyển thể kịch bản, đạo diễn Dương Khiết tuân theo phương châm: trung thành với nguyên tác, thận trọng khi đổi mới". Quan niệm chuyển thể này thể hiện rõ trong nội dung phim. Theo lời nam diễn viên chính, phiên bản Tây du ký này không hoàn toàn sao chép nguyên tác. Ông cho biết phim đã lược bỏ những chi tiết không phù hợp với trẻ em, đồng thời diễn giải tinh tế hơn những đoạn tương đối đơn giản trong tiểu thuyết gốc.
Một ví dụ điển hình là tập ở Nữ nhi quốc, Lục Tiểu Linh Đồng cho biết đạo diễn Dương Khiết đã tự viết lời bài thoại và thêm nhiều phân đoạn thiên về diễn xuất nội tâm. Dù có đổi mới, nhưng chính tập này lại trở thành một kinh điển được khán giả chấp nhận rộng rãi. Nói cách khác, chuyển thể phim ảnh cần có chừng mực - logic nhưng vẫn tạo được bất ngờ. Chính vì vậy, qua sự chọn lọc của nhiều thế hệ khán giả, sau nhiều năm nhìn lại, Tây du ký bản (1986) vẫn là một tác phẩm kinh điển, không hề lỗi thời.
Lục Tiểu Linh Đồng (tên thật: Chương Kim Lai) sinh năm 1959 tại Thượng Hải (Trung Quốc) trong gia đình có 4 đời theo truyền thống biểu diễn hầu hí (kịch khỉ), gắn với vai Tôn Ngộ Không. Sau Tây du ký bản CCTV, nghệ sĩ còn đóng nhiều bộ phim khác nhau: Lần theo dấu vết 309, 1939, Nghĩa hải phong vân, Liên thành quyết, Bảy nàng tiên... nhưng không vượt qua cái bóng của tác phẩm năm xưa.
Ở tuổi U.70, Lục Tiểu Linh Đồng tích cực tham gia các hoạt động nghệ thuật, giải trí, chú trọng các dự án tôn vinh văn hóa, nghệ thuật dân gian. Đặc biệt, đặt nhiều tâm huyết trong việc tôn vinh "văn hóa Tây Du Ký", "tinh thần Tây Du Ký", quảng bá nghệ thuật hầu hí. Ông kết hôn với nghệ sĩ Vu Hồng năm 1988, chung sống hạnh phúc đến nay. Hai người có một con gái là Chương Đồng Đồng (sinh năm 1990).
Tin Gốc: Thanh Niên

