Trong văn bản trả lời kiến nghị của Công ty TNHH Tập đoàn Sơn Hải, Bộ Xây dựng không đồng tình với nhiều đề xuất liên quan kéo dài thời gian bảo hành công trình, cắm biển công khai tên nhà thầu trên tuyến và cơ chế không giữ tiền hoặc bảo lãnh bảo hành.
Trước đó tháng 4, Tập đoàn Sơn Hải kiến nghị nâng thời gian bảo hành công trình giao thông tối thiểu từ 2 năm lên 10 năm. Doanh nghiệp cho rằng mức bảo hành hiện nay quá ngắn so với tuổi thọ công trình và nếu kéo dài thêm một năm, riêng Cục Đường bộ Việt Nam có thể tiết kiệm hơn 12.500 tỷ đồng chi phí bảo trì mỗi năm. Nếu tăng thêm 8 năm, số tiền tiết kiệm có thể vượt 100.000 tỷ đồng.
Tuy nhiên, Bộ Xây dựng cho rằng cách tính này chưa phản ánh đúng bản chất giữa bảo hành và bảo trì công trình. Khoản kinh phí hơn 12.500 tỷ đồng mà Cục Đường bộ Việt Nam dự kiến sử dụng năm 2025 chủ yếu dành cho quản lý, bảo trì định kỳ, sửa chữa hư hỏng trong quá trình khai thác, khắc phục thiên tai và duy tu hệ thống quốc lộ, không phải toàn bộ là chi phí xử lý lỗi của nhà thầu sau bảo hành.
Cơ quan này nhấn mạnh bảo hành chỉ áp dụng với các khiếm khuyết phát sinh do lỗi thi công của nhà thầu trong một khoảng thời gian nhất định, còn bảo trì là hoạt động diễn ra thường xuyên trong suốt vòng đời công trình. Hiệp hội các nhà đầu tư công trình giao thông đường bộ Việt Nam cũng cho rằng nếu áp dụng cứng thời gian bảo hành 10 năm với mọi dự án giao thông, chi phí bảo lãnh, bảo hiểm, dự phòng rủi ro và giá dự thầu sẽ tăng đáng kể.
Trong bối cảnh doanh nghiệp xây dựng đang chịu áp lực lớn từ giá vật liệu, nhiên liệu, lãi vay và chi phí vận tải, quy định này có thể khiến tổng mức đầu tư dự án tăng cao.
Ngoài ra, Bộ cho rằng thời gian bảo hành 10 năm cũng không phù hợp với chu kỳ sửa chữa công trình giao thông hiện nay. Theo quy trình bảo trì, mặt đường bêtông nhựa thường sửa chữa sau khoảng 5 năm khai thác và sau 2 lần trung tu sẽ thực hiện đại tu. “Việc kéo dài thời gian bảo hành lên 10 năm sẽ không đúng với bản chất của công tác bảo hành công trình”, Bộ Xây dựng nêu.
Cơ quan này cũng cho biết mỗi loại công trình có quy mô, tính chất và đặc điểm kỹ thuật khác nhau nên không thể áp dụng một mức bảo hành cứng cho tất cả dự án. Tại Nhật Bản, thời hạn trách nhiệm hợp đồng với công trình xây dựng thông thường là 2 năm kể từ ngày bàn giao, còn thiết bị, máy móc thường là một năm. Mốc 10 năm chỉ áp dụng đặc thù với nhà ở mới, chủ yếu cho kết cấu chính và chống thấm, không phải chuẩn chung với công trình giao thông.
Không đồng tình cắm biển tên nhà thầu
Ngoài đề xuất kéo dài bảo hành, Tập đoàn Sơn Hải cũng kiến nghị bắt buộc cắm biển công khai tên nhà thầu trên tuyến để người dân giám sát chất lượng công trình. Bộ Xây dựng cho biết pháp luật hiện hành đã yêu cầu chủ đầu tư lắp biển thông tin công trình trong quá trình thi công, trong đó có tên chủ đầu tư, nhà thầu, đơn vị thiết kế và giám sát. Bộ không đồng tình với việc duy trì biển tên nhà thầu sau khi công trình hoàn thành.
Nguyên nhân là việc nâng cao chất lượng công trình cần giải pháp đồng bộ từ hoàn thiện tiêu chuẩn kỹ thuật, siết quản lý thiết kế – thi công, tăng giám sát thực tế đến nâng năng lực nhà thầu, thay vì chỉ nhằm “nâng cao ý thức” qua biển công khai.
Bộ Xây dựng cũng cho rằng việc bổ sung các biển thông tin bảo hành trên tuyến có thể gây nhiễu với người tham gia giao thông vì đây không phải biển phục vụ an toàn đường bộ. Hiện Bộ chưa ghi nhận quốc gia nào bắt buộc nhà thầu phải cắm biển công khai tên sau khi hoàn thành công trình.
Với các dự án có nhiều nhà thầu tham gia, Bộ cho rằng trách nhiệm chất lượng cần được cơ quan chuyên môn đánh giá thay vì để người dân tự xác định. Thay vì cắm biển trên đường, Bộ sẽ nghiên cứu công khai thông tin nhà thầu, chất lượng và thời gian bảo hành công trình trên cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng và các cổng thông tin điện tử.
Một đề xuất khác của Sơn Hải là không giữ lại tiền hoặc bảo lãnh bảo hành tự nguyện của nhà thầu sau thời gian bảo hành theo quy định. Bộ Xây dựng cho biết pháp luật hiện hành quy định mức bảo hành tối thiểu từ 3-5% giá trị hợp đồng tùy cấp công trình. Khoản bảo đảm này có thể bằng tiền hoặc bảo lãnh ngân hàng và chỉ được hoàn trả sau khi hết thời hạn bảo hành.
Theo Bộ, đa số cơ quan quản lý, chủ đầu tư và doanh nghiệp xây dựng lớn đều cho rằng việc giữ tiền hoặc bảo lãnh bảo hành là cần thiết để ràng buộc trách nhiệm nhà thầu và bảo đảm có nguồn kinh phí xử lý khiếm khuyết nếu phát sinh. “Việc không khắc phục kịp thời hư hỏng do lỗi của nhà thầu sẽ gây rủi ro cho chủ đầu tư và người sử dụng công trình, đặc biệt với đường cao tốc”, Bộ Xây dựng nêu.
Tuy nhiên, cơ quan này cho biết nếu nhà thầu tự nguyện cam kết bảo hành dài hơn quy định, chủ đầu tư và nhà thầu có thể thương thảo trong hợp đồng về phạm vi trách nhiệm, cơ chế xử lý và xem xét không tiếp tục giữ tiền hoặc bảo lãnh trong phần thời gian kéo dài thêm.
Phó thủ tướng thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc thừa lệnh Thủ tướng vừa ký quyết định phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch chung đô thị Khánh Hòa đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075.
Theo quyết định, quy mô lập quy hoạch gồm tổng diện tích tự nhiên lập quy hoạch khoảng 8.706,74km² và phần diện tích biển có ranh giới ngoài cách đường mép nước biển thấp nhất trung bình nhiều năm một khoảng cách 6 hải lý.
Mục tiêu là xây dựng và phát triển Khánh Hòa là đô thị loại I và trở thành thành phố trực thuộc trung ương hiện đại, thông minh, xanh và bền vững; là cực tăng trưởng quan trọng của cả nước, đô thị biển - cửa ngõ quốc tế có sức cạnh tranh cao.
Theo tính chất quy hoạch, đô thị Khánh Hòa là đô thị biển có vị trí chiến lược quan trọng trong tổ chức không gian phát triển ven biển quốc gia, phát triển theo hướng hiện đại, thông minh, xanh, bền vững, hài hòa giữa đô thị với biển, đảo và vùng sinh thái tự nhiên, gắn với bảo tồn cảnh quan, môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Là khu vực có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về quốc phòng, an ninh, gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo và đặc khu Trường Sa, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh, bảo đảm ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội.
Dự kiến đến năm 2030, tổng quy mô dân số đô thị Khánh Hòa là khoảng 2,7 - 2,8 triệu người, đến năm 2040 khoảng 3,7 - 3,8 triệu người; đến năm 2050 khoảng 5,0 - 5,1 triệu người.
Đô thị Khánh Hòa định hướng trở thành trung tâm tổng hợp về kinh tế, văn hóa, khoa học - công nghệ và giao thương quốc tế của quốc gia, của vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.
Là cực tăng trưởng và trung tâm động lực quan trọng của vùng; trung tâm phát triển kinh tế biển, công nghiệp công nghệ cao, logistics, dịch vụ chất lượng cao, năng lượng sạch, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo; có vai trò kết nối các hành lang kinh tế ven biển, liên vùng và quốc tế.
Đồng thời là trung tâm dịch vụ, du lịch biển quốc tế; hạt nhân phát triển du lịch, nghỉ dưỡng, hội nghị - sự kiện của vùng và cả nước.
Yêu cầu đặt ra đối với quy hoạch Khánh Hòa sẽ chú trọng vào hình thành các cực tăng trưởng mới chuyên biệt, như đô thị sân bay, cảng biển, đổi mới sáng tạo… theo mô hình nén và phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD) để giảm tải cho trung tâm cũ, tạo động lực phát triển cân bằng và bền vững cho toàn đô thị.
Xử lý các mâu thuẫn, chồng chéo về không gian phát triển, hạ tầng kỹ thuật và mục tiêu sử dụng đất tại các khu vực giáp ranh giữa tỉnh Khánh Hòa và Ninh Thuận cũ sau khi sáp nhập.
Phát triển hệ thống giao thông tích hợp lấy đường sắt tốc độ cao, sân bay (cảng hàng không quốc tế Cam Ranh, Vân Phong, Thành Sơn) và hệ thống cảng biển nước sâu làm nòng cốt. Ưu tiên quy hoạch các khu vực chức năng xung quanh các đầu mối giao thông (mô hình TOD) để tối ưu hóa giá trị đất đai.
Định hình bản sắc đô thị "biển - sông - núi" thông qua việc thiết lập hệ thống hạ tầng xanh đa chức năng, bảo vệ cảnh quan vịnh và các hành lang sinh thái đặc thù.
Về định hướng kiến trúc, cảnh quan, nghiên cứu hình thành các trục không gian cảnh quan - du lịch - sinh thái kết nối từ vùng núi phía tây (Khánh Vĩnh, Khánh Sơn) ra biển trên cơ sở các hành lang theo hệ thống sông chính của đô thị như sông Cái Nha Trang, sông Dinh...
Hệ thống cửa ngõ đô thị gắn với liên kết vùng được xác định qua các đầu mối chiến lược như sân bay quốc tế Cam Ranh, cảng Vân Phong, cảng Cà Ná và các tuyến kết nối chính với vùng Tây Nguyên (qua cao tốc Khánh Hòa - Buôn Ma Thuột).
UBND tỉnh Lâm Đồng vừa có báo cáo tiến độ cùng các khó khăn, vướng mắc của dự án thủy điện tích năng Đơn Dương, đồng thời đề xuất hướng tháo gỡ.
Theo UBND tỉnh Lâm Đồng, dự án được quy hoạch cách phường Xuân Hương - Đà Lạt khoảng 20 km về phía đông - nam. Hồ trên đặt tại phường Xuân Trường, còn hồ dưới sử dụng hồ Đơn Dương hiện hữu của Nhà máy thủy điện Đa Nhim. Tổng diện tích sử dụng đất dự kiến hơn 212,4 ha, trong đó đất sử dụng lâu dài 138,4 ha.
Sở Công thương tỉnh Lâm Đồng cho biết, về kỹ thuật, đây là nhà máy thủy điện tích năng kiểu ngầm, gồm các hạng mục chính như hồ trên, tuyến năng lượng (đường hầm dẫn nước, ống áp lực, tháp điều áp, hầm xả), nhà máy ngầm và hệ thống đấu nối lưới điện 500 kV.
Thực hiện chỉ đạo của Bộ Công thương, EVN đã giao tư vấn J-Power (Nhật Bản) làm tư vấn chính, phối hợp với các đơn vị liên quan khảo sát, lập hồ sơ báo cáo nghiên cứu khả thi. Tuy nhiên, EVN đang tiếp tục khảo sát, tính toán lại một số nội dung.
Ngày 11.8.2025, EVN báo cáo UBND tỉnh Lâm Đồng đã tối ưu hóa phương án tuyến và bố trí tổng thể mặt bằng, nhằm giảm tối đa diện tích sử dụng đất lâu dài cho dự án. Hiện EVN đang thẩm tra trước khi trình UBND tỉnh chấp thuận chủ trương đầu tư.
Mới đây, ngày 5.2, EVN cùng đoàn công tác của Ngân hàng Thế giới đã làm việc với UBND tỉnh Lâm Đồng để tìm hiểu quy trình lựa chọn nhà đầu tư, phê duyệt dự án và các nội dung liên quan, phục vụ công tác chuẩn bị đầu tư dự án thủy điện tích năng Đơn Dương.
Theo UBND tỉnh Lâm Đồng, khó khăn lớn nhất hiện nay nằm ở sự không thống nhất về quy mô công suất.
Cụ thể, tại Quy hoạch điện 7 và Quy hoạch điện 7 điều chỉnh được Chính phủ phê duyệt, dự án được phê duyệt với công suất 1.200 MW và giao EVN làm chủ đầu tư.
Tuy nhiên, trong Quy hoạch điện 8, dự án lại được xác định công suất 900 MW (tổ máy số 1 công suất 300 MW vận hành giai đoạn 2026 - 2030; tổ máy số 2 và 3 công suất 600 MW vận hành giai đoạn 2031 - 2035), đồng thời không xác định rõ chủ đầu tư.
Một cán bộ Sở Công thương tỉnh Lâm Đồng cho biết, EVN hiện lập hồ sơ theo quy mô 1.200 MW, trong khi cơ quan quản lý địa phương phải căn cứ theo quy hoạch mới là 900 MW. Sự "lệch pha" này khiến tỉnh chưa thể tiếp nhận hồ sơ do thiếu căn cứ pháp lý để thẩm định.
Ngoài ra, dự án thủy điện tích năng Đơn Dương còn đối mặt với nhiều thách thức khác như: yêu cầu đánh giá chi tiết điều kiện địa chất khu vực hồ trên và tuyến hầm; phương án đấu nối lưới điện 500 kV; bài toán cân đối nguồn vốn đầu tư lớn; cũng như cơ chế lựa chọn nhà đầu tư khi chưa xác định rõ hình thức triển khai.
Để tháo gỡ, UBND tỉnh Lâm Đồng kiến nghị Bộ Công thương và các cơ quan liên quan sớm có văn bản hướng dẫn thống nhất quy mô công suất chính thức của dự án. Đây được xem là điều kiện tiên quyết để hoàn thiện hồ sơ, trình chủ trương đầu tư và triển khai các bước tiếp theo.
Đồng thời, cần sớm xác định cơ chế đầu tư (EVN tiếp tục làm chủ đầu tư hoặc lựa chọn nhà đầu tư khác), làm rõ nguồn vốn và phương thức huy động, trong đó có thể xem xét sự tham gia của các tổ chức tài chính quốc tế như Ngân hàng Thế giới.
Theo đánh giá của tỉnh Lâm Đồng, khi được triển khai, dự án thủy điện tích năng Đơn Dương sẽ góp phần phát triển hạ tầng năng lượng, tạo việc làm trong giai đoạn xây dựng và vận hành, đồng thời thúc đẩy đầu tư vào các lĩnh vực liên quan như giao thông, dịch vụ và công nghiệp hỗ trợ.
Theo các chuyên gia, dự án thủy điện tích năng Đơn Dương được xác định là hạ tầng kỹ thuật quan trọng, góp phần điều tiết hiệu quả hệ thống điện.
Khác với thủy điện truyền thống, thủy điện tích năng Đơn Dương vận hành theo cơ chế bơm - tích - phát. Cụ thể, nhà máy tận dụng nguồn điện dư vào giờ thấp điểm để bơm nước lên hồ trên, sau đó phát điện trở lại vào giờ cao điểm khi nhu cầu tăng cao.
Khi hoàn thành, thủy điện tích năng Đơn Dương sẽ đóng vai trò điều tiết phụ tải cho hệ thống điện khu vực phía nam, đặc biệt trong bối cảnh tỷ trọng năng lượng tái tạo ngày càng tăng nhanh.
Công trình không chỉ giúp tận dụng hiệu quả nguồn điện dư vào giờ thấp điểm, mà còn góp phần giảm áp lực vận hành, nâng cao độ ổn định và an toàn cho lưới điện.
Ngày 16.5, Cục CSGT (Bộ Công an) cho biết, cơ quan này đang phối hợp với Cục Đường bộ Việt Nam (Bộ Xây dựng) và các đơn vị liên quan nghiên cứu sử dụng các biện pháp kỹ thuật trong tổ chức hạ tầng giao thông đáp ứng thực tiễn tình hình trật tự an toàn giao thông hiện nay.
Trong đó, Cục CSGT cùng các đơn vị liên quan sẽ nghiên cứu bố trí, tổ chức giao thông linh hoạt phân làn đường theo giờ cao điểm. Vào giờ cao điểm buổi sáng mở nhiều làn đường cho xe từ ngoại ô vào trung tâm và ngược lại vào giờ tan tầm buổi chiều.
Cụ thể, Cục CSGT đang tiến hành nghiên cứu cách tổ chức giao thông tại tuyến Nguyễn Chí Thanh và Lê Văn Lương (Hà Nội) để tổ chức giao thông bằng cách xén dải phân cách giữa đường để tối ưu hóa việc phân làn đường ưu tiên chuyển đổi dòng xe phụ thuộc vào lưu lượng phương tiện tham gia giao thông theo thời gian thực tương tự như tuyến đường Cộng Hòa (TP.HCM) đã tổ chức giao thông từ ngày 15.5.
Ngoài ra, Cục CSGT cũng nghiên cứu việc trồng cây xanh tại dải phân cách giữa đường và ven đường để đảm bảo an toàn giao thông, tránh tình trạng cây trồng tại dải phân cách giữa đường che khuất tầm nhìn, gây nguy hiểm cho người lái xe hoặc cây trồng ven đường gãy, đổ gây cản trở giao thông.
Đồng thời, Cục CSGT cũng nghiên cứu chuẩn hóa tổ chức giao thông tại các nút giao gồm: điều khiển chu kỳ đèn tín hiệu giao thông đáp ứng lưu lượng phương tiện lưu thông theo thời gian thực; bố trí khu vực làn chờ đèn tín hiệu giao thông cho xe mô tô, xe gắn máy; biển báo hiệu, vạch kẻ đường…