Tôi nghỉ hưu khi vừa bước qua tuổi 50 – thời điểm mà nhiều người nói tôi đang ở “đỉnh cao” của tiền bạc, vị trí và các mối quan hệ. Trước khi dừng lại, tôi là Trưởng phòng tại một công ty thương mại, thu nhập trung bình mỗi tháng khoảng 70 triệu đồng, chưa kể thưởng. Quyết định ấy khiến không ít người thân, bạn bè của tôi tiếc nuối. Có người bạn thân còn mắng tôi: “Ông có điên không khi buông bỏ tất cả lúc này?”.
Thật ra, tôi không điên. Tôi chỉ mệt. Nhiều năm trước đó, cuộc sống của tôi gắn liền với những buổi tiếp khách kéo dài, những cuộc nhậu triền miên, những mối quan hệ xã giao mà đôi khi chính tôi cũng không còn phân biệt được đâu là thật lòng, đâu là nghĩa vụ? Lịch làm việc kín mít, điện thoại không lúc nào ngừng đổ chuông. Nhiều người nghĩ đó là thành đạt, nhưng cơ thể tôi thì không nghĩ vậy.
Sức khỏe của tôi bắt đầu lên tiếng. Tôi mất ngủ triền miên, viêm loét dạ dày, huyết áp cao… Đó là lúc tôi nhận ra mình không còn đủ sức để “đánh đu” với chính guồng quay công việc mà mình đã tạo ra nữa. Tôi bắt đầu tự hỏi: nếu cứ tiếp tục như vậy, mình sẽ giữ được gì và đánh mất những gì?
Tôi muốn dừng lại, để xem mình là ai nếu không còn danh xưng, chức vụ? Tôi muốn sống chậm hơn, cảm nhận rõ hơn những điều giản dị mà trước đây mình đã bỏ lỡ.
>> Tôi ‘sợ’ nghỉ hưu sớm dù có nhà, đất và 2,7 tỷ đồng tiết kiệm
Những ngày đầu nghỉ hưu quả thực không hề dễ chịu. Tôi có nhiều thời gian hơn, nhưng cũng có những khoảng trống khó lấp. Thỉnh thoảng, nghe bạn bè kể về những chuyến du lịch sang trọng, những bữa tiệc xa hoa, những món đồ hiệu đắt tiền, tôi cũng chạnh lòng. Nhưng rồi, tôi chợt nhận ra: chẳng phải chính vì những điều đó mà mình đã chọn rời đi hay sao?
Tôi không nghỉ hưu để tiếp tục chạy theo những cuộc vui khác. Tôi nghỉ để thoát khỏi vòng xoáy mà mình từng thấy mệt mỏi. Vậy thì có gì phải tiếc nuối khi người khác vẫn đang sống trong điều mà mình đã chủ động buông bỏ?
Dần dần, tôi học cách tận hưởng cuộc sống theo cách rất khác. Một buổi sáng dậy sớm đi bộ, một tách trà uống chậm, một buổi chiều ngồi đọc sách mà không bị làm phiền… Sức khỏe cải thiện, tinh thần nhẹ nhõm hơn, và quan trọng nhất, tôi cảm thấy mình “trở lại” với chính mình.
Ở tuổi này, tôi hiểu rằng con người ta cuối đời không hối tiếc vì đã từ bỏ một chức danh hay một khoản thu nhập. Điều khiến ta day dứt thường là những điều ta từng muốn làm nhưng không dám làm. Tôi đã chọn làm điều mà mình tin là đúng, dù nó đi ngược lại kỳ vọng của nhiều người. Và đến bây giờ, tôi không hối hận.
Khi bạn cảm thấy cần dừng lại, hãy lắng nghe chính mình. Cuộc đời này không dài như ta tưởng. Có những trải nghiệm, nếu không làm ngay, có thể sẽ không còn cơ hội. Vì vậy, nếu đã nghĩ đến, thì hãy dám làm để sau này, khi nhìn lại, ta không phải tiếc nuối vì mình đã không thử.
Do Minh HaiĐắn đo bỏ việc lương 40 triệu để nghỉ hưu sớm ở tuổi 47
Cuộc sống của tôi sau khi nghỉ hưu sớm tuổi 45
45 tuổi nghỉ hưu sớm, sống nhờ lãi tiết kiệm tháng 25 triệu đồng
Vỡ mộng nghỉ hưu sớm dù tháng kiếm 40 triệu từ dãy trọ cho thuê
Tôi đã tìm ra cách nghỉ hưu sớm tuổi 40 cho mình
Hai năm đáng giá nhất cuộc đời khi tôi nghỉ hưu sớm ở tuổi 50
Mỗi mùa bế giảng đi qua, tôi lại nghe người ta nói đi nói lại một câu quen thuộc: "Giáo viên sướng thật, nghỉ hè hai tháng mà lương vẫn đều". Mới đây, một quy định mới về việc giáo viên được nghỉ hè 8 tuần, hưởng nguyên lương và phụ cấp, vô tình lại thổi bùng lên những tranh cãi ấy.
Nghe qua, nhiều người dễ hình dung đó là một khoảng thời gian thảnh thơi, đủ dài để giáo viên có thể thảnh thơi rời xa công việc. Nhưng thực tế của nghề này lại không vận hành theo cách mà những con số có thể diễn đạt trọn vẹn. Bởi nếu chỉ nhìn vào thời gian "được nghỉ", ta sẽ vô tình bỏ qua phần thời gian "vẫn đang làm" của nhà giáo, chỉ là họ không còn đứng trên bục giảng.
Giáo viên vẫn có thể được gọi trở lại bất cứ lúc nào cho những nhiệm vụ không thể trì hoãn: coi thi, chấm thi, tập huấn chuyên môn, hỗ trợ tuyển sinh... Những công việc ấy không ồn ào, nhưng lại đòi hỏi sự tập trung và trách nhiệm không kém, thậm chí có lúc còn căng thẳng hơn cả giờ lên lớp.
Vì thế, nói giáo viên "nghỉ hè" không có nghĩa là họ được "nghỉ hoàn toàn". Đó giống như một quãng chuyển nhịp từ dạy học trực tiếp sang những công việc phía sau "cánh gà", nơi ít được nhắc đến nhưng lại giữ vai trò không thể thay thế. Từng đi qua nghề này, nên tôi hiểu: có những áp lực không nằm ở số tiết dạy, mà nằm ở trách nhiệm phải làm cho đúng ngay cả khi lớp học đã vắng tiếng học trò.
Giáo viên không làm việc theo kiểu đến cơ quan, chấm công rồi ra về. Công việc của họ không kết thúc khi hết giờ học, và cũng không bắt đầu khi tiếng trống vang lên. Nó trải dài theo năm học, dồn lại ở những giai đoạn cao điểm như kiểm tra, thi cử, tổng kết - nơi mà cường độ làm việc không chỉ tăng lên, mà đôi khi còn "chiếm trọn" cả thời gian riêng tư. Có những buổi tối sửa bài đến khuya, những ngày cuối kỳ gần như không có khái niệm nghỉ ngơi. Nhưng những phần việc ấy lại không hiện lên trên bảng chấm công.
>> 'Chấm dứt dạy thêm khi lương giáo viên tăng'
Có một sự thật là giáo viên hiếm khi "nghỉ hè" theo đúng nghĩa của hai chữ ấy. Mùa hè đến, lớp học khép lại, nhưng công việc thì không. Người thì tranh thủ học thêm để theo kịp đổi mới chương trình, người lặng lẽ chuẩn bị giáo án cho năm học mới, chỉnh sửa từng chi tiết nhỏ với mong muốn lần dạy sau sẽ tốt hơn.
Vì thế, tôi cho rằng, nếu chia đều công sức trong suốt một năm, việc giáo viên được "nghỉ hè 8 tuần, hưởng nguyên lương và phụ cấp" không phải là ưu đãi đặc biệt, mà là phần được trả đủ cho một chu kỳ lao động đã bị nén chặt. Lương trong mùa hè, suy cho cùng, không phải là tiền cho sự nhàn rỗi, mà là cách hệ thống trả công cho những tháng ngày làm việc không có ranh giới rõ ràng giữa giờ làm và giờ nghỉ.
Hiểu như vậy để thấy, câu chuyện không nằm ở việc giáo viên có "được ưu ái" hay không, mà là chúng ta có nhìn đúng giá trị lao động của họ hay chưa? Và khi nhìn đúng, có lẽ sẽ bớt đi những so sánh vội vàng để thay vào đó là một cách nhìn công bằng hơn và cũng nhân văn hơn với một nghề vốn đã quen với việc cho đi nhiều hơn nhận lại.
Điều đáng quan tâm hơn là những thay đổi ấy có đủ để giáo viên bớt phải lo toan, để họ có thể tạm gác công việc mà nghỉ ngơi đúng nghĩa, không còn mang theo nỗi bận tâm về cơm áo hay áp lực chuyên môn. Bởi suy cho cùng, một nền giáo dục muốn bền vững thì không chỉ cần những chính sách đúng, mà còn cần những con người đủ sức đi đường dài. Và để đi được đường dài, cần có lúc dừng lại để giữ cho người thầy còn đủ sức đi tiếp trên con đường đã chọn.
Vũ Thị Minh Huyền'Em tôi giáo viên lương 5,4 triệu nhưng ai cũng nghĩ giàu'
Hơn 20 năm lương thấp khiến tôi hối hận vì không học Sư phạm
Ám ảnh giáo viên dạy thêm thu nhập 40 triệu
Vợ chồng giáo viên lương cao hơn con gái làm ngân hàng
Gia đình tôi sáu người làm giáo viên nhưng không ai kêu khổ
"Tôi là một giáo viên dạy Toán nhiều năm, thừa nhận rằng bản thân cũng ngán ngẩm, thấy 'lú' khi đọc đề thi môn Toán THPT bây giờ. Những bài toán phần nhiều mang vỏ bọc cồng kềnh, cố diễn tả nội dung 'có vẻ thực tế', nhưng thật ra là chuỗi lắp ráp cơ học, gượng ép và thường là những tình huống ít có tính ứng dụng. Điều này làm học sinh thấy lạ lẫm, rối rắm, chán nản và cản trở khả năng tư duy Toán học thực thụ.
Không ít học sinh sẽ bị mất hứng thú học Toán. Những kiến thức Toán học sơ cấp nên được dạy với mục đích chính là rèn luyện khả năng suy luận, tư duy logic, tính toán, hơn là bắt nó gánh vác trọng trách nặng nề là giải quyết các vấn đề của cuộc sống hiện tại. Bởi từ Toán học đến ứng dụng trong cuộc sống theo tôi là một chặng đường rất dài (Toán học có ngành Toán ứng dụng nhưng cũng không dành cho số đông).
Tôi là một người gắn bó với Toán đủ lâu và từng trải cuộc sống (tôi nghĩ đa phần giáo viên dạy Toán đều vậy) nhận thấy đề thi, bài tập bây giờ dài dòng để cố nạp gia vị thực tế nhưng không có nhiều tính ứng dụng, nên đọc sẽ thấy gượng ép, khiên cưỡng. Chúng ta nên coi ứng dụng thực tế chỉ là một phần vừa phải trong chương trình Toán THPT và ứng dụng phải có chừng mực, kiểm soát. Nếu để những bài Toán được tự biên, dễ dãi đến với học sinh, nó sẽ phá hủy say mê học Toán của các em".
Đó là lo lắng của độc giả Ngọc Thành Thân về chất lượng của những bài tập Toán gắn yếu tố thực tế. Nhiều năm qua, các chuyên gia nhìn nhận chương trình Toán ở phổ thông còn bất cập vì thiếu liên kết với đời sống. Dù vậy, dạy Toán gắn với thực tế lại khiến nhiều em áp lực, nhanh quên sau khi rời trường học, với hai lý do chính: một là những bài Toán chỉ "khoác một vỏ bọc thực tế", thay vì thực sự có ý nghĩa ứng dụng; hai là áp lực thi cử khi hệ thống giáo dục hiện vẫn phụ thuộc lớn vào các kỳ thi để phân loại học sinh, từ chuyển cấp tới xét tuyển đại học, khiến giáo viên và học sinh buộc phải chạy theo đề thi.
>> 'Bài thi tích hợp vào lớp 10 tốt hơn bắt học sinh đánh vật Toán, Văn'
Nói về lý do khiến việc dạy và học Toán thực tế còn nhiều bất cập, bạn đọc Hố Đen cho rằng: "Một phần lỗi ra do giáo viên ra đề không cung cấp đầy đủ hoặc sử dụng tùy tiện các khái niệm. Bài toán thực tế là tốt nhưng nó phải mang tính tổng quát, ngôn ngữ đại chúng và thậm trí có hình ảnh mô tả rõ ràng. Tôi từng nhiều lần được học sinh gửi cho những bài Toán thực tế của thầy cô khác, nhờ giải hộ, và chính tôi cũng lúng túng vì ngôn ngữ sử dụng trong đề. Nó không chuẩn xác, có thể hiểu theo nghĩa khác dẫn đến việc hiểu sai bài toán.
Tôi dạy online nên học sinh của tôi từ nhiều vùng miền nên tôi hiểu rõ việc ngôn từ ảnh hưởng trong việc ra đề. Ngay như việc lấy một ngôn từ trong môn Vật lý áp sang môn Toán cũng dễ lệch. Các thầy cô dạy Toán lấy sang không đúng thời điểm và cũng không giải thích về các khái niệm liên quan thì học sinh không hiểu được là lẽ dĩ nhiên.
Cái dở là môn Toán lại cố đi áp thực tế trong khi đúng ra nên ghép chung với Lý và Hóa. Đề thực tế trong môn Toán phần nhiều được xây dựng trên sự tưởng tượng của giáo viên nên bản thân nó đã phi thực tế. Một bài toán thực tế nó phải xuất phát từ thực tế thật, cung cấp vật thật chứ không phải lấy bừa một vật rồi hỏi học sinh trong khi có thể thực tế học sinh chưa hề tiếp xúc nó ngoài thực tế.
Trong đề Toán, ví dụ tính một diện tích vật thì cần kèm hình ảnh chụp các góc khác nhau của vật đó. Cần kiểm tra việc học sinh sử dụng kiến thức để giải quyết nhiệm vụ chứ không phải kiểm tra việc học sinh có nhớ vật đó là vật gì? Các ngôn từ mô tả thì cần mang tính đại chúng, chính xác và thậm trí mô tả chi tiết ngay trên vật".
Vài năm trở lại đây, khi chứng kiến giá bất động sản tăng chóng mặt, tôi nhận ra ở Việt Nam đang tồn tại một nghịch lý: nhà càng cũ, giá đôi khi lại càng cao. Điều này không còn đơn thuần là câu chuyện thị trường, mà dần trở thành một vấn đề xã hội đáng suy nghĩ.
Quan sát kỹ hơn, tôi hiểu rằng thứ tăng giá không hẳn là căn nhà, mà là mảnh đất bên dưới nó. Nhà có thể xuống cấp, nhưng đất thì không "đẻ thêm". Trong khi đó, dân số ngày càng đông, dòng người đổ về đô thị lớn ngày một nhiều, khiến quỹ đất ở vị trí thuận lợi trở nên khan hiếm. Cung không theo kịp cầu, giá đất vì thế tăng lên, kéo theo giá trị tổng thể của bất động sản, bất chấp tình trạng cũ kỹ của căn nhà.
Một yếu tố khác mà tôi thấy rất rõ là tâm lý "mua đất để giữ tiền". Mỗi khi lạm phát hoặc kinh tế có biến động, nhiều người xung quanh tôi lại ưu tiên mua đất, mua nhà như một cách trú ẩn tài sản. Không ít người mua không phải để ở, mà chỉ để đó chờ tăng giá vì "có mất gì đâu". Điều này vô hình trung khiến giá bị đẩy lên cao hơn nữa.
Ngoài ra, thị trường cũng đang thiếu những "van điều tiết" đủ mạnh. Việc sở hữu nhiều nhà đất hiện nay không chịu chi phí đáng kể, nên người có tiền sẵn sàng gom nhiều bất động sản rồi để trống, chờ thời. Khi không có áp lực phải bán hay khai thác, nguồn cung thực tế bị co lại, càng làm giá leo thang.
Điều khiến tôi lo lắng hơn cả là những hệ lụy phía sau. Với người trẻ như tôi và nhiều bạn bè đồng trang lứa, chuyện mua nhà ngày càng xa vời. Dù đi làm, tiết kiệm nhiều năm, tốc độ tăng thu nhập vẫn không thể theo kịp tốc độ tăng giá đất. Giấc mơ an cư vì thế trở nên mong manh hơn bao giờ hết.
>> Bài toán mua hai mảnh đất dưỡng già nhưng bị đánh thuế như dân đầu cơ
Không chỉ vậy, dòng tiền trong xã hội đang có dấu hiệu lệch hướng. Thay vì đầu tư vào sản xuất, kinh doanh để tạo ra giá trị thực, nhiều người lại "chôn" vốn vào đất. Điều này có thể làm chậm lại sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Khoảng cách giàu nghèo cũng từ đó mà nới rộng. Những người sở hữu nhiều đất đai ngày càng giàu lên nhờ giá tăng, trong khi người không có tài sản thì càng khó tiếp cận cơ hội sở hữu nhà ở.
Từ góc nhìn cá nhân, tôi cho rằng để giải quyết nghịch lý này, cần những thay đổi mạnh mẽ từ chính sách. Trước hết, việc đánh thuế cao đối với bất động sản thứ hai trở đi là cần thiết, để hạn chế tình trạng tích trữ và buộc những người nắm giữ nhiều tài sản phải đưa chúng vào sử dụng hoặc lưu thông.
Bên cạnh đó, thông tin quy hoạch cần được công khai, minh bạch hơn để tránh những cơn "sốt đất" do tin đồn. Khi người dân có thông tin rõ ràng, thị trường sẽ bớt đi những biến động ảo.
Tôi cũng tin rằng nhà ở xã hội cần đóng vai trò lớn hơn, không chỉ là giải pháp hỗ trợ mà còn là cách để điều tiết mặt bằng giá chung. Ngoài ra, tín dụng cũng nên được ưu tiên cho những người mua nhà để ở thực, thay vì phục vụ các hoạt động đầu cơ ngắn hạn.
Suy cho cùng, việc nhà cũ vẫn tăng giá phản ánh một thị trường đang bị méo mó bởi tâm lý tích trữ và thiếu công cụ kiểm soát. Theo tôi, chỉ khi chúng ta nhìn nhận nhà ở đúng với giá trị cốt lõi của nó - là nơi để ở, chứ không phải một món hàng để lướt sóng - thì nghịch lý này mới có cơ hội được giải quyết.