Tối 5-4, Ngày hội Du lịch TP.HCM lần thứ 22 với chủ đề “Rộn ràng hè về” (Vibrant Summer Fest) chính thức bế mạc tại công viên 23-9, khép lại 4 ngày sôi động.
Phát biểu tại lễ bế mạc, ông Phạm Huy Bình, Giám đốc Sở Du lịch TP.HCM, cho biết ngày hội năm nay không chỉ đạt kết quả tích cực về quy mô mà còn tạo hiệu ứng thị trường rõ nét, góp phần kích cầu du lịch trong giai đoạn cao điểm hè.
Theo đó, lượng khách tham quan và trải nghiệm ước đạt hàng trăm nghìn lượt, phân bổ đều theo các khung giờ và tăng mạnh vào buổi tối cũng như những ngày cuối tuần.
Đáng chú ý, doanh thu từ hoạt động bán tour, dịch vụ và sản phẩm du lịch ước đạt 120 tỉ đồng.
Khoảng 1.000 sản phẩm du lịch được giới thiệu với mức ưu đãi lên đến 50%, kết hợp nhiều hình thức khuyến mại, quà tặng và bốc thăm trúng thưởng.
Trên các nền tảng số như Facebook, Instagram, TikTok và YouTube, ban tổ chức đã triển khai hơn 100 bài viết, Reels và video clip, thu hút gần 1,9 triệu lượt tiếp cận và gần 40.000 lượt tương tác từ cộng đồng doanh nghiệp, người dân và du khách.
Những con số này cho thấy sức lan tỏa mạnh mẽ của Ngày hội Du lịch TP.HCM năm 2026, đồng thời khẳng định nỗ lực quảng bá hình ảnh TP.HCM – Việt Nam như một điểm đến sống động, thân thiện và hội nhập quốc tế.
Đáng chú ý, sự tham gia tích cực của cộng đồng nhà sáng tạo nội dung trên các nền tảng số đã góp phần lan tỏa hình ảnh ngày hội thông qua nhiều video, bài đăng với góc nhìn đa dạng, sáng tạo và gần gũi, qua đó tiếp cận hiệu quả hơn nhóm công chúng trẻ.
Từ những kết quả đạt được, ngày hội tiếp tục khẳng định vai trò của TP.HCM như một trung tâm kết nối du lịch của cả nước. Không chỉ là nơi khởi đầu của các hành trình, thành phố đang dần trở thành điểm hội tụ của các nguồn lực, ý tưởng và mô hình hợp tác mới.
Với đà tăng trưởng hiện nay, ngành du lịch TP.HCM được kỳ vọng sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế và nâng tầm hình ảnh Việt Nam trên bản đồ du lịch khu vực và thế giới.

Báo cáo tài chính hợp nhất của Tập đoàn Nagakawa (NAG) cho thấy doanh thu trong quý I đạt trên 1.081 tỷ đồng, tăng hơn 12% so với cùng kỳ năm trước. Đây là con số cao nhất trong lịch sử hoạt động của doanh nghiệp này. Ban lãnh đạo cho biết động lực đến từ các chương trình bán hàng, chính sách giá, chiết khấu, dịch vụ sau bán hàng... giúp sản lượng tiêu thụ được cải thiện.
Giá vốn không tăng nhanh như doanh thu, giúp lợi nhuận gộp cao hơn 21% so với cùng kỳ, đạt hơn 101 tỷ đồng. Biên lãi gộp đạt mức 9,36%. Ngoài ra, công ty còn có thêm 598 triệu đồng doanh thu tài chính, giảm gần 57%.
Nhóm các chi phí thường xuyên cũng tăng lên. Trong đó, chiếm phần lớn là chi phí dịch vụ mua ngoài, lãi vay và chi phí nhân viên.
Tổng lại, Nagakawa có lợi nhuận sau thuế đạt 16,4 tỷ đồng, tăng gần 20% so với quý I/2025. Đây là mức lãi cao nhất trong một quý mà doanh nghiệp này từng đạt được.
Tập đoàn Nagakawa là một trong những đơn vị sản xuất điện máy nội địa tiên phong từ năm 2002 với sản phẩm chủ lực là điều hòa không khí (máy lạnh), thường chiếm 70% doanh thu. Ngoài ra, họ còn kinh doanh thêm các thiết bị nhà bếp và các sản phẩm điện gia dụng. Đây cũng là đơn vị duy nhất trong ngành đang niêm yết cổ phiếu trên sàn, tại Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX).
Thời gian trước, họ phải chịu áp lực cạnh tranh từ khoảng 100 hãng điều hòa trên thị trường, biên lợi nhuận thấp do giảm giá bán trước sức ép từ hàng giá rẻ Trung Quốc, mạng lưới kênh phân phối hạn chế. Tuy nhiên, vài năm gần đây, thương hiệu này chọn điều hòa thương mại làm thị trường ngách trọng điểm để giành thị phần, từ đó kết quả kinh doanh cải thiện. Với các sản phẩm máy lạnh dân dụng, công ty tăng cường hợp tác với hệ thống Điện Máy Xanh và các chuỗi siêu thị miền Bắc khác, tập trung vào nhóm bình dân.
Năm nay, Nagakawa muốn rút gọn tên thương hiệu thành Naga. Công ty đặt mục tiêu có được doanh thu 4.000 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế 42 tỷ đồng. Cả hai chỉ tiêu kể trên đều là mức cao kỷ lục trong lịch sử hoạt động. Sau 3 tháng đầu năm, họ đã hoàn thành 27% chỉ tiêu doanh thu và 39% kế hoạch lợi nhuận.
Với khí hậu gió mùa nóng ẩm và dân số trăm triệu người, hàng năm, cả nước tiêu thụ trên dưới 2 triệu máy điều hòa, theo Hội Khoa học kỹ thuật lạnh và điều hòa không khí Việt Nam. Báo cáo của Research & Market chỉ ra Việt Nam là một trong những thị trường máy lạnh lớn nhất châu Á, ước đạt 2,9 tỷ USD trong năm 2025.
Tin Gốc: Vnexpress

Liên quan đến nhiệm vụ này, hầu hết các doanh nghiệp, người dân đều cho rằng việc cắt giảm đã được làm quyết liệt trong các nhiệm kỳ vừa qua nhưng đến nay vẫn tồn tại nhiều thủ tục, điều kiện kinh doanh gây cản trở hoạt động sản xuất, kinh doanh. Thậm chí các chuyên gia còn cho rằng việc cắt giảm có nơi chưa đi vào thực chất và lần này cần phải khắc phục.
Ông Phạm Đức Toản, Tổng giám đốc Công ty CP bất động sản EZ, cho rằng trong lĩnh vực xây dựng, đầu tư, kinh doanh bất động sản, dù khung pháp lý khá thông thoáng, nhưng khi đi vào từng quy định cụ thể, doanh nghiệp mất rất nhiều thời gian.
Một dự án xây dựng tòa nhà chung cư, chủ đầu tư phải qua nhiều lần xin ý kiến các sở ngành liên quan. Chẳng hạn, trước khi được chấp thuận chủ trương đầu tư, doanh nghiệp phải xin ý kiến các sở ngành về sự phù hợp quy hoạch, đến khi được phê duyệt quy hoạch xây dựng chi tiết 1/500 lại phải xin ý kiến một lần nữa.
Ngoài ra, trước khi khởi công xây dựng, doanh nghiệp phải trình cấp thẩm quyền thẩm định phương án PCCC tòa nhà. Và sau khi hoàn thành, doanh nghiệp lại phải báo cáo cơ quan có thẩm quyền nghiệm thu phương án PCCC tòa nhà trước khi đưa vào sử dụng.
Cũng theo ông Toản, dù nghị quyết 201/2025/QH15 của Quốc hội cho phép thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển nhà ở xã hội theo hướng rút ngắn thủ tục đầu tư dự án nhà ở xã hội, nhưng theo quy trình này thì thời gian phê duyệt thủ tục đầu tư một dự án trung bình cũng mất khoảng 9 tháng.
Nếu phát sinh vướng mắc, thời gian phê duyệt dự án càng bị kéo dài hơn. Thực tế tại Hà Nội, nhiều dự án nhà ở xã hội dù được phê duyệt chủ đầu tư nhưng lại vướng chỉ tiêu dân số nên phải chờ xin ý kiến các sở ngành để điều chỉnh, tăng chỉ tiêu về mật độ dân số trước khi xây dựng.
Đối với các dự án nhà ở thương mại, dù Quốc hội đã ban hành nghị quyết 171/2024/QH15 cho phép thí điểm thực hiện dự án nhà ở thương mại thông qua thỏa thuận về nhận quyền sử dụng đất hoặc đang có quyền sử dụng đất. Nhưng trên thực tế, khi chủ đầu tư mua được đất lại phải thực hiện thủ tục điều chỉnh quy hoạch các khu đất trước khi xây dựng.
Và để có được quy hoạch xây dựng nhà ở trên đất đã nhận chuyển nhượng, doanh nghiệp phải thực hiện hàng loạt các thủ tục liên quan. "Có thể thấy trong lĩnh vực đầu tư xây dựng, quy định bên trên đã mở, thông thoáng giống như chúng ta mở cửa chính của một ngôi nhà, nhưng để sử dụng được phải tiếp tục mở khóa cửa từng phòng", ông Toản ví von.
Còn theo đại diện một doanh nghiệp bất động sản tại Hà Nội, thủ tục cấp phép xây dựng các dự án nhà ở, khu đô thị hiện nay nhanh chậm với tùy từng trường hợp. Đối với các chủ đầu tư lớn, thực hiện các siêu dự án như trục cảnh quan sông Hồng, khu đô thị Olympic..., thành phố cho áp dụng cơ chế đặc biệt trong cấp phép đầu tư và giải phóng mặt bằng.
Do vậy, các thủ tục liên quan tới dự án được thực hiện đồng thời cùng lúc nên chỉ sau khoảng 3 - 4 tháng, chủ đầu tư dự án đã có mặt bằng sạch để xây dựng. Tuy nhiên, cũng có những dự án mắc kẹt nhiều năm chưa thể xây dựng vì vướng đủ thứ.
Trong kiến nghị gửi tới Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) mới đây, Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (Vasep) đã nêu ra hàng loạt vướng mắc, khó khăn về thủ tục hành chính mà các doanh nghiệp thủy sản đang gặp phải. Cụ thể, trong lĩnh vực kiểm dịch, an toàn thực phẩm, Vasep cho rằng quy định bắt buộc doanh nghiệp trong khu công nghiệp (KCN) đấu nối nước thải vào hệ thống xử lý tập trung của KCN là quy trình "xử lý kép" bất hợp lý.
Theo đó, doanh nghiệp tự xử lý đạt cột B, sau đó đưa vào hệ thống nước thải của KCN để xử lý tiếp lên cột A, khiến tổng chi phí bị đội lên rất cao từ 18.500 - 28.000 đồng/m3, trong khi nếu doanh nghiệp tự đầu tư xử lý đạt chuẩn cột A từ đầu, chi phí chỉ từ 5.500 - 10.500 đồng/m³, giúp tiết kiệm 13.000 - 17.500 đồng/m³, tương đương hàng trăm tỉ đồng/năm cho toàn ngành.
Vì thế, Vasep kiến nghị Quốc hội xem xét sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường 2020 và nghị định 08/2022 theo hướng cho phép doanh nghiệp thủy sản trong KCN được miễn trừ đấu nối hệ thống tập trung nếu tự đầu tư, vận hành hệ thống xử lý riêng đạt chuẩn cột A trước khi xả thải.
Vasep cũng nêu những bất cập trong hướng dẫn về mức thuế giá trị gia tăng (VAT) đối với phế phẩm, phụ phẩm thủy hải sản. Theo đó, cùng một sản phẩm phế liệu (đến từ hai dây chuyền sản xuất, dây chuyền sản xuất sản phẩm sơ chế và dây chuyền sản xuất sản phẩm có gia nhiệt), bán cho cùng một khách hàng tại cùng một thời điểm nhưng lại có hai thuế suất VAT khác nhau.
Vì vậy, hiệp hội đề nghị Bộ Tài chính có văn bản hướng dẫn cho tất cả các chi cục thuế địa phương và các doanh nghiệp để các loại phế liệu, phế phẩm, phụ phẩm thủy hải sản (dù của mặt hàng sơ chế hay chế biến) nhưng chưa chế biến thành sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường thì không phải kê khai, tính nộp thuế VAT ở khâu kinh doanh thương mại.
Ngoài ra, Vasep cũng cho rằng đang có bất cập về thuế suất thuế VAT cho sản phẩm thủy sản đông lạnh do quan điểm không thống nhất giữa Bộ Tài chính và Cục Thuế về thuế suất VAT với sản phẩm thủy sản đông lạnh.
Vasep đề nghị Bộ Tài chính và Cục Thuế sớm có văn bản hướng dẫn thống nhất, rõ ràng gửi tới các Cục Thuế địa phương và doanh nghiệp, theo hướng ưu đãi thuế TNDN thực hiện theo công văn 2550/BTC-TCT, áp dụng cho sản phẩm được xác định là "chế biến" theo quy định.
Việc áp dụng thuế VAT phải thực hiện đúng theo thông tư 219 của Bộ Tài chính, không mặc định rằng nếu sản phẩm được hưởng ưu đãi thuế TNDN thì phải chịu thuế VAT 10%. Nếu sản phẩm đông lạnh chưa qua chế biến sâu, chỉ sơ chế như rửa, cấp đông, cắt khúc... cần được xác định là không chịu thuế VAT như trước nay vẫn áp dụng.
"Việc hướng dẫn cần mang tính thống nhất, áp dụng đồng bộ trên toàn quốc để tránh tình trạng mỗi địa phương hiểu và thực hiện khác nhau, làm tăng gánh nặng và rủi ro cho doanh nghiệp", đại diện hiệp hội này kiến nghị.
Trong khi đó, ông Nguyễn Xuân Dương, Chủ tịch Hội Chăn nuôi Việt Nam, cho biết còn nhiều quy định chưa phù hợp trong ngành sản xuất chăn nuôi và thực phẩm, dù đã có sửa đổi trong quy định để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.
Cụ thể, theo ông Dương, sau khi Quốc hội thông qua việc sửa đổi, bổ sung Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa, hàng hóa sẽ được phân loại mức độ rủi ro để quản lý. Vấn đề đặt ra là phân loại ra sao, phương pháp quản lý thế nào để vừa tạo điều kiện môi trường tốt nhất cho hoạt động sản xuất kinh doanh, vừa có không gian cho cơ quan quản lý kiểm soát sản phẩm đảm bảo an toàn, doanh nghiệp cạnh tranh lành mạnh.
Như với ngành chăn nuôi, một sản phẩm thức ăn chăn nuôi bao gồm nguyên liệu thông thường như ngô, đậu tương, đậu nành... không có rủi ro cao, nhưng có những thức ăn bổ sung như kim loại, lại có yếu tố rủi ro cao hơn, nên cần phân loại sao cho phù hợp. Hay nhiều mặt hàng khác như phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật... phân loại vào nhóm nào?...
Theo ông Dương, trong bối cảnh vận hành chính quyền địa phương hai cấp, các bộ cần dũng cảm bỏ bớt công việc, chỉ thực hiện chức năng kiến tạo và thiết kế chính sách để phân cấp, phân quyền mạnh mẽ cho địa phương thực hiện. Cũng với đó, phải tăng cường hậu kiểm theo hướng kiểm soát rủi ro, kiểm soát mối nguy, tăng cường vai trò tự chịu trách nhiệm của người sản xuất kinh doanh, thay vì thắt chặt quản lý.
Bởi muốn tăng trưởng hai con số, nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm hàng hóa, cần phải nâng cao sức sản xuất, giải phóng tiềm năng sản xuất đang còn nằm trong dân, doanh nghiệp. "Do đó, phải tập trung cải cách thể chế, thủ tục và điều kiện kinh doanh. Mạnh dạn cắt giảm những điều kiện kinh doanh không cần thiết, không đảm bảo tính khả thi trong thực hiện", ông Dương nói.
Ông Đỗ Văn Vẻ, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Hưng Yên, cho rằng việc cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh đã được làm quyết liệt trong nhiệm kỳ vừa rồi, song vẫn được Thủ tướng Chính phủ nhiệm kỳ này quan tâm và ưu tiên ngay, cho thấy đây vẫn đang là vấn đề cấp bách, cần tiếp tục được tháo gỡ. Nếu giảm được các thủ tục hành chính, giảm chi phí tuân thủ của doanh nghiệp sẽ có ý nghĩa rất lớn và cần thiết trong bối cảnh khó khăn hiện nay.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Đăng ký bảo hộ thương hiệu ở Ý: một tháng có chứng chỉ, Nhà nước hoàn lại gần như toàn bộ phí. Ở Việt Nam: đóng tiền trước, chờ đến một năm, kết quả vẫn là ẩn số. Khoảng cách đó không chỉ là thủ tục - đó là khoảng cách tư duy mà doanh nghiệp Việt cần đối mặt thực sự.
Thương hiệu là tài sản lớn nhất của doanh nghiệp, nhưng cũng là thứ dễ mất nhất nếu thiếu "tấm khiên" pháp lý. Nghịch lý là nhiều doanh nghiệp sẵn sàng chi hàng trăm triệu cho marketing, nhưng lại ngần ngại hoặc chưa biết cách bảo vệ chính cái tên mình đang quảng bá.
Bài viết dưới đây là góc nhìn từ thực chiến của một doanh nhân với 21 năm kinh nghiệm quản trị tại các tập đoàn lớn ở Mỹ, Úc, Nhật và gần 8 năm điều hành doanh nghiệp tại cả Ý lẫn Việt Nam - người đã trực tiếp đăng ký bảo hộ hơn 10 thương hiệu ở hai thị trường này.
Tại Ý và khối EU, quy trình bảo hộ thương hiệu được tối ưu hóa để triệt tiêu rủi ro ngay từ bước phác thảo. Ngay trong giai đoạn thiết kế bộ nhận diện, các đơn vị sáng tạo đã có thể truy cập hệ thống dữ liệu mở để kiểm tra khả năng trùng lặp - giúp doanh nghiệp tránh đầu tư hàng trăm triệu vào marketing cho một cái tên hay logo không thể bảo hộ.
Sau khi nộp hồ sơ, chỉ khoảng một tháng là doanh nghiệp nhận được chứng chỉ kèm mã QR bảo hộ. Điểm đặc biệt: chứng chỉ được cấp trước, doanh nghiệp mới thanh toán phí sau - hoàn toàn đảo ngược so với cách tiếp cận thông thường. Minh bạch đến vậy, doanh nghiệp đủ tự tin tung sản phẩm ra thị trường mà không lo tranh chấp.
Thêm vào đó, trong 2 - 3 năm gần đây, Chính phủ Ý gần như hoàn lại 100% phí bảo hộ cho thương hiệu mới. Đây là thông điệp rõ ràng: Nhà nước đồng hành cùng giá trị trí tuệ của doanh nghiệp.
Tại Việt Nam, bức tranh khác hẳn. Doanh nghiệp phải đóng toàn bộ phí ngay từ đầu, khoảng 4 - 10 triệu đồng tùy số nhóm ngành, rồi bước vào giai đoạn chờ đợi kéo dài từ bốn tháng đến hơn một năm mà không biết kết quả. Rủi ro lớn nhất không chỉ là tiền, mà là chi phí cơ hội và sự mông lung trong suốt thời gian thẩm định.
Để rút ngắn khoảng cách, các nhà hoạch định chính sách cần những bước đi quyết liệt hơn. Trước hết là mở kho dữ liệu trực tuyến đồng bộ, cập nhật thời gian thực và công khai hoàn toàn. Khi dữ liệu minh bạch, các đơn vị thiết kế và doanh nghiệp có thể chủ động rà soát, giảm tải hồ sơ lỗi cho cơ quan quản lý.
Song song đó, cần lộ trình ưu tiên theo giai đoạn: giai đoạn đầu tập trung vào các ngành thế mạnh xuất khẩu như nông sản, thực phẩm, công nghệ; giai đoạn tiếp theo áp dụng cơ chế cấp chứng chỉ tạm thời bằng mã QR trong 1 - 3 tháng đầu để doanh nghiệp kịp thời triển khai kinh doanh; cuối cùng là xây dựng quỹ hoàn phí hoặc hỗ trợ tài chính cho các start-up xây dựng thương hiệu bài bản.
Nhưng trong khi chờ chính sách thay đổi, doanh nghiệp cũng cần tự thay đổi tư duy trước. Đừng vì quy trình chậm mà chọn cách buôn nhanh bán nhanh - vượt qua tư duy "ăn xổi" chính là điểm phân biệt giữa doanh nghiệp tồn tại và doanh nghiệp trường tồn.
Hãy dùng thời gian chờ đợi pháp lý để mài giũa sản phẩm, hoàn thiện quy trình. Một thương hiệu mạnh không nằm ở tờ giấy chứng nhận, mà nằm ở chất lượng sản phẩm và niềm tin khách hàng.
Nhìn cách các doanh nghiệp châu Âu bền bỉ xây dựng di sản hàng trăm năm, ta thấy họ luôn bắt đầu từ những bước đi pháp lý chặt chẽ nhất. Để thoát khỏi cái mác "gia công", doanh nghiệp Việt phải lấy đầu tư vào sản xuất và bảo hộ trí tuệ làm kim chỉ nam.
Chính sách có thể còn độ trễ, nhưng tư duy của người dẫn đầu không thể chậm trễ. Sự chuyên nghiệp trong cách ta bảo vệ thương hiệu chính là thước đo cho tầm vóc của doanh nghiệp trong tương lai.
Tin Gốc: https://tuoitre.vn/bao-ho-thuong-hieu-va-tu-duy-nguoi-dan-dau-20260406060715613.htm

