Vừa qua, Bệnh viện đa khoa An Sinh (TP.HCM) phối hợp cùng Viện Nghiên cứu và Đào tạo Y Dược An Sinh tổ chức hội nghị khoa học với chủ đề: “Viêm mạn tính: Cập nhật về cơ chế, vai trò sinh bệnh và tiếp cận một số phương pháp mới trong điều trị bệnh mạn tính” nhân dịp kỷ niệm 20 năm thành lập bệnh viện.
Chia sẻ tại hội nghị, Giáo sư – tiến sĩ khoa học Phạm Mạnh Hùng, nguyên Thứ trưởng Bộ y tế, nguyên Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, cho biết viêm mạn tính có thể âm thầm kéo dài nhiều năm, là nền tảng của nhiều bệnh mạn tính và quá trình lão hóa.
“Chiến đấu với viêm giống như đối đầu với địch, cần ‘đánh cho hay, cho trúng’ chứ không phải chỉ biết ‘đánh và đánh’. Mục đích là đảm bảo sự cân bằng miễn dịch, vừa tạo ra đáp ứng miễn dịch đủ mạnh để loại bỏ tác nhân gây viêm, vừa bảo tồn sự toàn vẹn của cơ thể. Cũng có thể hiểu điều trị viêm mạn tính như điều khiển ô tô, phải cân bằng giữa chân ga và chân phanh sao cho đi nhanh đến đích nhưng vẫn an toàn”, Giáo sư Mạnh Hùng nói.
Ở người lớn tuổi và người bệnh mạn tính thường xuất hiện tình trạng “viêm lão hóa” – tăng cytokine gây viêm kéo dài do tế bào lão hóa, suy giảm miễn dịch và stress oxy hóa. Việc tái lập cân bằng cytokine giúp giảm tổn thương mô, ngăn phản ứng viêm quá mức và hỗ trợ các điều trị khác hiệu quả hơn.
Từ cơ chế này, một số hướng điều trị mới của bệnh mạn tính và lão hóa dựa trên miễn dịch đang được nghiên cứu và thử nghiệm, gồm:
Cũng tại hội nghị, Giáo sư – tiến sĩ Đặng Vạn Phước, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Y Dược TP.HCM, nguyên Trưởng khoa Y – Đại học Quốc gia TP.HCM, chia sẻ xơ vữa động mạch không chỉ là rối loạn mỡ máu mà thực chất còn là một bệnh viêm mạn tính. Xơ vữa hình thành rất sớm và tiến triển âm thầm, từ vệt mỡ đến mảng xơ sợi, rồi nứt vỡ và gây huyết khối – nguyên nhân chính gây tử vong và tàn phế.
Tuy nhiên, Giáo sư Vạn Phước cho hay mảng xơ vữa dày chưa chắc đã nguy hiểm bằng mảng xơ vữa mỏng kèm viêm nặng. Viêm mới chính là “thủ phạm” gây bất ổn và nứt mảng xơ vữa, tăng khả năng gây vỡ và tắc mạch.
Từ đây, Giáo sư Vạn Phước nhấn mạnh rằng có nhiều yếu tố nguy cơ mọi người có thể chủ động điều chỉnh để hạn chế biến cố tim mạch, như: Hút thuốc, ăn uống, lối sống, rượu bia, béo phì, tăng huyết áp, tiểu đường, rối loạn lipid máu…
Trong đó, hạ LDL-C (cholesterol “xấu”) là nền tảng để giảm biến cố tim mạch và tử vong. Mỗi 1 mmol/L LDL-C hạ xuống có thể làm giảm 10% tỷ lệ tử vong chung, 20% tỷ lệ tử vong do bệnh động mạch vành, 17% tỷ lệ đột quỵ và 23% biến cố mạch vành lớn.
Gan nhiễm mỡ là tình trạng mỡ tích tụ trong tế bào gan, thường liên quan đến ăn uống dư thừa và ít vận động. Trong khi đó, máu nhiễm mỡ (rối loạn lipid máu) là tình trạng tăng cholesterol hoặc triglyceride trong máu.
Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) Mỹ, gan nhiễm mỡ và máu nhiễm mỡ đều liên quan chặt chẽ đến lối sống không lành mạnh như ăn nhiều đường, ít vận động và thừa cân.
Tiến sĩ Rohit Loomba, bác sĩ tại Đại học California San Diego (Mỹ), cho biết gan nhiễm mỡ có thể tiến triển từ nhẹ đến viêm gan, xơ gan, thậm chí ung thư gan nếu không kiểm soát.
Trong khi đó, theo thông tin từ hệ thống y tế Mayo Clinic (Mỹ), máu nhiễm mỡ là yếu tố nguy cơ hàng đầu gây xơ vữa động mạch, dẫn đến nhồi máu cơ tim và đột quỵ - những biến cố có thể xảy ra đột ngột và đe dọa tính mạng.
Gan nhiễm mỡ khiến tế bào gan bị “quá tải” mỡ, lâu dần gây viêm và sẹo hóa. Ngược lại, máu nhiễm mỡ làm cholesterol xấu (LDL) tích tụ trong thành mạch, hình thành mảng xơ vữa.
Tiến sĩ Erin Michos, bác sĩ tại Đại học Johns Hopkins (Mỹ), giải thích mỡ máu cao kéo dài sẽ âm thầm làm hẹp lòng mạch, đến khi mảng xơ vữa vỡ có thể gây tắc mạch ngay lập tức.
Trên thực tế, bệnh gan nhiễm mỡ và máu nhiễm mỡ cũng thường xuất hiện đồng thời, đặc biệt ở người thừa cân hoặc mắc hội chứng chuyển hóa.
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), sự kết hợp này làm tăng đáng kể nguy cơ bệnh tim mạch, tiểu đường loại 2 và tổn thương gan nặng.
Cả hai bệnh gan nhiễm mỡ và máu nhiễm mỡ đều có thể diễn tiến âm thầm trong thời gian dài, với các dấu hiệu:
Các chuyên gia khuyến cáo:
Cả gan nhiễm mỡ và máu nhiễm mỡ đều nguy hiểm nếu chủ quan. Điều quan trọng không phải là bệnh nào “đáng sợ hơn”, mà là phát hiện sớm và điều chỉnh lối sống để ngăn biến chứng về lâu dài.
Với độ tuổi này, ước tính tuổi trung bình của người mắc đột quỵ ở Việt Nam trẻ hơn thế giới 10 năm. Mỗi năm nước ta ghi nhận đến hơn 200.000 trường hợp đột quỵ, tỉ lệ tử vong khoảng 20-30%.
Đặc biệt tình trạng đột quỵ ở người trẻ ngày càng gia tăng, ảnh hưởng trực tiếp tới nhóm người trong độ tuổi lao động. Vì vậy, người trẻ tuổi nên làm gì để phòng đột quỵ?
Đột quỵ là một biến chứng sức khỏe nguy hiểm, có thể xảy ra ở bất cứ ai kể cả người còn trẻ, và dễ dàng cướp đi tính mạng người bệnh nếu không can thiệp kịp thời.
Người trung niên, cao tuổi, người mắc bệnh lý nền mạn tính, đặc biệt trong số đó người mắc bệnh tim mạch là những đối tượng nguy cơ cao bị đột quỵ.
Mặc dù vậy những năm gần đây, đột quỵ ở người trẻ đang có xu hướng gia tăng đáng kể trên toàn cầu, trong đó có Việt Nam.
Tại sao bị đột quỵ?
Đột quỵ (hay tai biến mạch máu não) là tình trạng não bộ bị tổn thương nghiêm trọng do mạch máu nuôi não bị tắc nghẽn (nhồi máu não) hoặc vỡ (xuất huyết não), khiến não thiếu oxy trầm trọng và tế bào não sẽ bị chết đi trong vài phút.
Đây là những trường hợp cần cấp cứu y tế khẩn cấp nếu không sẽ gây tàn phế vĩnh viễn hoặc tử vong.
Nói đến đột quỵ tức là đột quỵ não và đột quỵ tim. Đột quỵ não, còn gọi là tai biến mạch máu não, xảy ra khi dòng máu cung cấp nuôi não từ tim lên bị ngừng do tắc mạch máu não (thường là cục máu đông) hoặc vỡ mạch máu não (do xơ vữa động mạch não).
Đột quỵ ở người trẻ tuổi đang gia tăng do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra. Một tỉ lệ đáng kể liên quan tới lối sống không lành mạnh như hút thuốc (thuốc lá, xì gà, thuốc lào), nghiện rượu bia, lười vận động, và lạm dụng chất kích thích làm tăng nguy cơ hoặc tắc mạch máu não.
Đối với stress và áp lực công việc là do áp lực cao gây căng thẳng mạn tính, mất ngủ, khiến huyết áp tăng cao đột ngột. Bên cạnh đó người mắc bệnh nền tim mạch và chuyển hóa cũng làm gia tăng số người mắc cao huyết áp (huyết áp cao chiếm khoảng 10% các trường hợp); đái tháo đường (khoảng 30% các trường hợp), và rối loạn mỡ máu (mỡ máu tăng cao), đây là những nguyên nhân trực tiếp gây xơ vữa hoặc đột quỵ não.
Cần kể đến những trường hợp bị dị dạng mạch máu não như các bệnh lý bẩm sinh phình mạch, dị dạng động tĩnh mạch dễ vỡ gây xuất huyết não. Đối với các trường hợp thừa cân, béo phì có chỉ số khối cơ thể (BMI > 30) và vòng eo lớn (trên 80cm) sẽ làm tăng nguy cơ đột quỵ.
Bên cạnh đó chế độ ăn không hợp lý như thường xuyên ăn đồ ăn nhanh, nhiều dầu mỡ (đặc biệt mỡ động vật), nhiều muối (ăn mặn) làm tăng cholesterol và áp lực lên mạch máu cũng là những nguyên nhân góp phần gây đột quỵ, ngoài ra đột quỵ còn có thể do di truyền.
Cần thực hành lối sống lành mạnh như hạn chế rượu bia, không hút thuốc lá, thuốc lào, hạn chế ăn thức ăn nhanh cũng như mỡ động vật, cần giảm áp lực công việc (giảm stress), không nên thức khuya hoặc dậy quá sớm.
Ngoài ra cần tăng cường vận động thể chất như tập thể dục buổi sáng và trước khi đi ngủ buổi tối hoặc đi bộ mỗi ngày khoảng 30 phút hoặc bơi, chơi các môn thể thao như cầu lông, bóng bàn, pickleball, tennies...
Nên khám bệnh định kỳ để phát hiện bệnh tiểu đường, mỡ máu cao, và bệnh lý mạch máu như huyết áp cao (tăng huyết áp) để được chữa trị kịp thời.
Theo Viện Dinh dưỡng, bệnh gan nhiễm mỡ (không do rượu) là tình trạng tích tụ mỡ (trên 5% trọng lượng gan) ở những người không uống hoặc chỉ uống rất ít rượu, và không có nguyên nhân thứ phát nào khác (vi rút, thuốc, bệnh chuyển hóa…). Tỷ lệ mắc bệnh gan nhiễm mỡ cao hơn ở người béo phì, đái tháo đường thể 2, rối loạn lipid máu. Bệnh có liên quan đến kháng insulin, rối loạn chuyển hóa lipid và glucose.
Về nguyên tắc chung chế độ ăn cho người có bệnh lý gan nhiễm mỡ, TS-BS Bùi Thị Thúy, Khoa Khám tư vấn dinh dưỡng người lớn, Viện Dinh dưỡng, lưu ý cần hạn chế lượng chất béo, do chất béo cung cấp lượng calo cao và tăng nguy cơ thừa cân béo phì. Trong đó, cần thay thế chất béo bão hòa (có trong mỡ heo, mỡ bò, bơ, phô mai, sữa nguyên kem, da gia cầm, dầu dừa, dầu cọ...) và chất béo chuyển hóa (có trong đồ chiên) bằng chất béo không bão hòa, đặc biệt là omega-3, là các chất có thể làm giảm nguy cơ bệnh lý tim mạch.
Nên sử dụng nguồn chất béo lành mạnh, từ các loại hạt như hạt óc chó, hạnh nhân, hoặc mè (15 - 20 gram/ngày). Ngoài ra, người trưởng thành nên ăn cá béo (cá hồi, cá thu, cá mòi) ít nhất 2 - 3 lần mỗi tuần để bổ sung a xít béo omega-3 có lợi cho tim mạch và gan.
Cần tăng cường các thực phẩm có chỉ số đường huyết thấp như rau xanh, ngũ cốc nguyên hạt, đậu đỗ và một số loại trái cây lê, cam, táo, ổi, bưởi. Người trưởng thành cũng nên ăn từ 2 - 3 phần trái cây tươi mỗi ngày (mỗi phần khoảng 80 - 100 gram).
Đồng thời, tránh các loại thực phẩm và đồ uống chứa nhiều đường đơn, đặc biệt là fructose. Fructose có trong nước ngọt có đường, đồ uống thể thao, trà có đường và các loại nước trái cây.
Tập trung thay đổi lối sống bao gồm ăn uống lành mạnh, tập thể dục thường xuyên, duy trì cân nặng hợp lý và ngủ đủ giấc là cách tốt nhất ngăn ngừa tổn thương gan khởi phát khi bệnh gan nhiễm mỡ ở giai đoạn đầu.