Hội thảo có sự tham gia của các cơ quan quản lý, chuyên gia và lãnh đạo doanh nghiệp. Ông Mai Danh Hiền – Phó Chủ tịch HĐQT Công ty Tài chính Tổng hợp Cổ phần Điện lực (EVF) đã tham gia hội thảo với vai trò diễn giả.
Hội thảo nhận được sự quan tâm và tham dự của lãnh đạo các Ban, Bộ, ngành Trung ương, chuyên gia kinh tế – tài chính, lãnh đạo các tổ chức tín dụng, công ty chứng khoán, quỹ đầu tư cùng các nhà đầu tư, doanh nghiệp trong và ngoài nước.
Tại hội thảo, các chuyên gia nhấn mạnh đây là thời điểm bản lề khi kinh tế tư nhân được xác lập là động lực tăng trưởng trung tâm. Tinh thần này được khẳng định trong Nghị quyết 68-NQ/TW (2025), lần đầu tiên coi khu vực tư nhân là “động lực quan trọng nhất” của nền kinh tế. Không chỉ mang ý nghĩa định hướng, đây còn là bước chuyển trong phân bổ nguồn lực và hoàn thiện thể chế.
Hội thảo cũng đã đưa ra và thảo luận chủ đề: “Doanh nghiệp Việt Nam cần thay đổi điều gì để nâng cao năng lực cạnh tranh, tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu?”. Phiên thảo luận có sự tham gia của TS. Nguyễn Đức Kiên – nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội; TS. Nguyễn Anh Tuấn – Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài; TS. Lê Duy Bình – Giám đốc Economica Việt Nam; ông Mai Danh Hiền – Phó Chủ tịch HĐQT EVF và ông Nguyễn Phúc Long – Chủ tịch HĐQT Thăng Long Investment Group.
Trong phiên thảo luận, trả lời về câu hỏi “Để thích nghi với những yêu cầu mới trên hành trình chuyển đổi, EVF đã xây dựng hệ thống nhân sự tinh gọn, tinh nhuệ và hiệu quả ra sao?”, Phó CT Mai Danh Hiền chia sẻ: “Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính nên EVF chịu áp lực lớn về tiêu chuẩn minh bạch, chuyển đổi số và phát triển xanh. EVF là một trong những doanh nghiệp phát hành trái phiếu xanh từ khá sớm nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn của quỹ đầu tư nước ngoài”.
Ông Mai Danh Hiền cho biết, trong lĩnh vực tài chính, yếu tố an toàn hệ thống và kiểm soát rủi ro luôn được đặt ở mức ưu tiên cao nhất. Điều đó đồng nghĩa doanh nghiệp không thể đứng ngoài các yêu cầu về số hóa quy trình, chuẩn hóa dữ liệu hay đầu tư cho hạ tầng công nghệ. Chuyển đổi số vì thế không chỉ để tăng trải nghiệm khách hàng hay tối ưu vận hành, mà còn là điều kiện để duy trì năng lực cạnh tranh và đáp ứng yêu cầu quản lý ngày càng khắt khe.
Câu chuyện ESG hay tài chính xanh cũng diễn ra theo logic tương tự. Một phần áp lực đến từ định hướng và chính sách của NHNN trong việc thúc đẩy tín dụng xanh, phát triển bền vững; phần còn lại đến từ các yêu cầu của các tổ chức tài chính quốc tế và nguồn vốn mà EVF đang hợp tác. Khi tiếp cận các dòng vốn quốc tế, doanh nghiệp không chỉ cần chứng minh hiệu quả tài chính mà còn phải thể hiện năng lực quản trị môi trường, xã hội và minh bạch vận hành.
Tuy nhiên, theo chia sẻ từ ông Hiền, điều đáng chú ý nằm ở chỗ: Nhiều yêu cầu ban đầu được thực hiện vì tính bắt buộc, nhưng theo thời gian lại dần trở thành năng lực nội tại của doanh nghiệp. Khi các tiêu chuẩn được duy trì đủ lâu, chúng không còn là “bài toán tuân thủ” mà chuyển hóa thành văn hóa vận hành và tư duy quản trị trong doanh nghiệp.
“Doanh nghiệp có thể bắt đầu từ áp lực bên ngoài, nhưng nếu làm đủ lâu và làm nghiêm túc, những yêu cầu đó sẽ trở thành một phần trong cách tổ chức vận hành mỗi ngày. Tại EVF, chúng tôi cũng đã thành công tinh gọn bộ máy để có một đội ngũ nhân sự tinh nhuệ và linh hoạt”, ông Hiền chia sẻ.
Không chỉ riêng EVF, nhiều doanh nghiệp tài chính từng cho rằng mình đã đạt đến mức vận hành tương đối tinh gọn và hiệu quả. Tuy nhiên, sự xuất hiện và phát triển nhanh chóng của AI đang tạo ra một hệ quy chiếu hoàn toàn mới cho toàn ngành.
Nhìn rộng hơn, đại diện EVF cho rằng, chuyển đổi số hay chuyển đổi xanh cuối cùng không đơn thuần là câu chuyện chạy theo công nghệ hoặc xu hướng thị trường. Bản chất của những chuyển đổi này là sự thích nghi trước thay đổi của môi trường kinh doanh.
Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), trong 4 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu thủy sản đạt khoảng 3,7 tỉ USD, tăng 14 - 15% so với cùng kỳ năm 2025, cho thấy tín hiệu phục hồi tích cực. Các mặt hàng chủ lực như tôm, cá tra, mực - bạch tuộc, cua ghẹ và nhuyễn thể đều ghi nhận tăng trưởng, trong đó tôm đạt khoảng 1,5 tỉ USD và cá tra đạt khoảng 734 triệu USD.
Tuy nhiên, tăng trưởng chưa thực sự bền vững khi chịu tác động từ chi phí logistics cao, cạnh tranh quốc tế gay gắt và các rào cản kỹ thuật ngày càng gia tăng. Đặc biệt, xuất khẩu sang Mỹ và EU vẫn gặp nhiều khó khăn do thuế, yêu cầu truy xuất nguồn gốc, IUU và các quy định mới như MMPA, chứng nhận CoA, C/C, P/S.
Bên cạnh đó, VASEP cho biết doanh nghiệp đang đối mặt với nhiều bất cập trong nước như thủ tục hành chính còn phức tạp, chi phí tuân thủ cao; vướng mắc trong kiểm soát nguyên liệu nhập khẩu; quy định về thuế GTGT đối với hàng tái nhập; bất cập trong kiểm dịch, an toàn thực phẩm; chi phí xử lý nước thải trong khu công nghiệp; thiếu khung pháp lý cho đầu tư hạ tầng thủy lợi và nuôi trồng.
VASEP dự báo xuất khẩu thủy sản năm 2026 có thể đạt trên 12 tỉ USD, tăng trưởng 8 - 10% nếu các điểm nghẽn được tháo gỡ kịp thời, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến thể chế, nguyên liệu và thị trường. Để đạt mục tiêu này, VASEP kiến nghị Chính phủ và Bộ NN-MT tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, giảm chi phí tuân thủ, chuyển mạnh sang quản lý rủi ro và hậu kiểm; đồng thời rà soát, sửa đổi các quy định liên quan đến xuất khẩu hải sản sang EU và Mỹ, đặc biệt là các thủ tục cấp giấy chứng nhận như C/C, P/S và CoA.
Ngoài ra, VASEP đề xuất hoàn thiện khung pháp lý về an toàn thực phẩm, môi trường, thuế; hỗ trợ tín dụng; thúc đẩy đầu tư hạ tầng nuôi trồng, khai thác; phát triển nguồn nguyên liệu ổn định; và tăng cường xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu. Hiệp hội cũng nhấn mạnh sự cần thiết của việc tăng cường đối thoại chính sách giữa cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp, nhằm kịp thời xử lý các vướng mắc phát sinh, đồng hành cùng ngành thủy sản phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh trong giai đoạn tới.
Theo kế hoạch, ngày 8.5 Chính phủ sẽ có hội nghị quan trọng tại TP.HCM với các hiệp hội ngành hàng và các địa phương nhằm thúc đẩy xuất khẩu nông lâm thủy sản, bảo đảm mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu năm 2026.
Ngân hàng Nhà nước tăng tỷ giá trung tâm 8 đồng, lên 25.113 đồng/USD. Các ngân hàng thương mại tăng giá USD 8 đồng so với ngày trước đó. Vietcombank mua vào 26.108 - 26.138 đồng, bán ra 26.368 đồng. Vietinbank mua vào với giá 26.125 đồng, bán ra 26.368 đồng. ACB mua vào ở mức 26.110 - 26.140 đồng mỗi USD, bán ra 26.360 đồng… Các ngoại tệ khác giảm nhẹ. Tại Vietcombank, giá EUR giảm 97 đồng, mua vào ở mức 30.017 - 30.320 đồng, bán ra 31.600 đồng; bảng Anh giảm 30 đồng, mua vào 34.607 - 34.957 đồng, bán ra 36.076 đồng…
Giá USD thế giới tăng, chỉ số USD-Index thêm 0,21 điểm, lên 98,8 điểm. Đồng USD đang hướng tới một tuần tăng giá khi căng thẳng giữa Iran và Mỹ leo thang, làm tiêu tan hy vọng về một thỏa thuận hòa bình. Iran đã thể hiện quyền kiểm soát eo biển Hormuz, thông qua đoạn video cho thấy lực lượng đặc nhiệm nước này đột kích một tàu chở hàng lớn, sau khi các cuộc đàm phán hòa bình mà Washington kỳ vọng sẽ mở lại tuyến vận tải quan trọng nhất thế giới này bị đổ vỡ. USD đã thu hút nhu cầu trú ẩn an toàn trong bối cảnh bất ổn. Đồng tiền này tăng mạnh trong tháng 3 khi lo ngại xung đột leo thang, nhưng đã giảm bớt đà tăng trong tháng này.
Ngoài ra, Mỹ công bố số đơn xin trợ cấp thất nghiệp hằng tuần tăng nhẹ, nhưng vẫn phản ánh thị trường lao động ổn định. Các dữ liệu kinh tế gần đây cũng cho thấy nền kinh tế Mỹ vẫn vững vàng, điều này có thể khiến Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) ít có khả năng cắt giảm lãi suất, ngay cả khi xung đột được giải quyết. Hợp đồng tương lai lãi suất của Fed hiện chỉ dự đoán khoảng 24% khả năng cắt giảm lãi suất vào cuối năm, khi các nhà giao dịch cân nhắc rủi ro lạm phát do chiến tranh.
Một số ngoại tệ khác giảm giá so với USD như EUR giảm 0,08%, xuống 1,1694 USD; bảng Anh giảm 0,16%, xuống 1,3477 USD; yen Nhật suy yếu 0,04% so với USD, xuống mức 159,55 yen/USD, gần ngưỡng 160, đây là lằn ranh có thể kích hoạt can thiệp của cơ quan chức năng. Ngân hàng Trung ương Nhật Bản được kỳ vọng sẽ giữ nguyên lãi suất vào tuần tới, nhưng đã phát tín hiệu có thể tăng lãi suất vào tháng 6.
Theo công văn Bộ Nông nghiệp và Môi trường gửi Trưởng ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia, hiện tượng El Nino có khả năng cao hình thành từ tháng 6 đến tháng 8.2026 với xác suất từ 80 - 90% và có 20 - 25% nguy cơ đạt mức rất mạnh vào các tháng cuối năm, kéo dài sang năm 2027.
Tại Việt Nam, các điều kiện khô nóng đã xuất hiện sớm từ đầu năm 2026, nắng nóng gia tăng sớm hơn trung bình nhiều năm. Lượng mưa có thể thiếu hụt ngay trong các tháng mùa khô năm 2026. Thực tế hiện nay, lượng mưa trên cả nước từ đầu năm đến giữa tháng 4 đã thiếu hụt phổ biến từ 10 - 40% so với trung bình nhiều năm, khiến dòng chảy và mực nước tại nhiều lưu vực sông chạm mức thấp nhất trong chuỗi quan trắc.
Dự báo trong giai đoạn từ cuối năm 2026 đến đầu năm 2027, lượng mưa có khả năng giảm mạnh từ 25 - 50%. Điển hình, hệ thống sông Đà có nguy cơ thiếu hụt 10 - 25% dòng chảy ngay trong khoảng từ tháng 5 đến tháng 7.2026, tiềm ẩn rủi ro lớn đến việc cấp nước hạ du và an ninh năng lượng.
Tình trạng này kéo theo nguy cơ rất cao xảy ra hạn hán và xâm nhập mặn nghiêm trọng tại khu vực nam Trung bộ, cao nguyên Trung bộ và đồng bằng sông Cửu Long trong mùa khô 2026 - 2027. Đồng thời, các địa phương vẫn cần đề phòng các đợt mưa cực đoan gây lũ quét, sạt lở đất và những cơn bão mạnh có quỹ đạo phức tạp trên Biển Đông. Vào cuối năm 2026, mùa mưa có khả năng kết thúc sớm hơn trung bình nhiều năm.