Theo NBC hôm 6/5, Q’orianka Kilcher, 36 tuổi, người gốc bản địa Nam Mỹ, nộp đơn kiện đạo diễn James Cameron và The Walt Disney Company lên Tòa án Quận Trung tâm California một ngày trước.
Kilcher cho rằng khi cô gây chú ý với vai Pocahontas trong phim The New World (2005) lúc 15 tuổi, Cameron dùng các đường nét khuôn mặt của cô từ một bức ảnh được công bố trên báo chí, sau đó chỉ đạo đội ngũ thiết kế lấy đó làm nền tảng xây dựng nhân vật Neytiri (do Zoe Saldaña thủ vai).
Theo đơn kiện, Kilcher phát hiện James Cameron đề cập cô là nguồn cảm hứng trong một video phỏng vấn vào cuối năm ngoái. Trong đoạn video, đạo diễn đứng trước bản phác thảo Neytiri và trực tiếp nhắc đến cô: “Nguồn tham chiếu ban đầu cho bức vẽ này là ảnh của diễn viên Q’orianka Kilcher trên tờ LA Times. Đây thực chất là gương mặt của cô ấy, nhất là phần nửa dưới, cô ấy có những đường nét rất thú vị”.
Hồ sơ cho biết Kilcher và Cameron từng gặp nhau tại một sự kiện từ thiện vài tháng sau khi Avatar ra mắt năm 2009. Tại đây, Cameron mời cô đến văn phòng làm việc. Khoảng một tuần sau, diễn viên đến nơi nhưng Cameron vắng mặt. Thay vào đó, nhân viên của ông trao cho cô bản phác thảo do đạo diễn thực hiện, kèm lời nhắn viết tay: “Vẻ đẹp của cháu là nguồn cảm hứng ban đầu cho nhân vật Neytiri. Tiếc là khi đó cháu đang quay phim khác. Hẹn lần sau nhé”.
Kilcher cho biết: “Tôi chưa từng nghĩ người mình tin tưởng lại sử dụng gương mặt tôi như một phần trong quy trình thiết kế quy mô lớn mà không hề thông báo hay xin phép. Điều đó vượt quá giới hạn”.
Theo nội dung khiếu nại, hình ảnh của Kilcher được tái tạo qua các bản phác thảo sản xuất, mô hình điêu khắc 3D, quét laser thành dữ liệu kỹ thuật số độ phân giải cao và phân phối cho nhiều đơn vị kỹ xảo để hoàn thiện ngoại hình nhân vật. Hình ảnh sau đó xuất hiện trong phim chiếu rạp, poster, hàng hóa thương mại, các phần hậu truyện và các đợt tái phát hành mà diễn viên không biết.
Luật sư Arnold P. Peter, đại diện pháp lý của Kilcher, cho rằng đây không đơn thuần là nguồn cảm hứng sáng tạo mà là hành vi khai thác hình ảnh cá nhân trái phép để phục vụ mục đích thương mại. Ông nói: “Cameron sử dụng đặc điểm sinh trắc học trên gương mặt của một cô gái bản địa, đưa vào quy trình sản xuất công nghiệp và tạo ra hàng tỷ USD lợi nhuận mà chưa từng xin phép”.
Phía nguyên đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại, chia lại lợi nhuận phát sinh từ việc sử dụng hình ảnh, lệnh cấm tiếp tục khai thác và công khai đính chính thông tin. Ngoài Cameron và Disney, đơn kiện nhắm đến Lightstorm Entertainment – do đạo diễn Avatar và nhà sản xuất phim Larry Kasanoff thành lập – cùng nhiều công ty kỹ xảo tham gia sản xuất phim. Hiện đạo diễn và công ty sản xuất chưa phản hồi về sự việc.
Ra mắt năm 2009, phần một Avatar vượt Titanic trở thành phim điện ảnh ăn khách nhất mọi thời, thu hơn 2,92 tỷ USD toàn cầu. Series dẫn dắt khán giả đến thế giới kỳ ảo, mang tính cảnh tỉnh về các vấn đề toàn cầu trong bối cảnh con người đứng trước cuộc cách mạng AI và ô nhiễm môi trường. James Cameron không đạo diễn phim điện ảnh nào ngoài Avatar, dành nhiều thời gian nghiên cứu công nghệ và chuẩn bị kịch bản cho các phần kế tiếp.
Đội ngũ lên kế hoạch thực hiện năm phim, ra mắt phần ba cuối năm ngoái và đã quay một phần của phần bốn, dự kiến phát hành ngày 21/12/2029. Tập cuối Avatar 5 lên lịch vào ngày 19/12/2031. Tuy nhiên, theo nguồn tin nội bộ của The Wrap, chiến lược phát hành các phần tiếp khá mơ hồ khi hãng Disney tìm cách giảm chi phí và rút ngắn thời lượng loạt phim nhằm tránh rủi ro tài chính.
James Cameron, 72 tuổi, là một trong những đạo diễn có tầm ảnh hưởng lớn nhất Hollywood, nổi tiếng với bom tấn Titanic, The Terminator và Avatar. Ông được biết đến với tư duy hình ảnh, khả năng kể chuyện giàu cảm xúc và tinh thần tiên phong trong ứng dụng công nghệ điện ảnh.
Các tác phẩm của ông nổi bật nhờ hiệu ứng hình ảnh tiên phong và kỹ thuật ghi hình, tạo nên những khung hình sống động nhưng cũng là trở ngại khi có chi phí tốn kém nhất lịch sử điện ảnh. Trong bài phỏng vấn trên IGN tháng 10/2025, ông nói nếu trí tuệ nhân tạo AI ứng dụng vào điện ảnh, giá trị lớn nhất nằm ở việc hỗ trợ giảm chi phí làm phim bom tấn.
Q’orianka Kilcher sinh năm 1990, sinh tại Đức, có cha là người gốc Quechua-Huachipaeri từ Peru và mẹ là nhà hoạt động nhân quyền người Mỹ gốc Thụy Sĩ. Lớn lên ở Hawaii (Mỹ), Kilcher sớm tiếp xúc với nghệ thuật biểu diễn, theo học nhiều thể loại múa từ nhỏ trước khi bước vào sự nghiệp diễn xuất. Cô nổi tiếng với vai Pocahontas trong The New World (2005) của Terrence Malick và công chúa Ka’iulani trong Princess Kaiulani (2009).
Dự án Rush Hour 4 khởi động cuối năm ngoái, công ty sản xuất muốn mời Thành Long và Chris Tucker tái hợp sau gần 20 năm. Một nguồn tin cho biết mức thù lao nhà sản xuất đưa ra ban đầu là 8 triệu USD cho mỗi tài tử, không bằng một nửa so với thù lao mỗi người nhận được khi quay phần ba năm 2007. Vì vậy, cả hai đều chưa đồng tình tham gia.
Nguồn tin thân cận của TMZ cho hay phía công ty sản xuất và các ngôi sao tiếp tục đàm phán và đây là một phần bình thường trong ngành công nghiệp phim ảnh. Nhiều khả năng Thành Long và Chris Tucker trở lại loạt phim kinh điển, dự kiến bấm máy vào cuối mùa hè năm nay, đạo diễn vẫn là Brett Ratner - người gần đây gây tiếng vang với phim tài liệu về đệ nhất phu nhân Mỹ Melania Trump - Melania: Twenty Days to History.
Brett Ratner ấp ủ thực hiện Rush Hour 4 nhiều năm song chưa thể vì vấn đề kinh phí. Cuối năm ngoái, hãng Paramount Pictures bật đèn xanh cho dự án, sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump lên tiếng ủng hộ tác phẩm. Ông Trump được cho đã vận động vốn thông qua bạn bè và nhà đầu tư Larry Ellison, cổ đông lớn nhất của Paramount Skydance.
Trong một số lần phỏng vấn trước đây, tài tử Thành Long nói muốn đóng Rush Hour 4. Khi quảng bá Karate Kids: Legends năm 2025, ông trả lời khi được hỏi về dự án: "Tôi không biết bao giờ phim mới quay, hỏi đạo diễn, hãng phim hay biên kịch đi. Làm nhanh lên, không thì tôi với Chris Tucker 100 tuổi mất".
Rush Hour (Giờ cao điểm) là loạt phim ăn khách của Hollywood ra mắt lần đầu năm 1998, hai phần kế tiếp chiếu vào các năm 2001, 2007. Mỗi phần phim là một cuộc tung hứng vừa hài hước vừa căng thẳng của thám tử James Carter (Chris Tucker đóng) và thanh tra Yan Naing Lee (Thành Long) để triệt phá đường dây tội phạm. Phim ngập tràn các pha hành động, võ thuật và các đoạn hội thoại gây cười. Tác phẩm góp phần quan trọng đưa Thành Long thành ngôi sao người Hoa có tầm ảnh hưởng quốc tế.
Theo ArtNews, mức giá bao gồm thuế, phí, trở thành tác phẩm đắt nhất được bán trong phiên Robert Mnuchin: Collector at Heart Evening Auction, do Sotheby's tổ chức tối 14/5 (giờ địa phương). Đây cũng là bức vẽ có giá cao thứ hai của Mark Rothko trên thị trường. Kỷ lục của ông là tranh Orange, Red, Yellow (1961), được Christie's New York đấu giá thành công với 86,8 triệu USD vào năm 2012.
Sự kiện đấu giá diễn ra sôi nổi, nhiều người vỗ tay tán thưởng tác phẩm của Rothko sau tiếng gõ búa. Theo Artnet, vài người hy vọng Brown and Blacks in Reds được trả giá cao hơn.
Thông tin của nhà đấu giá cho biết tranh ra đời trong giai đoạn Mark Rothko định hình sự nghiệp, khi ông phát triển kỹ thuật phối màu chồng lớp. Đây là một trong 15 bức vẽ khổ lớn mà ông thực hiện năm 1957, hầu hết đang được trưng bày tại các bảo tàng.
Theo họa sĩ Robert Motherwell, Mark Rothko theo đuổi nhiều mục tiêu trong hội họa: sự rõ ràng, sự chiêm nghiệm, sự thuần khiết và chân thành trong khả năng truyền tải cảm xúc con người. Ở tác phẩm Brown and Blacks in Reds, người xem có thể thấy những mục tiêu của ông được hiện thực hóa, đồng thời họa sĩ đề cập ý nghĩa của việc vẽ, cảm nhận và sống.
Robert Motherwell nhận định càng nhìn lâu, người xem càng cảm nhận được những gam màu đỏ thẫm, đỏ ruby, sắc nâu, đen như đang lơ lửng trong không gian, vượt ra ngoài bề mặt tác phẩm. Nhà sử học nghệ thuật Katherine Kuh viết: ''Tranh của Rothko gợi lên những tâm trạng khác nhau nhưng luôn mãnh liệt''.
Tác phẩm đắt thứ hai trong phiên đấu giá của Sotheby's hôm 14/5 cũng là một sáng tác của Mark Rothko. Bức No.1 ra đời năm 1949, gồm những gam màu rực rỡ ở lớp trên và dưới, tương phản với sắc xanh lam tại trung tâm. Tranh được thực hiện vào thời điểm chuyển giao từ loạt bức vẽ Multiforms (1946-1949) sang các bức trừu tượng đặc trưng của Rothko.
Mark Rothko (1903-1970), nổi tiếng với phong cách nghệ thuật color field (tranh tường màu). Các sáng tác của ông gồm những mảng màu loang hình chữ nhật xếp chồng lên, không đều nhau. Giá trị tranh của Rothko tăng cao trong nhiều năm sau khi ông tự sát vào năm 1970. Họa sĩ có nhiều bức vẽ hàng chục triệu USD, bị nhiều người cho rằng ''điên rồ''. Trong đó, tác phẩm Số 7 của ông đứng thứ tư danh sách tranh đấu giá đắt nhất năm 2021 do The Value thống kê, với 82,4 triệu USD.
Thông tin từ Arthive cho biết những vệt màu của Rothko không đơn giản. Qua các nghiên cứu bằng kính hiển vi điện tử và tia cực tím, họa sĩ sử dụng một số thành phần tự nhiên như trứng, keo da thỏ và nhân tạo gồm màu acrylic, keo phenol formaldehyde, sơn alkyd.
Rothko dùng các mảng màu, chiều sâu không gian để hút người xem đối thoại với tác phẩm. Ông từng nói: ''Vẽ tranh không phải là một hình thức thể hiện bản thân. Nó giống như bất kỳ nghệ thuật nào khác, là ngôn ngữ mà bạn dùng để truyền đạt điều gì đó về thế giới''.
Trong một bài báo trên tạp chí Life năm 1959 , Dorothy Seiberling mô tả những bức tranh bí ẩn của Rothko: ''Màu sắc trong bức vẽ của Rothko khuấy động những cảm xúc lẫn lộn về niềm vui, sự u ám, lo lắng hay bình yên. Dù các hình thức trong tranh thoạt nhìn có vẻ đơn giản, thực chất chúng lại phức tạp''.
Đức Thịnh trở lại vị trí đạo diễn với Trùm Sò sau sáu năm, kể từ tác phẩm Người cần quên phải nhớ (2020). Ra mắt trong giai đoạn cạnh tranh cao tại phòng vé dịp lễ 30/4 và 1/5, phim hiện đạt hơn 15 tỷ đồng. Anh nói về áp lực phòng vé và sự hỗ trợ từ vợ - nghệ sĩ Thanh Thúy.
- Sau hai tuần phát hành, anh nhìn nhận thế nào về doanh thu của phim?
- Chúng tôi xác định mùa lễ là giai đoạn thử thách khi thị trường có nhiều tác phẩm ra mắt cùng lúc. Sau khởi đầu chậm, êkíp ra sức quảng bá để bộ phim được chú ý nhiều hơn. Việc tác phẩm được các cụm rạp tăng thêm suất chiếu trong những ngày qua tiếp thêm động lực. Dù doanh thu hiện tại vẫn chưa đủ để hòa vốn, chúng tôi sẽ nỗ lực để phim có thêm cơ hội tiếp cận người xem đến chặng cuối.
Mỗi giai đoạn làm nghề đi kèm những thử thách riêng, và lần trở lại này là trải nghiệm đáng nhớ. Bên cạnh việc kiếm lợi nhuận, tôi phải đối diện sự thay đổi của thị trường. Khi làm phim, việc lựa chọn cách thể hiện xuất phát từ chủ đích sáng tạo của đạo diễn. Nhưng ở giai đoạn phát hành, phản hồi của khán giả là thước đo để người làm nghề nhìn lại mức độ hiệu quả của những quyết định đó.
- Anh và vợ hỗ trợ nhau thế nào trong quá trình thực hiện bộ phim?
- Giai đoạn đầu của dự án, Thanh Thúy gợi ý tôi đảm nhận vai chính nhưng tôi lập tức từ chối vì nhiều lý do. Tôi tự ti về ngoại hình, bên cạnh đó vị trí đạo diễn đòi hỏi rất nhiều thời gian và công sức. Nếu kiêm luôn nhân vật chính, tôi lo khó quán xuyến trọn vẹn cả hai.
Sau đó, Thanh Thúy trong vai trò nhà sản xuất đã tìm kiếm và ngỏ lời với nhiều diễn viên. Tuy nhiên, việc tìm được người phù hợp rất khó, nhất là sau quãng thời gian tôi vắng bóng khỏi điện ảnh, nhiều mối quan hệ trong nghề cũng không còn như trước.
Có lần tại một sự kiện, vợ tôi phải chờ hơn cả tiếng chỉ để gặp một diễn viên, cố gắng trao đổi về bộ phim nhưng mọi chuyện vẫn chưa đi đến đâu. Lúc đó, tôi rất xúc động nên quyết định nhận vai. Tôi không muốn vợ vất vả thêm chỉ để giữ dự án mà cả hai dốc lòng thực hiện. Nếu không có Thanh Thúy, có lẽ tôi vẫn còn loay hoay để tìm lại cảm hứng làm nghề.
- Trong giai đoạn phim chật vật tại phòng vé, sự đồng hành của gia đình có ý nghĩa thế nào với anh?
- Tôi chỉ biết nói rằng mình rất biết ơn. Thanh Thúy là nhà sản xuất giỏi, thấu hiểu cả công việc lẫn con người tôi. Cô ấy sẵn sàng tranh luận thẳng thắn, góp ý đến cùng cho từng cảnh quay, bởi điều cô quan tâm nhất luôn là chất lượng tác phẩm.
Thanh Thúy và các con là lý do để tôi sống có trách nhiệm với bản thân và con đường mình chọn. Điều đó giúp tôi xem những khó khăn hiện tại như một chặng đường cần vượt qua bằng sự đàng hoàng, tử tế.
Tôi từng nhiều lần nói Thanh Thúy hỗ trợ tôi nhiều, bởi cô ấy hiểu rõ khi nào tôi quá bảo thủ và khi nào tôi đang bảo vệ quan điểm. Khi phim ra mắt, tôi càng cảm nhận rõ sự ủng hộ ấy. Vợ cùng tôi đi cinetour giao lưu quảng bá phim tại rạp, gặp gỡ người hâm mộ, livestream hướng dẫn cách đặt vé và làm mọi điều trong khả năng để tác phẩm tiếp cận công chúng. Chúng tôi chỉ mong mọi người hãy cho Trùm Sò một cơ hội bằng việc trực tiếp ra rạp thưởng thức, thay vì biết đến phim qua những bình luận trên mạng xã hội.
- Theo anh, đâu là hạn chế lớn nhất khiến bộ phim chưa tạo được hiệu ứng như kỳ vọng?
- Tôi cho rằng tác phẩm chưa tạo được lực đẩy truyền thông đủ mạnh ở giai đoạn đầu, nhất là trong việc tạo sự khác biệt so với các dự án khác. Dù phim mang màu sắc giải trí, có yếu tố dân gian Việt Nam, phù hợp với gia đình, việc tạo dấu ấn với công chúng vẫn là thách thức.
Người xem hiện có xu hướng tiếp cận nội dung nhanh nên một bộ phim ngoài việc bộc lộ cá tính đạo diễn còn cần câu chuyện lôi cuốn. Với Trùm Sò, tôi giữ những màu sắc trong các dự án trước như yếu tố hài hước và giá trị tình người. Tuy nhiên, lần này tôi nhận ra chỉ giữ chất riêng là chưa đủ. Một số chi tiết có thể tiết chế để mạch kể cô đọng, tập trung hơn. Tiết tấu ở vài đoạn cần xử lý gọn nhằm giữ cảm xúc liền mạch.
- Sau dự án này, anh rút kinh nghiệm gì trong tư duy làm phim?
- Tôi muốn dành nhiều thời gian hơn cho giai đoạn phát triển kịch bản, nhất là ở việc kiểm soát nhịp kể và cấu trúc tổng thể. Tôi và biên kịch sẽ chọn lọc chi tiết, tính toán khả năng tạo điểm nhấn ở từng chặng của câu chuyện. Ở khía cạnh tiếp cận công chúng, êkíp cần lên kế hoạch chuẩn bị quảng bá từ sớm, quan sát gu thưởng thức hiện nay để giúp người xem hiểu về thông điệpvà có lý do chọn bộ phim.
Lần này, chúng tôi nỗ lực nhiều ở giai đoạn sau phát hành. Việc trực tiếp gặp gỡ khán giả tại rạp mang cho tôi cảm nhận khác so với việc chỉ theo dõi doanh thu. Những phản hồi trực tiếp, dù động viên hay góp ý, đều giúp tôi hiểu về cách dự án được đón nhận. Tôi không xem áp lực là điều tiêu cực mà coi như một phần của quá trình làm nghề, giúp tôi và vợ có thêm bản lĩnh và sự trưởng thành.