Trao đổi với Tuổi Trẻ Online, TS Nguyễn Bảo Toàn – khoa công nghệ thực phẩm, Trường đại học Công Thương TP.HCM – cho biết việc kéo dài thời gian bảo quản đối với nhóm thực phẩm tươi giàu tinh bột, độ ẩm cao như bún, mì tươi, bánh phở… là hoàn toàn có thể thực hiện bằng các biện pháp hợp pháp.
Vấn đề cốt lõi là phải kiểm soát vi sinh vật, độ ẩm, nhiệt độ, bao gói và nguy cơ tái nhiễm, thay vì dùng hóa chất công nghiệp hoặc chất bị cấm.
Các nghiên cứu về mì tươi và mì gạo ướt đều chỉ ra rằng sản phẩm này nhanh hỏng chủ yếu do hàm lượng nước cao, giàu dinh dưỡng, dễ nhiễm vi sinh vật và xảy ra biến đổi tinh bột, dẫn đến chua, nhớt, mốc, giảm độ dai và giảm chất lượng cảm quan.
“Vấn đề là cơ sở sản xuất phải đầu tư vào quy trình hợp pháp: kiểm soát vệ sinh, xử lý nhiệt, làm nguội nhanh, bao gói sạch, bảo quản lạnh, duy trì chuỗi lạnh và chỉ sử dụng phụ gia được phép theo đúng giới hạn. Hàn the, natri silicat hoặc các hóa chất ngoài danh mục không phải là giải pháp công nghệ, mà là hành vi vi phạm pháp luật, đánh đổi sức khỏe cộng đồng để giảm chi phí”, TS Nguyễn Bảo Toàn cho hay.
Cũng theo TS Nguyễn Bảo Toàn, có thể lý giải nguyên nhân nhiều cơ sở vẫn bất chấp sử dụng chất cấm vào sản xuất thực phẩm như:
Lợi nhuận và chi phí sản xuất: Sản xuất đúng chuẩn đòi hỏi chi phí lớn như nhà xưởng tách biệt, nền thoát nước, nước sạch, thiết bị inox, khâu làm nguội sạch, bao gói, kho lạnh, xe lạnh, kiểm nghiệm định kỳ, hồ sơ truy xuất nguồn gốc.
Trong khi đó chất cấm như hàn the hoặc natri silicat có thể tạo hiệu ứng nhanh, làm sợi dai, giòn, khó đứt, lâu chua, lâu nhớt và dễ bán hơn.
Sản xuất nhỏ lẻ dễ bỏ qua tiêu chuẩn kỹ thuật: Ở nhiều cơ sở nhỏ, sản xuất bún, mì, bánh phở… vẫn theo mô hình thủ công, bán nhanh trong ngày, ít nhãn mác, ít kiểm nghiệm.
Khi muốn mở rộng sản lượng nhưng không đầu tư tương ứng vào thiết bị, nhà xưởng và bảo quản lạnh, một số đối tượng chọn cách dùng hóa chất để “giữ hàng”.
Về bản chất, đây không chỉ là lỗi dùng sai phụ gia, mà là một mô hình sản xuất không kiểm soát được nguy cơ an toàn thực phẩm. Chất cấm chỉ là phần nổi của vấn đề; phần chìm là điều kiện sản xuất, quản lý chất lượng và truy xuất nguồn gốc yếu.
Áp lực thị trường: giá rẻ, đẹp mắt, dai lâu. Theo đó, nếu người mua sỉ, quán ăn hoặc người tiêu dùng cuối cùng chỉ quan tâm sản phẩm “trắng, dai, rẻ, để lâu không chua”, cơ sở làm đúng có thể sẽ gặp bất lợi.
Sản phẩm không dùng chất cấm thường có hạn dùng ngắn hơn, đòi hỏi bảo quản lạnh và chi phí cao hơn. Trong khi đó sản phẩm vi phạm có thể bán rẻ hơn, vận chuyển xa hơn, để ngoài môi trường lâu hơn. Đây là dạng cạnh tranh không lành mạnh, cơ sở vi phạm dùng hóa chất để giảm chi phí và tăng sức cạnh tranh, còn cơ sở tuân thủ phải chịu chi phí cao hơn.
Cuối cùng là nhận thức sai: Một số người sản xuất vẫn xem hàn the, natri silicat như “mẹo nghề”, bí quyết giữ sợi, dùng ít không sao. Đây là nhận thức sai nghiêm trọng.
Hàn the không phải phụ gia được tự do dùng trong bún, mì; natri silicat cũng không phải chất được phép tùy tiện cho vào thực phẩm. Về pháp lý, việc dùng phụ gia, hóa chất ngoài danh mục hoặc chất cấm có thể bị xử phạt hành chính, thậm chí truy cứu trách nhiệm hình sự nếu đủ yếu tố cấu thành.
TS Nguyễn Bảo Toàn cho rằng thị hiếu người tiêu dùng là một yếu tố góp phần tạo nhu cầu cho sản phẩm vi phạm, tuy nhiên đây không phải nguyên nhân duy nhất và không làm giảm trách nhiệm pháp lý của người sản xuất.
Với bún, mì, bánh phở… nhiều người tiêu dùng vẫn có thói quen đánh giá sản phẩm bằng cảm quan càng trắng, càng dai, càng giòn, càng để lâu không chua thì càng được cho là ngon. Tuy nhiên dưới góc độ an toàn thực phẩm, các dấu hiệu “quá hoàn hảo” này đôi khi lại cần được đặt câu hỏi, nhất là khi sản phẩm tươi không được bảo quản lạnh, không nhãn mác, không ngày sản xuất nhưng vẫn để lâu bất thường.
Các nghiên cứu về mì tươi và bún gạo tươi đều cho thấy sản phẩm này dễ hư hỏng do vi sinh vật và biến đổi chất lượng nếu không có biện pháp bảo quản phù hợp. Vì vậy việc người tiêu dùng kỳ vọng sản phẩm tươi nhưng để lâu có thể vô tình khuyến khích cơ sở sản xuất tìm cách kéo dài hạn dùng bằng biện pháp sai.
Tuy nhiên trách nhiệm chính vẫn thuộc về cơ sở sản xuất, kinh doanh vì cơ sở sản xuất có nghĩa vụ biết và tuân thủ quy định pháp luật. Ngoài ra người tiêu dùng không có điều kiện kiểm nghiệm hàn the, natri silicat hay các chất không được phép bằng mắt thường, vì vậy không thể đẩy trách nhiệm chính sang người mua.
Do đó người tiêu dùng nên chuyển từ tiêu chí “đẹp, dai, rẻ” sang tiêu chí “an toàn, rõ nguồn gốc, bảo quản đúng”.
Tóm lại, các vụ việc phát hiện cơ sở sản xuất bún, mì tươi không đạt yêu cầu hiện nay cho thấy cần nhìn an toàn thực phẩm như một chuỗi trách nhiệm: nhà sản xuất cần phải tuân thủ pháp luật; cơ quan chức năng phải tăng kiểm tra, truy xuất và xử lý nghiêm; còn người tiêu dùng cần từ bỏ thói quen chuộng thực phẩm trắng bất thường, dai bất thường, rẻ bất thường, để lâu bất thường.
Theo kế hoạch hành động thực hiện Chỉ thị 10 của Thủ tướng về việc tăng cường thực thi tiết kiệm điện và phát triển điện mặt trời mái nhà vừa ban hành, Bộ Công Thương đã có nhiều giải pháp cụ thể để hỗ trợ phát triển điện mặt trời mái nhà.
Theo đó, Bộ Công Thương yêu cầu đẩy mạnh sử dụng điện mặt trời mái nhà trong hộ gia đình, cơ sở kinh doanh và doanh nghiệp sản xuất nhằm chủ động nguồn điện, tiết kiệm chi phí và giảm áp lực cho hệ thống điện quốc gia.
Trong đó, các hộ dân được khuyến khích lắp đặt điện mặt trời mái nhà kết hợp hệ thống lưu trữ năng lượng, còn doanh nghiệp ưu tiên tích hợp các nguồn năng lượng tái tạo như điện mặt trời, điện gió và hệ thống pin lưu trữ (BESS) vào hệ thống năng lượng nội bộ.
Cụ thể, Cục Điện lực (Bộ Công Thương) sẽ phối hợp với cơ quan, đơn vị liên quan tháo gỡ vướng mắc trong triển khai điện mặt trời mái nhà, hướng tới mục tiêu đến năm 2030 có khoảng 10% cơ quan công sở, 10% hộ gia đình lắp đặt sử dụng; hoặc tổng công suất đạt 20% kế hoạch phát triển của các địa phương.
Cơ quan này cũng sẽ tiếp tục phối hợp với Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan liên quan nghiên cứu, hoàn thiện chính sách hỗ trợ hộ gia đình lắp đặt điện mặt trời mái nhà và hệ thống lưu trữ điện.
Chính sách sẽ được trình Thủ tướng xem xét ban hành, phù hợp với điều kiện kỹ thuật, khả năng kinh tế và ngân sách từng thời kỳ, dự kiến hoàn thành trong năm nay.
Về các nhiệm vụ phối hợp với đơn vị ngoài Bộ Công Thương, Bộ Tài chính được giao đề xuất giải pháp bố trí nguồn ngân sách nhà nước để hỗ trợ chính sách phát triển điện mặt trời mái nhà và hệ thống lưu trữ điện cho hộ gia đình.
Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước sẽ đề xuất đầu mối tín dụng nhằm tạo thuận lợi cho người dân tiếp cận nguồn vốn theo đúng quy định pháp luật.
Các cơ quan cũng sẽ nghiên cứu giải pháp hỗ trợ ngân sách, tín dụng xanh và tín dụng ưu đãi cho hộ gia đình, doanh nghiệp lắp đặt điện mặt trời mái nhà và hệ thống pin lưu trữ, đặc biệt tại các tòa nhà công sở.
Ngoài ra, Bộ Xây dựng sẽ nghiên cứu, rà soát và đề xuất các tiêu chuẩn, quy chuẩn liên quan đến công trình mới có khả năng tự chủ một phần điện năng bằng điện mặt trời mái nhà; đồng thời hướng dẫn yêu cầu về thiết kế, an toàn công trình và phòng cháy chữa cháy đối với hệ thống điện mặt trời mái nhà và pin lưu trữ.
Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) được giao chỉ đạo các đơn vị kinh doanh điện tại các địa phương tăng cường vận động, hỗ trợ, tư vấn, hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi về lắp đặt, đấu nối, để các hộ tiêu thụ điện lắp đặt điện mặt trời mái nhà và hệ thống lưu trữ điện...
Thị trường kim loại quý vừa chứng kiến một phiên giao dịch đầy biến động khi giá bạc bất ngờ đảo chiều mạnh sau chuỗi tăng kéo dài sáu phiên liên tiếp. Trong phiên ngày 14/5, bạc từng leo lên vùng 88,48 USD/ounce - mức cao nhất trong 2 tháng - trước khi lao dốc xuống quanh 84,55 USD chỉ vài giờ sau đó.
Mức giảm gần 4 USD khiến bạc mất động lực tăng ngắn hạn, đồng thời tạo ra sự đối lập rõ rệt với vàng. Trong khi bạc rung lắc dữ dội, giá vàng chỉ giảm chưa tới 0,3%, cho thấy dòng tiền trên thị trường đang có sự phân hóa mạnh.
Diễn biến này nhanh chóng làm dấy lên lo ngại về khả năng kim loại quý bước vào một nhịp điều chỉnh sâu hơn. Tuy nhiên, giới phân tích cho rằng cú giảm của bạc phản ánh nhiều hơn những thay đổi trong kỳ vọng kinh tế vĩ mô thay vì sự suy yếu của xu hướng dài hạn.
Vì sao bạc giảm mạnh hơn vàng?
Để hiểu vì sao bạc lại nhạy cảm hơn vàng trong những phiên giao dịch đầy biến động, cần nhìn vào cấu trúc nhu cầu cốt lõi của kim loại này. Vàng gần như phụ thuộc hoàn toàn vào tâm lý tích trữ tài sản và trú ẩn an toàn. Bạc lại mang một sứ mệnh kép, vừa là tiền tệ vừa là nguyên liệu sản xuất không thể thiếu.
Theo dữ liệu từ báo cáo của Silver Institute, khoảng 55% nhu cầu bạc trên toàn cầu hiện nay phục vụ trực tiếp cho lĩnh vực công nghiệp. Kim loại này có mặt ở khắp mọi nơi, từ tấm pin năng lượng mặt trời, linh kiện xe điện, chip bán dẫn cho đến các thiết bị y tế công nghệ cao. Phần còn lại mới dành cho nhu cầu đầu tư và tích trữ vật chất.
Chính “vai trò kép” này khiến bạc thường biến động mạnh hơn vàng trong những giai đoạn thị trường lo ngại về lãi suất và tăng trưởng kinh tế. Khi kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) hạ lãi suất suy yếu, triển vọng sản xuất công nghiệp cũng chịu áp lực vì chi phí vốn tăng cao. Điều đó khiến giới đầu tư nhanh chóng cắt giảm phần “định giá công nghiệp” trong giá bạc.
Đó chính xác là những gì đã diễn ra trong phiên giao dịch ngày 14/5. Lực bán tháo xuất hiện không phải vì bạc mất đi giá trị trú ẩn, mà vì thị trường nhận ra động cơ công nghiệp của kim loại này đang phải đối mặt với những cơn gió ngược từ chính sách tiền tệ.
Cú sốc lạm phát khiến thị trường đổi kỳ vọng
Nguyên nhân trực tiếp bóp nghẹt kỳ vọng sản xuất đến từ 3 báo cáo kinh tế quan trọng của Mỹ được công bố liên tiếp. Các dữ liệu này đã dội một gáo nước lạnh vào hy vọng nới lỏng chính sách tiền tệ. Lạm phát tiêu dùng trong tháng 4 bất ngờ tăng lên 3,8%, mức cao nhất kể từ tháng 5/2023.
Tình hình ở mảng bán buôn còn căng thẳng hơn. Chỉ số giá sản xuất vọt lên 6% so với cùng kỳ năm trước, đánh dấu mức đỉnh kể từ cuối năm 2022. Cú sốc lớn nhất nằm ở chi phí năng lượng khi giá xăng tăng tới 15,6%, buộc các doanh nghiệp phải đẩy gánh nặng chi phí sang vai người tiêu dùng. Đồng thời, doanh số bán lẻ vẫn duy trì đà tăng 0,5%, cho thấy sức mua chưa hề suy kiệt.
Hệ quả là thị trường tài chính đã phải định giá lại toàn bộ lộ trình của Fed. Công cụ CME FedWatch cho thấy giới giao dịch đã hoàn toàn xóa bỏ kịch bản hạ lãi suất trong năm 2026. Thậm chí, gần một phần ba thị trường đang đặt cược vào khả năng lãi suất sẽ còn tiếp tục tăng trước khi năm nay khép lại.
Đây là môi trường đặc biệt bất lợi đối với bạc. Đồng USD mạnh lên khiến kim loại này trở nên đắt đỏ hơn với người mua toàn cầu, trong khi lãi suất cao làm tăng chi phí cơ hội của việc nắm giữ tài sản không sinh lợi suất.
Không chỉ chịu sức ép từ Mỹ, thị trường bạc còn đối mặt lực cản lớn từ châu Á. Ấn Độ vừa nâng thuế nhập khẩu vàng và bạc từ 6% lên 15% nhằm bảo vệ đồng rupee và dự trữ ngoại hối. Động thái này có thể làm suy yếu nhu cầu mua vàng bạc vật chất tại một trong những thị trường tiêu thụ lớn nhất thế giới.
Trong khi đó, giới đầu tư toàn cầu vẫn giữ tâm lý thận trọng trước cuộc gặp giữa Tổng thống Mỹ Donald Trump và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại Bắc Kinh.
Các thông tin về khả năng cắt giảm thuế đối với khoảng 30 tỷ USD hàng hóa giúp cải thiện phần nào kỳ vọng thương mại, nhưng sự thiếu rõ ràng về quy mô và thời điểm thực hiện khiến dòng tiền vẫn chưa sẵn sàng quay trở lại mạnh mẽ với nhóm kim loại công nghiệp.
Chu kỳ tăng giá của bạc đã kết thúc?
Tính đến 7h ngày 15/5, giá bạc giao dịch quanh mức 83,5 USD/ounce, tiếp tục giảm nhẹ so với phiên trước đó. Dù vậy, nhiều tổ chức vẫn cho rằng nền tảng dài hạn của bạc chưa thay đổi. Theo Silver Institute, thị trường bạc toàn cầu năm 2026 dự kiến thiếu hụt khoảng 46,3 triệu ounce. Đây là năm thứ sáu liên tiếp nhu cầu vượt sản lượng khai thác.
Nguồn cung bạc hiện vẫn bị giới hạn do phần lớn sản lượng là sản phẩm phụ từ các mỏ đồng, chì và kẽm, khiến việc mở rộng khai thác không thể diễn ra nhanh chóng dù giá tăng cao. Trong khi đó, nhu cầu công nghiệp dài hạn vẫn được hỗ trợ bởi quá trình chuyển đổi năng lượng, mở rộng sản xuất xe điện và sự bùng nổ của các trung tâm dữ liệu AI.
Ngoài ra, những cú sốc năng lượng toàn cầu liên quan đến eo biển Hormuz tiếp tục làm gia tăng áp lực lạm phát. Đây là dạng lạm phát phía cung mà công cụ lãi suất của Fed khó có thể xử lý triệt để. Điều đó đồng nghĩa các tài sản thực như vàng và bạc vẫn giữ vai trò quan trọng trong chiến lược phòng vệ dài hạn của giới đầu tư.
Hiện tại, thị trường bạc đang bước vào giai đoạn nhạy cảm nhất khi phải cân bằng giữa áp lực lãi suất ngắn hạn và triển vọng thiếu hụt nguồn cung kéo dài trong nhiều năm tới.
Tại họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 3, Thứ trưởng Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân cho biết hai nhà máy lọc dầu trong nước là Dung Quất và Nghi Sơn đảm bảo đủ nguyên liệu để sản xuất đến hết tháng 4.
Trong tháng 3, các thương nhân đầu mối cũng nhập khẩu 3,2 triệu m3 xăng dầu. Cùng với hàng tồn kho hiện tại (2,6-2,8 triệu m3), nguồn cung xăng dầu trong nước có thể đảm bảo cho sản xuất và tiêu dùng hết tháng này, theo Thứ trưởng.
Xung đột Trung Đông tiếp tục leo thang từ cuối tháng 2 gây hệ lụy lớn đến nguồn cung xăng dầu, khí toàn cầu. Quy mô và mức độ ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng này vượt cú sốc dầu mỏ của thập niên 1970 - từng làm đảo lộn nền kinh tế, thị trường năng lượng.
Diễn biến này kéo theo thị trường năng lượng trong nước biến động mạnh. Từ cuối tháng 2 đến nay, giá bán lẻ xăng dầu trong nước có 13 kỳ điều hành, hiện mỗi lít xăng RON 95-III là 26.970 đồng, dầu diesel 44.780 đồng một lít.
Trước diễn biến này, từ đầu tháng 3, Việt Nam đã xây dựng kịch bản để điều hành xăng dầu. Theo Thứ trưởng, nhà điều hành tính tới kịch bản khủng hoảng diễn ra 4 tuần và dài hơn thời gian này. Bộ Công Thương đang xây dựng kịch bản cho các tháng tiếp theo.
Thứ trưởng cho biết việc điều hành cung cầu và giá xăng dầu trên nguyên tắc bảo đảm an ninh năng lượng, bám sát diễn biến giá thế giới, đánh giá tác động tới người dân và các ngành chịu ảnh hưởng. Trên cơ sở đó, cơ quan quản lý đưa ra các giải pháp nhằm ổn định cung cầu, giá cả và hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng.
Cùng quan điểm, tại họp Chính phủ thường kỳ cùng ngày, quyền Bộ trưởng Công Thương Lê Mạnh Hùng cũng khẳng định Việt Nam vẫn duy trì được "ổn định tương đối" trong khi nhiều quốc gia trong khu vực rơi vào tình trạng khủng hoảng năng lượng.
Tại Thái Lan, giá xăng đã lên tới hơn 51.000 đồng một lít, trong khi diesel khoảng 47.000 đồng một lít. Một số nước như Lào, Campuchia ghi nhận tình trạng đóng cửa nhiều cây xăng, còn Philippines tuyên bố tình trạng khó khăn. Ở các nền kinh tế phát triển, doanh nghiệp thậm chí khuyến cáo người lao động làm việc từ xa để giảm nhu cầu đi lại.
"Trong bối cảnh đó, Việt Nam không chỉ bảo đảm nguồn cung mà còn duy trì mức giá thấp hơn trung bình thế giới, chỉ khoảng 1,3 USD một lít, thấp hơn cả các nước có chung đường biên giới", ông Hùng nói.
Song theo quyền Bộ trưởng, nền kinh tế vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn do còn phụ thuộc lớn vào năng lượng nhập khẩu, sức cầu trong nước chưa phục hồi mạnh và những biến động khó lường từ bên ngoài. Do đó, nhà điều hành cần triển khai đồng bộ các giải pháp, từ bảo đảm năng lượng, tái cơ cấu công nghiệp đến kích cầu tiêu dùng để ổn định kinh tế vĩ mô.
Để ứng phó, Bộ Công Thương cho biết Chính phủ đã sử dụng Quỹ bình ổn giá xăng dầu, giảm tối đa các loại thuế (bảo vệ môi trường, VAT, tiêu thụ đặc biệt) nhằm giảm áp lực tăng giá nhiên liệu. Bên cạnh đó, nhà điều hành có các giải pháp nhằm tăng năng lực sản xuất trong nước, đa dạng nguồn cung nhập khẩu, phát triển nguồn năng lượng thay thế (xăng sinh học), tăng năng lực dự trữ và quản trị rủi ro.