Đọc bài viết “Tôi đánh giá một sao vì shipper giao hàng muộn 5 phút”, tôi thấy nhiều người vẫn có cái nhìn chưa đúng với nghề giao hàng. Tôi làm shipper đã một thời gian, đủ lâu để hiểu rõ từng áp lực của công việc này. Với chúng tôi, mỗi đơn hàng là cơ hội để có thêm thu nhập giữa cuộc sống nhiều chi phí. Vì vậy, hễ có đơn là ai cũng muốn nhận thật nhanh, giao thật sớm để còn kịp chạy tiếp những đơn khác.
Đặc biệt, với những món ăn cần giữ nóng hay giữ lạnh, tôi luôn cố gắng tranh thủ từng phút, chỉ mong khách nhận được món đúng trạng thái ngon nhất. Nhưng thực tế không phải lúc nào việc giao hàng cũng suôn sẻ như những gì hiển thị trên ứng dụng. Khách chỉ thấy trạng thái “shipper đã đến quán và nhận đơn”, chứ không biết rằng nhiều khi chúng tôi phải đứng đợi quán chế biến từ đầu. Có hôm tôi chờ 30 phút, thậm chí gần một tiếng mới lấy được đồ, nhưng vẫn phải kiên nhẫn, vì đã nhận đơn rồi thì không thể bỏ.
Chưa kể, nếu khách chọn dịch vụ giao tiết kiệm để giảm chi phí, hệ thống sẽ tự động ghép nhiều đơn. Điều đó đồng nghĩa với việc thời gian giao hàng kéo dài hơn. Trong khi đó, tình hình giao thông ở TP HCM thì ai cũng rõ: giờ cao điểm có khi chỉ qua một ngã tư mà mất 3-4 nhịp đèn đỏ, xe nhích từng chút một. Có những con hẻm định vị không chính xác, tôi phải vòng đi vòng lại nhiều lần, đặc biệt buổi tối tầm nhìn hạn chế, càng mất thời gian hơn.
Đến nơi giao hàng cũng chưa phải là xong. Không ít lần tôi phải đứng đợi khách 15-20 phút, còn chuyện chờ 5 phút gần như là “mặc định”. Nhiều khách không nghe điện thoại, hoặc nghe rồi nhưng vẫn thong thả đi ra lấy đồ, bất kể trời nắng gắt hay mưa lớn. Có bữa tôi đứng dưới mưa, nhìn đồng hồ trôi từng phút mà không khỏi chạnh lòng, vì cảm giác thời gian của mình không được coi trọng.
>> Tôi làm thợ thu nhập gấp ba lần người bạn chạy xe ôm công nghệ
Tôi cũng từng giao cho khách nước ngoài, và trải nghiệm có phần khác. Phần lớn họ đã đứng đợi sẵn hoặc xuống nhận hàng rất nhanh. Tôi chia sẻ điều này không phải để so sánh hơn kém, mà chỉ là một quan sát cá nhân: đâu đó, vẫn có những thói quen ứng xử của một bộ phận người Việt với shipper chưa thực sự phù hợp.
Thực ra, tôi cũng từng là người đặt đồ ăn. Có lần, do không để ý cài đặt thông báo, tôi đã bỏ lỡ cuộc gọi của shipper khi quán hết món. Khi gọi lại, trong lòng tôi rất áy náy vì đã làm mất thời gian của người giao hàng. Từ đó, mỗi lần đặt đồ, tôi luôn chủ động theo dõi ứng dụng và xuống đợi sẵn. Chỉ một thay đổi nhỏ, nhưng tôi biết nó giúp người khác bớt đi một chút vất vả.
Tôi viết những dòng này không phải để phàn nàn hay trách móc. Nghề nào cũng có khó khăn riêng, và khách hàng cũng có những lý do của họ. Chỉ mong rằng, nếu có thể, mỗi người dành cho nhau thêm một chút thấu hiểu: để ý điện thoại khi đã đặt hàng, chủ động ra nhận sớm hơn, hoặc đơn giản là kiên nhẫn hơn khi biết shipper có thể đang kẹt xe hay phải chờ quán, cũng đừng vội vàng đánh giá 1 sao cho ai đó chỉ vì họ lỡ giao trễ vài phút.
Giữa cuộc sống vội vã và nhiều áp lực, đôi khi chỉ cần một chút cảm thông cũng đủ làm mọi thứ trở nên nhẹ nhàng hơn, cho cả người nhận hàng lẫn người đang chạy ngoài đường để kịp giao một bữa ăn.
Lúc nhỏ, nhà tôi ở cạnh quán phở của người hàng xóm. Có hai điều đặc biệt mà tôi nhớ rất rõ khi quan sát công đoạn chú làm một tô phở cho khách:
Một là dùng một chiếc cân nhỏ để cân thịt bò, khối lượng đúng từng gram. Hai là sau khi ngắt bánh phở, xếp thịt bò vào tô, chú mới mấy muỗng cà phê cho từng thìa gia vị, hạt nêm vào và dĩ nhiên là có không ít bột ngọt (mỳ chính).
Sau đó mới múc nước dùng trong nồi to, cho vào nồi nhỏ rồi đun nóng cấp tốc rồi mới rưới vào tô phở. Vậy mà quán lúc nào cũng đông khách.
Thời gian trôi qua, ngày càng có nhiều người than phiền việc bị say bột ngọt khi đi ăn hàng quán. Họ cũng không ủng hộ việc nấu ăn nêm nếm bột ngọt. Các hàng quán bị đặt vào thế ngã ba đường: Dùng hay không dùng bột ngọt? Dùng bao nhiêu là vừa?
Mới đây, tôi thấy trên mạng một tiệm phở đã thông báo sắp đóng cửa. Một số người chỉ ra hai nguyên nhân: Quán treo biển nói rằng nước dùng nấu từ 100% xương tươi và sá sùng, không dùng mì chính.
Họ cho rằng quán tự tin như vậy là hơi thái quá, vì trong 1000 khách hàng, rất ít người nhận ra sự khác biệt của nước dùng hầm từ xương và sá sùng với dùng bột ngọt.
Trong khi đó, giá sá sùng khá đắt, từ vài triệu đồng một kg, cách xử lý cũng phải khéo để không bị tanh... Như vậy, quán đã xác định sai tệp khách hàng, dẫn đến thua lỗ và đóng cửa.
Tôi thì không nghĩ vậy. Có thể quán đóng cửa do nhiều lý do khác nhau, có thể là lý do gia đình. Ngày nay, nhiều thực khách có lưỡi rất nhạy cảm, trong nước dùng chỉ có một số ít bột ngọt là lưỡi bị tê (say bột ngọt) và họ sẽ cân nhắc đến quán. Như vậy, vấn đề chỉ có thể nằm ở giá cả mà thôi.
Như cái quán phở kế bên nhà tôi lạm dụng bột ngọt, sau này cũng đã phải chăm chút hơn cho nồi nước dùng...
5 năm trước, khi bước sang tuổi ngoài 30, tôi bắt đầu nói với chồng về chuyện sinh thêm con. Khi đó, chúng tôi đã có một bé đầu lòng, cuộc sống đủ đầy, công việc ổn định. Với anh, như vậy là đủ. Nhưng tôi nghĩ một đứa con là chưa đủ cho một hành trình dài phía trước.
Những cuộc trò chuyện ban đầu dần trở thành tranh luận. Chồng tôi lo áp lực tài chính, lo thời gian, lo cả việc nuôi dạy con cái trong một xã hội ngày càng cạnh tranh. Anh nói: "Nuôi một đứa đã khó, hai đứa lại càng vất vả hơn, sao không tập trung chăm sóc tốt nhất cho đứa con hiện tại?".
Nhưng tôi vẫn không từ bỏ suy nghĩ của mình. Có lẽ vì tôi đã chứng kiến quá nhiều cảnh người già quanh mình sống neo đơn. Khi còn trẻ, họ mạnh mẽ, độc lập, nhưng đến lúc tuổi cao lại trở nên chậm chạp, mỏi mệt, mắt kém. Và điều đáng sợ nhất không phải là bệnh tật, mà là cảm giác cô đơn và bất an.
Tôi từng thấy có người chỉ thực sự yên tâm khi trong nhà có tiếng nói cười của con cháu. Ngược lại, có người dù có điều kiện kinh tế, vẫn không tránh khỏi cảm giác trống trải khi sống một mình trong căn nhà rộng. Chính những điều đó khiến tôi nghĩ nhiều hơn về tương lai của mình. Tôi không muốn đặt toàn bộ trách nhiệm chăm sóc cha mẹ già lên vai một đứa con duy nhất. Có anh, có em, dù mỗi người một hoàn cảnh, nhưng vẫn có thể san sẻ với nhau cả về vật chất lẫn tinh thần.
>> Nhà 5 anh chị em nhưng con gái phải 'gánh' cha mẹ
Suốt ba năm tôi kiên nhẫn thuyết phục chồng. Dần dần, anh cũng thay đổi suy nghĩ, nhận ra việc có thêm một đứa con không chỉ là gánh nặng, mà còn là một cách để gia đình trở nên đầy đặn hơn. Đến hôm nay, khi nhìn hai đứa trẻ chơi với nhau trong nhà, tôi thấy quyết định ngày đó là hoàn toàn đúng đắn. Đúng là vất vả hơn, chi phí nhiều hơn, thời gian riêng ít đi. Nhưng đổi lại là tiếng cười nhiều hơn, là cảm giác gia đình ấm áp hơn.
Tôi không phủ nhận rằng cuộc sống luôn có hai mặt. Người có con thì vất vả từ khi còn trẻ, lo ăn, lo học, lo từng bước trưởng thành cho con. Nhưng nếu những đứa con ấy biết hiếu thảo, về già họ sẽ có chỗ dựa tinh thần. Ngược lại, người không có con có thể tận hưởng sự tự do, nhẹ gánh trong những năm tháng tuổi trẻ. Nhưng khi về già, nếu không có điều kiện tài chính tốt hoặc người thân bên cạnh, họ sẽ phải tự lo liệu mọi thứ.
Có người nói viện dưỡng lão là một lựa chọn của xã hội hiện đại, nhưng không phải ai cũng đủ điều kiện để vào đó, và cũng không phải ai cũng muốn sống những năm cuối đời trong một môi trường xa lạ. Cuộc sống vốn dĩ không có lựa chọn nào hoàn hảo. Quan trọng là bạn chọn cách sống nào, thì hãy chấp nhận cả mặt tích cực lẫn tiêu cực của nó.
Sở Xây dựng Hà Nội đang lấy ý kiến dự thảo Nghị quyết của HĐND về thí điểm quản lý, sử dụng vỉa hè để kinh doanh, phát triển kinh tế đô thị, kinh tế đêm. Cơ quan này đề xuất thí điểm cho các tổ chức, cá nhân, hộ kinh doanh có thể trả phí thuê một phần mặt bằng dưới lòng đường, vỉa hè để kinh doanh. Theo đó, phí thuê tại các tuyến phố thấp nhất 20.000 đồng, cao nhất 45.000 đồng mỗi m2 một tháng, tùy khu vực, vị trí.
Các tuyến phố thực hiện thí điểm phải đáp ứng loạt tiêu chí như không thuộc phạm vi bảo tồn di tích lịch sử văn hóa, không có điểm ùn tắc giao thông. Vỉa hè của các tuyến phố này cũng cần rộng từ 3 m trở lên và đảm bảo lối đi cho người đi bộ (tối thiểu 1,5 m). Ngoài ra, ít nhất 50% tổ chức, hộ gia đình, hộ kinh doanh tại các tuyến phố này phải đồng thuận thì việc thí điểm mới có thể thực hiện. Nhà quản lý đề xuất cần trang bị hệ thống camera giám sát phạm vi phần lòng đường, vỉa hè khi thực hiện thí điểm.
Tuy nhiên, đặt dấu hỏi về tính khả thi của đề xuất, độc giả Nguyễn Lê Hoàng này tỏ băn khoăn: "Nếu mục tiêu ban đầu là dẹp vỉa hè, chống lấn chiếm, trả lại không gian công cộng cho người đi bộ thì việc cho thuê vỉa hè liệu có làm nảy sinh nhiều vấn đề? Đầu tiên là không gian vỉa hè liệu có lại quay về như cũ, chỉ là người kinh doanh phải nộp phí, rồi phí đó khách hàng lại phải gánh?
>> Cô chú tôi mất nửa doanh thu sau chiến dịch dẹp vỉa hè Hà Nội
Thứ hai là vỉa hè của nhà nào thì chỉ nhà đó được thuê hay người nơi khác đến thuê cũng được, rồi kinh doanh trước cửa nhà người khác có làm nảy sinh mâu thuẫn? Thứ ba là quy định cho thuê vỉa hè ở các địa điểm khác nhau liệu có thể làm thống nhất theo khuôn khổ không, do cơ quan nào quy định, hay mỗi nơi làm một kiểu?
Cùng chung thắc mắc, bạn đọc Quốc Huy đặt ra nhiều vấn đề: "Cho thuê vỉa hè thì lấy chỗ đâu để xe máy, đi bộ? Rồi chi phí người kinh doanh bỏ ra để thuê vỉa hè có tính vào giá sản phẩm và người tiêu dùng lại phải gánh? Nếu nhà mặt đường không kinh doanh thì người khác lại thuê trước cửa nhà họ được không? Và nếu một lô vỉa hè sẽ cho đấu giá thuê hay người có mặt tiền gần nhất được ưu tiên?