Cứ đến mùa tuyển sinh vào lớp 10, cùng với lịch thi, chỉ tiêu và môn thi, thông tin “tỷ lệ chọi” của từng trường lại được công bố.
Học sinh nhìn tỷ lệ, ví dụ, 1/3, 1/5 như một “định mệnh” cho tương lai của mình. Nhiều em thay đổi nguyện vọng vào phút chót, chọn trường thấp hơn khả năng thật vì sợ rớt. Trong khi đó, không ít học sinh khác thấy tỷ lệ thấp liền chủ quan, giảm nỗ lực. Những con số tưởng khách quan ấy lại đang khiến tâm lý học sinh trở nên bất ổn và định hướng học tập có thể bị sai lệch.
Trên lý thuyết, tỷ lệ chọi được cho là giúp thí sinh “ước lượng độ khó” của kỳ thi. Nhưng thực chất, con số này phản ánh chưa đúng về thực tế cạnh tranh.
Hai trường có cùng tỷ lệ chọi 1/10 chưa chắc đã có mức độ cạnh tranh ngang nhau. Có trường nhiều hồ sơ ảo, học sinh chỉ đăng ký “thử vận may”, trong khi trường khác có ít hồ sơ nhưng hầu hết là học sinh có học lực giỏi.
Tỷ lệ chọi còn biến động mạnh qua từng năm do hàng loạt yếu tố như vị trí địa lý, uy tín nhà trường, thay đổi chỉ tiêu hay tâm lý đám đông. Do đó, việc lấy tỷ lệ chọi làm căn cứ để dự đoán cơ hội trúng tuyển là thiếu cơ sở khoa học.
Nhiều chuyên gia giáo dục cho rằng: “Tỷ lệ chọi chỉ mang ý nghĩa mô tả số lượng đăng ký, chứ không dự báo được kết quả. Do đó không nên dùng tỷ lệ này để định hướng nguyện vọng”.
Về mặt thống kê, tỷ lệ chọi là dữ liệu thô, giá trị thông tin thấp nếu không đi kèm các yếu tố như phổ điểm, chỉ tiêu ưu tiên, hoặc điểm chuẩn dự kiến. Nó không phản ánh được năng lực học sinh, mức độ cạnh tranh thực tế, hay chất lượng đào tạo của trường.
Do đó thay vì chỉ tập trung vào “bao nhiêu người thi – bao nhiêu người đậu”, phụ huynh và học sinh nên quan tâm tới các thông tin có ý nghĩa định hướng thực chất:
Đồng thời, các nhà trường nên đẩy mạnh công tác tư vấn tuyển sinh, hướng nghiệp trong trường THCS, giúp học sinh hiểu rõ bản thân thay vì chạy theo “độ hot” của trường. Khi có đủ thông tin đúng và hữu ích, học sinh sẽ biết chọn trường phù hợp.
Tin Gốc: Thanh Niên

Tại buổi làm việc gần đây với các phường phía nam thành phố, lãnh đạo UBND TP Đà Nẵng đã nêu đề xuất từng bước hình thành trung tâm giáo dục đào tạo tại Tam Kỳ.
Theo đó, các trường đại học có thể được bố trí về khu vực này, trong khi các cơ sở đào tạo chất lượng cao và sau đại học tiếp tục đặt tại khu vực trung tâm Đà Nẵng cũ, nơi gắn với hệ sinh thái tài chính, công nghệ và chuyển đổi số.
Theo ghi nhận hiện nay, phần lớn các trường đại học công lập và tư thục vẫn tập trung tại khu vực Đà Nẵng cũ, phân bố rải rác ở nhiều quận. Trong khi đó, một số cơ sở đã bắt đầu chuyển về khu vực Làng đại học Đà Nẵng tại Hòa Quý và Điện Bàn Đông theo quy hoạch.
Dự án này đang được đẩy nhanh tiến độ để tiếp nhận thêm các đơn vị thành viên của Đại học Đà Nẵng trong sự chờ đợi của rất nhiều người dân trong vùng quy hoạch treo trước đây.
Trong khi đó theo quy hoạch thành phố thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, Đà Nẵng định hướng phát triển hai "đô thị đại học".
Trong đó, khu phía bắc gắn với chiến lược phát triển Đại học Quốc gia Đà Nẵng, còn khu phía nam gắn với Khu kinh tế mở Chu Lai và đô thị Tam Kỳ. Mục tiêu là đưa Đà Nẵng trở thành trung tâm giáo dục - đào tạo chất lượng cao của cả nước và khu vực Đông Nam Á.
Tuy nhiên đề xuất di dời đại học cũng làm dấy lên nhiều băn khoăn. Không ít ý kiến lo ngại việc "dịch chuyển cơ học" có thể ảnh hưởng đến hệ sinh thái học thuật vốn cần thời gian dài để tích lũy.
PGS.TS Võ Văn Minh cho rằng việc di dời các trường đại học cần được cân nhắc thận trọng, dựa trên nhận thức đúng về vai trò của đại học như một thiết chế của tri thức, văn hóa và thời gian.
Theo ông Minh, một đại học có thể xây dựng trong vài thập niên, nhưng để hình thành một không gian học thuật đúng nghĩa cần cả thế kỷ tích tụ.
Từ thực tiễn quốc tế, các đại học lớn đều phát triển trên nền tảng ổn định, mở rộng theo thời gian thay vì di dời. "Đại học không lớn lên bằng cách dịch chuyển, mà bằng sự tích tụ bền bỉ trong một không gian ổn định" - ông Minh nhận định.
Ở góc nhìn quy hoạch, KTS Hoàng Quang Huy - nguyên Chủ tịch Hội Quy hoạch phát triển đô thị Đà Nẵng - cho rằng việc di dời hay hình thành làng đại học phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó quan trọng nhất là nguồn lực và khả năng tổ chức thực hiện.
Ông Huy cho biết nếu định hướng, quy hoạch lâu dài thì vẫn có khả thi nếu muốn hình thành đô thị đại học.
Tuy nhiên theo ông Huy, yếu tố quyết định không nằm ở vị trí mà là con người. Nếu không tập trung được đội ngũ giảng viên, sinh viên và các điều kiện hỗ trợ đi kèm, việc di dời có thể không đạt hiệu quả như kỳ vọng.
Cùng quan điểm thận trọng, PGS.TS Bùi Quang Bình (Trường đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng) cho rằng việc quy hoạch, di dời các trường đại học vào Tam Kỳ cần được tính toán kỹ lưỡng trên các khía cạnh pháp lý, kinh tế, xã hội và đào tạo.
"Không thể làm theo cảm tính hay ý chí, mà phải có cơ sở khoa học và lộ trình rõ ràng" - ông nói.
Theo ông Bình, hiện vị trí của Đại học Đà Nẵng đã được xác định trong quy hoạch quốc gia, quy hoạch vùng và quy hoạch thành phố.
Đồng thời đơn vị này đang thực hiện sứ mệnh trở thành một trong những đại học trọng điểm, hướng đến mục tiêu đưa một số ngành đào tạo vào top 100 thế giới. Việc di dời, nếu có, sẽ rất phức tạp, tốn kém và có thể ảnh hưởng đến tiến trình này.
Ngoài ra bài toán tài chính cũng là thách thức lớn. Việc di dời đòi hỏi nguồn kinh phí rất lớn trong khi chủ trương chung là hạn chế sử dụng vốn đầu tư công cho xây dựng trụ sở.
"Giáo dục và y tế chất lượng cao là hai trụ cột dịch vụ quan trọng của Đà Nẵng. Nếu di dời các trường đại học ra khỏi nội đô, hệ sinh thái dịch vụ này có thể bị xáo trộn, ảnh hưởng đến thương hiệu thành phố.
Chưa kể, với lịch sử hàng chục năm, Đại học Đà Nẵng đã gắn bó với sự phát triển của miền Trung, thu hút người học từ nhiều nơi. Nếu chuyển đến khu vực chưa có môi trường học tập và giao lưu tương xứng, liệu sinh viên có sẵn sàng theo học?" - ông Bình đặt vấn đề.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho thấy thông điệp rất rõ là giáo dục đại học và khoa học công nghệ đang được đặt vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển quốc gia. Đây không chỉ là định hướng chính trị mà còn là "mệnh lệnh hành động" đối với các trường đại học trong giai đoạn tới.
Trong nhiều năm, các trường đại học thường được nhìn nhận chủ yếu với vai trò đào tạo nhân lực. Tuy nhiên, tinh thần của các nghị quyết mới cho thấy kỳ vọng đã thay đổi căn bản: đại học phải trở thành trung tâm sáng tạo tri thức, làm chủ công nghệ lõi, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và góp phần giải quyết các bài toán phát triển của đất nước.
Người đứng đầu Đảng và Nhà nước cũng nhấn mạnh "vấn đề quyết định hiện nay là hành động". Điều này phản ánh thực tế Việt Nam hiện không thiếu chủ trương hay quyết sách chiến lược.
Thách thức lớn nhất nằm ở năng lực triển khai, làm sao để các nghị quyết đi vào thực tiễn, tạo ra sản phẩm khoa học công nghệ, mô hình đào tạo mới và giá trị thực sự cho xã hội.
Với các trường đại học, điều đó đòi hỏi sự thay đổi mạnh mẽ từ tư duy quản trị đến mô hình hoạt động. Chương trình đào tạo phải gắn hơn với nhu cầu phát triển quốc gia và doanh nghiệp; nghiên cứu khoa học phải hướng tới ứng dụng và thương mại hóa.
Đồng thời cần hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo kết nối "ba nhà" (nhà trường - doanh nghiệp - Nhà nước). Qua đó phát huy tối đa nguồn lực tri thức phục vụ sự nghiệp phát triển nhanh và bền vững của đất nước.
Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước có ý nghĩa tạo động lực lớn cho hệ thống giáo dục đại học Việt Nam.
Các trường tốp đầu như Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia TP.HCM nếu hành động nhanh có thể trở thành "đầu tàu" trong thu hút nhân tài quốc tế, xây dựng trung tâm nghiên cứu mạnh và mở rộng hợp tác sâu với doanh nghiệp.
Tuy nhiên câu hỏi đặt ra là liệu mục tiêu này có khả thi khi hệ thống giáo dục đại học Việt Nam vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế về quản trị, tư duy và nguồn lực.
Thực tế cho thấy không ít cơ sở đào tạo vẫn vận hành theo mô hình quản trị nặng tính hành chính, chương trình đào tạo chậm cập nhật, giảng viên thiếu động lực cho nghiên cứu ứng dụng, nhiều trường ưu tiên sự an toàn hơn là chấp nhận rủi ro để đổi mới sáng tạo.
Bên cạnh đó, nguồn lực dành cho khoa học - công nghệ còn hạn chế. Ngân sách nghiên cứu thấp, cơ sở vật chất lạc hậu, đội ngũ giảng viên phải kiêm nhiệm nhiều công việc, số lượng công bố quốc tế chất lượng cao chưa nhiều. Hệ thống với hơn 240 trường đại học cũng dẫn đến tình trạng đầu tư dàn trải.
Khoảng cách giữa nhà trường và doanh nghiệp vẫn là điểm nghẽn lớn. Số lượng nghiên cứu được chuyển giao vào thực tiễn còn ít, nhiều sinh viên sau tốt nghiệp thiếu kỹ năng thực hành và trải nghiệm dự án thực tế trong các lĩnh vực như IoT, bảo trì dự đoán hay học tập theo dự án.
Điều quan trọng là đổi mới quản trị đại học, lựa chọn đội ngũ lãnh đạo có năng lực, giảm can thiệp hành chính, trao quyền tự chủ thực chất, cho phép tuyển dụng nhân tài quốc tế, xây dựng cơ chế trả lương theo hiệu quả nghiên cứu và chuyển giao công nghệ.
Cần tập trung nguồn lực, ưu tiên đầu tư chiều sâu cho khoảng 10 - 15 trường đại học mũi nhọn thay vì dàn trải. Đồng thời, tăng cường liên kết doanh nghiệp trong hoạt động R&D để hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thực chất.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ ra đúng "điểm nghẽn cốt lõi" của sự phát triển quốc gia khi khoảng cách giàu nghèo giữa các quốc gia hiện không còn chủ yếu nằm ở tài nguyên thiên nhiên hay lao động giá rẻ, mà nằm ở năng lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Một quốc gia chậm đổi mới sẽ không chỉ tụt hậu về kinh tế, mà còn suy giảm năng lực cạnh tranh, lệ thuộc vào công nghệ bên ngoài và đánh mất quyền chủ động trong quá trình phát triển.
Tôi thấy nhận định này đặc biệt có ý nghĩa vì đại học không chỉ là nơi đào tạo nhân lực mà còn là trung tâm sản sinh tri thức, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ cho xã hội. Nếu chỉ dừng ở truyền thụ kiến thức mà không thúc đẩy nghiên cứu, sáng tạo và tư duy đổi mới, chúng ta sẽ khó tạo ra đội ngũ đủ năng lực dẫn dắt nền kinh tế tri thức.
Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn, công nghệ sinh học và chuyển đổi số đang thay đổi cấu trúc toàn cầu, yêu cầu đặt ra là các trường đại học phải chuyển mạnh từ "dạy những gì mình có" sang "đào tạo những gì đất nước cần và tương lai đòi hỏi".
Điều đó đòi hỏi đầu tư lớn hơn cho nghiên cứu, tăng quyền tự chủ đại học, thu hút nhân tài và thúc đẩy hợp tác quốc tế. Đại học phải là trung tâm nghiên cứu lõi và phát triển công nghệ chuyên sâu của đất nước.
Lịch sử cho thấy không có quốc gia phát triển bền vững nào đứng ngoài khoa học và công nghệ. Vì vậy, phát triển tri thức, đổi mới sáng tạo và giáo dục đại học chính là con đường ngắn nhất để Việt Nam nâng cao vị thế quốc gia và tránh nguy cơ tụt hậu trong kỷ nguyên cạnh tranh toàn cầu.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành thông tư quy định việc xác định số lượng tuyển sinh đối với các trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ và cao đẳng ngành giáo dục mầm non, với nhiều điểm mới đáng chú ý.
Thông tư mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo về xác định chỉ tiêu tuyển sinh đại học, sau đại học và cao đẳng mầm non đưa ra thay đổi đáng chú ý. Trong đó, thay đổi lớn nhất là cách tính hệ số quy đổi giảng viên, yếu tố then chốt trong việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh của mỗi cơ sở đào tạo. Quy định mới, giảng viên có trình độ thạc sĩ chỉ được tính hệ số 0,75, trong khi tiến sĩ giữ hệ số 1,0.
Theo Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Lê Quân, thông tư mới được xây dựng trên quan điểm đổi mới và đã trải qua quá trình đánh giá tác động, chạy dữ liệu kỹ lưỡng trước khi ban hành.
Điểm thay đổi căn bản là cách xác định và quy đổi giảng viên theo hướng đơn giản hóa, giảm bớt các phép tính phức tạp trước đây. Phần lớn các đối tượng giảng viên được tính hệ số 1, riêng thạc sĩ là 0,75.
Ông Quân nhấn mạnh: "Về nguyên tắc, vai trò của giảng viên trình độ thạc sĩ sẽ dần được điều chỉnh theo hướng hạn chế, tương tự vai trò trợ giảng trong hệ thống đào tạo đại học.
Điều này đồng nghĩa với việc những cơ sở giáo dục có quy mô tuyển sinh phụ thuộc nhiều vào đội ngũ thạc sĩ sẽ buộc phải rà soát, tái cơ cấu nhân sự. Nếu không có sự chuẩn bị, chỉ tiêu tuyển sinh có thể bị giảm đáng kể trong tương lai".
Thông tư cũng quy định cụ thể thế nào là giảng viên được tính trong xác định số lượng tuyển sinh. Đây phải là những người trực tiếp giảng dạy, làm việc toàn thời gian tại cơ sở đào tạo, đáp ứng chuẩn trình độ theo quy định và được kê khai trên hệ thống dữ liệu giáo dục đại học.
Giảng viên tham gia tính chỉ tiêu phải đáp ứng chuẩn chương trình đào tạo của ngành hoặc nhóm ngành tương ứng. Đồng thời, họ phải là giảng viên cơ hữu hoặc thuộc các nhóm được pháp luật công nhận.
Đối với cơ sở công lập, giảng viên cơ hữu là những người được tuyển dụng và quản lý theo quy định về vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập.
Trong khi đó, tại các cơ sở tư thục, giảng viên cơ hữu phải ký hợp đồng lao động từ 3 năm trở lên hoặc không xác định thời hạn, không đồng thời làm việc dài hạn tại đơn vị khác và do trường trả lương theo quy định.
Thông tư quy định rõ, giảng viên được tính trong xác định chỉ tiêu tuyển sinh phải đáp ứng chuẩn trình độ theo Luật Nhà giáo, trực tiếp giảng dạy, hướng dẫn người học toàn thời gian tại cơ sở đào tạo và được kê khai trên hệ thống dữ liệu giáo dục đại học.
Giảng viên cơ hữu tại cơ sở công lập là người được tuyển dụng, sử dụng theo quy định về vị trí việc làm; còn tại cơ sở tư thục phải ký hợp đồng từ 3 năm trở lên hoặc không xác định thời hạn, không là công chức hoặc viên chức nhà nước, không làm việc dài hạn nơi khác và do trường trả lương theo quy định.
Quy định cho phép tính giảng viên đồng cơ hữu, nhưng kèm theo các điều kiện cụ thể. Những giảng viên này phải đảm bảo khối lượng giảng dạy tối thiểu bằng 50% định mức của giảng viên cơ hữu và phải giảng dạy trọn vẹn ít nhất một học phần trong năm học.
Ngoài ra, giảng viên đã nghỉ hưu nhưng tiếp tục làm việc toàn thời gian cũng được tính, với điều kiện ký hợp đồng từ 12 tháng trở lên, giảng dạy trọn vẹn tối thiểu 1 học phần trong năm học trong năm xác định số lượng tuyển sinh và không ký hợp đồng lao động có thời hạn từ 3 tháng trở lên với nơi khác.
Đối với đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ, giảng viên phải đáp ứng tiêu chuẩn người hướng dẫn theo quy chế hiện hành, đồng thời ký hợp đồng toàn thời gian tối thiểu 3 năm với cơ sở đào tạo.
Một số nhóm ngành đặc thù như ngôn ngữ, văn hóa, nghệ thuật và thể thao được áp dụng cơ chế linh hoạt hơn trong việc tính giảng viên khi xác định số lượng tuyển sinh đại học.
Theo đó, các danh hiệu như nghệ sĩ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú, nhà giáo ưu tú, huấn luyện viên/vận động viên đã từng giành giải vô địch thế giới, vô địch châu lục, vô địch SEA Games, được phong cấp vận động viên kiện tướng quốc gia, đồng thời có bằng đại học cùng ngành hoặc cùng nhóm ngành với ngành tham gia đào tạo được tính hệ số như giảng viên có trình độ thạc sĩ; có bằng thạc sĩ được tính hệ số như giảng viên có trình độ tiến sĩ.
Đối với lĩnh vực sức khỏe, thông tư quy định: giảng viên có bằng bác sĩ nội trú hoặc chuyên khoa I được tính tương đương trình độ thạc sĩ, chuyên khoa II tương đương tiến sĩ khi xác định chỉ tiêu tuyển sinh trình độ đại học, với điều kiện có ít nhất 3 năm kinh nghiệm giảng dạy. Đồng thời, người hướng dẫn thực hành tại cơ sở thực hành cũng được tính vào đội ngũ giảng viên cơ hữu.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

