Ngày 4.5, Bộ GD-ĐT đã có quyết định ban hành chuẩn chương trình đào tạo về đường sắt trình độ đại học. Nội dung của chuẩn không chỉ có mục tiêu, yêu cầu của chương trình, chuẩn đầu ra, cấu trúc và nội dung chương trình đào tạo, khối lượng học tập… mà còn có quy định chuẩn đầu vào, bao gồm “điểm sàn” các ngành học đường sắt.
Theo đó, thí sinh dự tuyển vào các ngành về đường sắt trình độ đại học không chỉ phải đáp ứng quy định của quy chế tuyển sinh trình độ đại học của Bộ GD-ĐT mà còn phải đáp ứng các yêu cầu về đầu vào với các ngành phục vụ lĩnh vực đường sắt.
Cụ thể, với phương thức xét tuyển bằng điểm thi tốt nghiệp THPT, tổ hợp dùng để xét tuyển bắt buộc phải có môn toán. Đồng thời, thí sinh phải đạt tổng điểm của các môn trong tổ hợp xét tuyển tối thiểu 60% thang điểm xét, tương đương mức trung bình 6 điểm/môn trở lên. Như vậy, với thang điểm 30, điểm sàn của các chương trình đào tạo về đường sắt sẽ là 18.
Với các phương thức tuyển sinh khác, điểm trúng tuyển phải được quy đổi tương đương với mức điểm sàn (60%) của phương thức xét điểm thi THPT.
Sinh viên đang học từ các chương trình đào tạo khác muốn chuyển sang khối ngành đường sắt phải đang theo học một chương trình có khối kiến thức nền tảng phù hợp và cũng phải đáp ứng điều kiện điểm chuẩn đầu vào tối thiểu 60% nêu trên.
Trong chuẩn cũng liệt kê 40 ngành đào tạo về đường sắt, được chia thành 4 phân nhóm chính theo cấu trúc hệ thống công nghiệp đường sắt: xây dựng và quản lý xây dựng công trình đường sắt; hệ thống điện, thông tin tín hiệu, điều khiển trong đường sắt; phương tiện đường sắt; kinh tế và khai thác vận tải đường sắt. Cụ thể:
Trong đó 19 ngành cốt lõi, đóng vai trò then chốt (như kỹ thuật xây dựng, kỹ thuật điện, kỹ thuật điều khiển và tự động hóa, kỹ thuật cơ khí, kinh tế vận tải…), 21 ngành phụ trợ – liên ngành (như công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu, hệ thống thông tin, kỹ thuật robot…).
Trong danh mục 40 ngành đó có nhiều ngành thuộc 15 nhóm ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt, công nghệ chiến lược mà Bộ GD-ĐT đang đề xuất Chính phủ cấp học bổng cho sinh viên khá, giỏi theo học.
Xem đầy đủ quyết định ban hành chuẩn chương trình đào tạo về đường sắt trình độ đại học của Bộ GD-ĐT ở đây.
Ngày 12.4, trên mạng xã hội lan truyền đoạn clip ghi lại cảnh một nữ sinh bị nhiều nam sinh đánh liên tiếp trước cổng Trường THCS Bình Thuận (thuộc xã Vạn Tường, Quảng Ngãi).
Trong clip, nạn nhân gần như không thể chống cự, liên tục bị đấm, đá khiến nhiều người chứng kiến bức xúc. Một người đàn ông tuổi trung niên đứng ra can ngăn nhưng bất lực, các nam sinh vẫn lao vào đánh tới tấp nữ sinh.
Theo xác minh ban đầu, nạn nhân là em D.T.K (tên học sinh đã được thay đổi), lớp 7A, Trường THCS Bình Thuận.
Trao đổi với PV Thanh Niên, bà Lê Thị Tiển (dì ruột của em K., ở xã Vạn Tường) cho biết, khoảng trưa 11.4, sau khi kết thúc buổi thi giữa học kỳ, em K. ra cổng trường thì xảy ra mâu thuẫn với một nữ sinh tên T. (lớp 7C cùng trường).
Sau đó, T. gọi anh trai đang học lớp 9A cùng 2 nam sinh khác đến, rồi nhóm này lao vào đánh em K. tới tấp. "Cháu tôi bị đánh liên tục, không kịp phản ứng, dẫn đến bị thương khá nặng", bà Tiển kể.
Ngay sau vụ việc, gia đình đã đưa em K. đến Bệnh viện Trung ương Quảng Nam (TP.Đà Nẵng) để kiểm tra, điều trị. Theo người nhà, hiện em K. bị đau toàn thân, mắt bầm tím, môi dập, không thể ăn uống bình thường, tinh thần hoảng loạn, nôn ói.
"Gia đình dự kiến sẽ tiếp tục đưa cháu ra Bệnh viện đa khoa Đà Nẵng để thăm khám kỹ hơn. Chúng tôi mong cơ quan chức năng sớm làm rõ, xử lý đúng người, đúng hành vi để răn đe", bà Tiển nói thêm.
Cũng trong ngày 11.4, gia đình em K. đã trình báo vụ việc với chính quyền địa phương và nhà trường.
Gia đình em K. cho biết, hiện cơ quan công an xã Vạn Tường đã làm việc với các học sinh liên quan, lấy lời khai để xác minh nguyên nhân, làm rõ hành vi đánh người gây thương tích.
Theo nghiên cứu về tác động kinh tế - xã hội của làn sóng du học sinh quốc tế tại Hàn Quốc, do Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo Di cư công bố, khoảng 71,1% du học sinh quốc tế làm thêm đang làm việc trong lĩnh vực ăn uống và lưu trú.
Tại một số địa phương như Gwangju, Incheon, Busan và các tỉnh Chungcheongnam, Gyeonggi, tỷ lệ du học sinh làm việc trong ngành nhà hàng - khách sạn vượt 80%. Nghiên cứu cho thấy chỉ 2,4% du học sinh lựa chọn công việc dựa trên mức độ liên quan đến ngành học hoặc định hướng nghề nghiệp tương lai.
Trong khi đó, yếu tố được ưu tiên nhiều nhất là thời gian làm việc phù hợp với lịch học, chiếm 54,4%. Mức lương là yếu tố quan trọng thứ hai với 24,8%.
Theo nghiên cứu, điều này cho thấy công việc làm thêm hiện chưa đóng vai trò như bước đệm giúp du học sinh tích lũy kinh nghiệm cho nghề nghiệp tương lai.
Kết quả khảo sát cũng cho thấy 41,9% du học sinh làm thêm mà không khai báo chính thức với cơ quan chức năng, mà chủ yếu thông qua các "thỏa thuận miệng" với chủ sử dụng lao động.
Nghiên cứu nhận định tình trạng lao động phi chính thức, hay “lao động chui”, đang diễn ra phổ biến. Một trong những nguyên nhân chính được cho là xuất phát từ quy định tài chính hiện hành.
Theo quy định tại Hàn Quốc, du học sinh sẽ mất ưu đãi giảm 50% phí bảo hiểm y tế quốc gia nếu thu nhập hàng năm vượt 3,6 triệu won (hơn 63 triệu đồng). Để tránh vượt ngưỡng này, nhiều sinh viên và chủ sử dụng lao động lựa chọn hình thức trả lương ngoài sổ sách, trả lương bằng tiền mặt.
Nghiên cứu cho biết điều này khiến nhiều du học sinh ngần ngại báo cáo các vi phạm lao động như bị nợ lương hoặc bị đối xử bất công.
Báo cáo cũng nhận định du học sinh quốc tế đang được xem là nguồn lao động có chi phí thấp, ít phản kháng ngay cả khi chỉ nhận mức lương tối thiểu. Công việc làm thêm của họ không còn mang tính tạm thời mà đã trở thành một phần cấu trúc của ngành dịch vụ trong nước.
Các du học sinh được khảo sát cho biết rào cản ngôn ngữ, sự phân biệt đối xử và tính chất nặng nhọc của công việc tay chân là những khó khăn lớn khi làm thêm. Họ tìm việc chủ yếu dựa vào các mối quan hệ cá nhân, nền tảng trực tuyến và cộng đồng du học sinh quốc tế.
Để giải quyết tình trạng này, nhóm nghiên cứu đề xuất xây dựng hệ thống quản lý chính thức đối với việc làm thêm của du học sinh nhằm đưa hoạt động này vào khuôn khổ pháp lý.
Nghiên cứu cũng đề xuất cải cách quy định, bao gồm áp dụng chế độ khai báo hằng năm đối với các sinh viên đủ điều kiện như đạt TOPIK cấp 4 trở lên hoặc có thành tích học tập tốt, đồng thời điều chỉnh ngưỡng bảo hiểm y tế và gỡ bỏ quy định hạn chế khoảng cách nơi làm việc.
Theo đó, chuẩn chương trình đào tạo các ngành điện hạt nhân áp dụng với các cơ sở đào tạo tham gia đào tạo nhân lực phục vụ phát triển điện hạt nhân đến năm 2035 theo Quyết định 1012 năm 2025 của Chính phủ, và các cơ sở đào tạo khác có định hướng xây dựng, vận hành các chương trình đào tạo các ngành về điện hạt nhân.
Để xét tuyển vào các ngành về điện hạt nhân ở trình độ ĐH, thí sinh cần tốt nghiệp THPT, trung học nghề hoặc trình độ tương đương theo quy định hiện hành.
Thí sinh tốt nghiệp trung cấp thuộc nhóm ngành phù hợp và đã hoàn thành đủ khối lượng kiến thức văn hóa THPT theo quy định cũng có thể tham gia xét tuyển.
Các phương thức xét tuyển do trường ĐH quy định, có thể bao gồm dựa trên kết quả học tập 3 năm THPT; dựa trên kết quả kỳ thi tốt nghiệp THPT; dựa trên kết quả kỳ thi đánh giá năng lực hoặc đánh giá tư duy do cơ sở đào tạo tổ chức hoặc công nhận; kết hợp các phương thức nêu trên hoặc áp dụng phương thức khác theo quyết định của cơ sở đào tạo.
Thí sinh phải đáp ứng các yêu cầu năng lực tối thiểu áp dụng cho tất cả các phương thức tuyển sinh. Cụ thể, tổ hợp môn hoặc thành phần đánh giá bắt buộc phải có kiến thức toán và vật lý, đạt mức năng lực môn toán và vật lý theo ngưỡng đảm bảo chất lượng đầu vào nâng cao do cơ sở đào tạo quy định hằng năm.
Đối với các phương thức có thành phần điểm theo từng môn, điểm môn toán và vật lý phải đạt ngưỡng phân vị cao do cơ sở đào tạo công bố, thể hiện năng lực nền tảng phù hợp với yêu cầu của chương trình đào tạo ngành điện hạt nhân. Trọng số dành cho môn toán tuân theo quy chế tuyển sinh của Bộ GD-ĐT tương ứng với năm tuyển sinh.
Đối với phương thức đánh giá năng lực, đánh giá tư duy, phương thức tổng hợp, thí sinh phải đạt mức điểm ngưỡng nâng cao do cơ sở đào tạo công bố, trong đó phần điểm hoặc cấu phần đánh giá tư duy định lượng phải đạt mức phân vị cao tương đương yêu cầu năng lực môn toán và vật lý.
Khi trúng tuyển, khối lượng học tập tối thiểu đối với chương trình đào tạo cử nhân (bậc 6) tối thiểu 120 tín chỉ, ở chương trình đào tạo kỹ sư (bậc 7) tối thiểu 150 tín chỉ.
Tốt nghiệp ở trình độ ĐH, sinh viên được cấp bằng cử nhân (bậc 6). Với chương trình đào tạo kỹ sư chuyên sâu đặc thù, người học được cấp bằng kỹ sư (bậc 7).
Để đáp ứng các yêu cầu của Khung trình độ quốc gia Việt Nam và đảm bảo khả năng hội nhập trong lĩnh vực năng lượng hạt nhân, sinh viên tốt nghiệp phải đạt năng lực ngoại ngữ tương đương bậc 3/6 đối với trình độ cử nhân và bậc 4/6 đối với trình độ kỹ sư chuyên sâu đặc thù (bậc 7) theo Khung năng lực ngoại ngữ Việt Nam hoặc các chứng chỉ quốc tế tương đương.
Dưới đây là danh mục thống kê các ngành phù hợp dùng cho đào tạo trình độ ĐH các ngành về điện hạt nhân: