Giá bạc hôm nay 5/5/2026 “rơi tự do”, mất hơn 20% giá trị vì căng thẳng Trung Đông. Giá bạc trong nước lao dốc cả triệu đồng/kg.
Ở phân khúc bạc miếng:
Mở cửa giao dịch ngày 5/5, giá bạc miếng Kim – Phúc – Lộc SBJ về mức 2,754-2,844 triệu đồng/lượng (mua-bán), giảm 57.000 đồng/lượng ở cả hai chiều giao dịch so với kết phiên ngày hôm qua.
Tương tự, giá bạc miếng 1 lượng của Phú Quý về mức 2,755-2,84 triệu đồng/lượng (mua-bán), giảm 29.000-30.000 đồng/lượng (mua-bán).
Giá bạc Ancarat miếng 2024 loại 1 lượng cũng điều chỉnh giảm về mức 2,760 triệu đồng/lượng (mua vào) và 2,828 triệu đồng/lượng (bán ra) sau khi bớt 93.000 – 95.000 đồng mỗi lượng.
Thương hiệu DOJI ghi nhận mức giảm sâu nhất ở phân khúc này khi niêm yết bạc miếng DOJI 99.9 tại 2,750 triệu đồng/lượng (mua vào) và 2,855 triệu đồng/lượng (bán ra), sụt giảm lần lượt 95.000 và 98.000 đồng so với phiên trước đó.
Ở phân khúc bạc thỏi:
Đáng chú ý nhất trong phiên hôm nay là sự sụt giảm “thẳng đứng” ở phân khúc bạc thỏi với mức giảm phổ biến trên 2,5 triệu đồng/kg tại các thương hiệu lớn. Giá bạc Phú Quý 999 loại thỏi ghi nhận mức giảm mạnh tới 2,427 triệu đồng/kg ở chiều mua và 2,613 triệu đồng/kg ở chiều bán, đưa giá giao dịch lùi sâu về mức 73,599 – 75,866 triệu đồng/kg.
Tương tự, thương hiệu DOJI chứng kiến bạc thỏi 99.9 “bốc hơi” 2,533 triệu đồng/kg ở chiều mua vào và 2,613 triệu đồng/kg ở chiều bán ra, hiện niêm yết tại 73,333 – 76,133 triệu đồng/kg.
Giá bạc Ancarat thỏi 2025 cũng sụt giảm rất mạnh từ 2,462 – 2,532 triệu đồng/kg, hiện niêm yết tại 72,704 triệu đồng/kg (mua vào) và 74,914 triệu đồng/kg (bán ra).
Riêng bạc thỏi Kim-Phúc-Lộc SBJ 999 của Sacombank ghi nhận mức giảm đồng loạt 1,760 triệu đồng/kg ở cả hai chiều, hiện đứng ở mức 73,840 – 76,240 triệu đồng/kg. Với diễn biến này, mặt bằng giá bạc thỏi đã chính thức rời xa mốc 78 triệu đồng và lùi sâu về sát ngưỡng 75 – 76 triệu đồng/kg.
Giá bạc thế giới giao dịch quanh mốc 72,8 USD/ounce
Trên thị trường quốc tế, giá bạc hiện giao dịch quanh 72,8 USD/ounce, giảm mạnh so với mức 75,6 USD/ounce của phiên liền trước.
Dữ liệu từ Investing lúc 9h13 (giờ Việt Nam) cho thấy, hợp đồng tương lai giá bạc đang giao dịch quanh mức 73,333 USD/ounce, giảm 0,190 USD, tương đương 0,26%. Diễn biến trong ngày cho thấy giá bạc sau nhịp tăng mạnh trước đó đã hạ nhiệt, dao động quanh vùng 73 USD/ounce, phản ánh tâm lý thận trọng của nhà đầu tư sau giai đoạn biến động mạnh.
Diễn biến giảm của bạc được cho là chịu tác động từ nhiều yếu tố vĩ mô. Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ tăng cùng với việc đồng USD duy trì sức mạnh đã khiến kim loại quý trở nên kém hấp dẫn hơn trong mắt nhà đầu tư. Bên cạnh đó, giá dầu leo thang trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị tiếp tục gia tăng cũng tạo thêm áp lực lên thị trường hàng hóa.
Xét về kỹ thuật, giá bạc đang duy trì xu hướng giảm ngắn hạn sau khi hoàn tất mô hình “nêm” tăng trước đó. Nhịp hồi phục gần đây gặp cản mạnh tại đường trung bình động 20 ngày, khiến lực bán quay trở lại và thiết lập vùng đỉnh thấp hơn quanh ngưỡng 76,98 USD/ounce.
Dự báo giá bạc
Trả lời trên Kitco mới đây, ông Nitesh Shah, người đứng đầu bộ phận nghiên cứu hàng hóa và kinh tế vĩ mô tại đơn vị quản lý tài sản toàn cầu WisdomTree, cho biết vàng vẫn có triển vọng tăng trong trung – dài hạn, bất chấp đang gặp khó trong việc trở thành tài sản trú ẩn vốn an toàn.
Khi vàng có triển vọng tích cực, bạc cũng sẽ biến động cùng chiều. Ông Nitesh Shah dự báo giá bạc sẽ đạt khoảng 92,5 USD/ounce vào quý 1/2027, với tiềm năng tăng giá hơn nữa tùy thuộc vào xu hướng điện khí hóa và nhu cầu năng lượng mặt trời.
Nếu giá vàng tăng mạnh hơn nữa, nó sẽ kéo theo giá bạc tăng theo. Xu hướng đa dạng hóa nguồn năng lượng toàn cầu có thể hỗ trợ nhu cầu dài hạn, thúc đẩy giá bạc đi lên.
Trước đó, Bank of America dự báo giá bạc trung bình có thể đạt khoảng 85,9 USD/ounce trong năm nay, tăng gần 15% so với mức dự báo trước đó là 75 USD/ounce. Trong đó, nhu cầu từ ngành năng lượng mặt trời vẫn là trụ cột quan trọng hỗ trợ thị trường bạc.
Đây được coi là đánh dấu bước chuyển lớn trong lộ trình phát triển nhiên liệu sinh học và chuyển dịch năng lượng xanh tại Việt Nam.
Toàn bộ công tác chuẩn bị cho việc triển khai kinh doanh xăng E10 trên toàn quốc của PVOIL đã được hoàn tất, từ hạ tầng pha chế, tồn trữ, vận chuyển đến hệ thống phân phối và phương án đảm bảo nguồn cung nguyên liệu phục vụ pha chế trên quy mô lớn.
Trước ngày triển khai đồng loạt, các cửa hàng xăng dầu của PVOIL đã hoàn tất việc rà soát lần cuối và chuẩn bị đầy đủ các điều kiện kỹ thuật, từ bồn chứa, trụ bơm, đường ống đến thiết bị đo lường. Công tác cập nhật thông tin sản phẩm trên các trụ bơm cũng được triển khai đồng bộ. Đồng thời, việc vệ sinh bồn chứa, kiểm tra độ kín và đánh giá khả năng tương thích của thiết bị với xăng E10 đã được thực hiện, nhằm bảo đảm chất lượng sản phẩm và an toàn trong quá trình kinh doanh. Đối với lượng xăng khoáng RON 95 còn tồn tại các cửa hàng, các đơn vị sẽ tiếp tục bán hết trước khi chuyển sang kinh doanh hoàn toàn xăng E10.
Để bảo đảm chất lượng sản phẩm và an toàn vận hành, PVOIL kiểm soát chặt chẽ công tác quản lý chất lượng ở tất cả các khâu, từ sản xuất, vận chuyển, tồn trữ đến phân phối tại các cửa hàng xăng dầu. Tổng công ty cũng đã ban hành sổ tay hướng dẫn kỹ thuật để các đơn vị triển khai thống nhất, đồng bộ và đúng quy trình trên toàn hệ thống.
PVOIL đã triển khai bán thử nghiệm xăng E10 từ ngày 1/8/2025 tại Hà Nội và Hải Phòng, sau đó mở rộng dần ra nhiều tỉnh, thành phố. Đến ngày 13/5/2026, đã có 715 cửa hàng xăng dầu của PVOIL kinh doanh xăng E10. Kết quả vận hành thực tế cho thấy xăng E10 do PVOIL pha chế và cung ứng đáp ứng đầy đủ các yêu cầu kỹ thuật, vận hành ổn định trên phương tiện và từng bước được người tiêu dùng đón nhận.
Song song với công tác chuẩn bị tại cửa hàng, PVOIL đã chủ động chuẩn bị nguồn hàng từ các kho đầu nguồn. Để đáp ứng nhu cầu kinh doanh đại trà, PVOIL thực hiện chuyển đổi hạ tầng pha chế xăng E5 sang E10, đồng thời nâng cấp hệ thống bồn bể, đường ống công nghệ và sức chứa etanol. Hiện nay, tổng công suất pha chế E10 của PVOIL đạt gần 4 triệu m³/năm, sẵn sàng cung ứng cho toàn hệ thống và các đơn vị khác nếu có nhu cầu.
Quý I/2026, Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam (HoSE: MSB) ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 1.890 tỷ đồng, tăng khoảng 16% so với cùng kỳ, lợi nhuận sau thuế đạt 1.514 tỷ đồng.
Động lực tăng trưởng tiếp tục đến từ thu nhập lãi thuần, đạt 3.197 tỷ đồng, tăng hơn 27% so với cùng kỳ, nhờ quy mô tín dụng mở rộng và biên lãi cải thiện. Trong khi đó, thu nhập lãi và các khoản tương tự đạt 6.775 tỷ đồng, tăng so với mức 4.913 tỷ đồng cùng kỳ.
Ngược lại, mảng dịch vụ ghi nhận sự suy giảm, với lãi thuần đạt 247,9 tỷ đồng, giảm gần một nửa so với mức 416,9 tỷ đồng cùng kỳ. Hoạt động kinh doanh ngoại hối cũng đi lùi khi lãi thuần chỉ còn 118,7 tỷ đồng, giảm gần 15% so với quý I/2025. Đáng chú ý, ngân hàng ghi nhận lỗ 83,8 tỷ đồng từ mua bán chứng khoán đầu tư, trong khi cùng kỳ vẫn có lãi.
Ở chiều tích cực, hoạt động khác mang về 169 tỷ đồng lãi thuần, tăng so với mức 93,4 tỷ đồng cùng kỳ, phần nào bù đắp cho sự suy giảm của các mảng ngoài lãi. Tính đến cuối quý I/2026, MSB tạo ra 2.390 tỷ đồng lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trước dự phòng.
Chi phí tiếp tục là yếu tố gây áp lực. Chi phí hoạt động tăng lên 1.259 tỷ đồng, trong khi chi phí dự phòng rủi ro tín dụng ở mức gần 500 tỷ đồng, tăng hơn 27% so với cùng kỳ. Điều này khiến mức tăng lợi nhuận không tương xứng với tốc độ tăng của thu nhập lõi.
Năm 2026, ngân hàng đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế 8.000 tỷ đồng. Với kết quả đạt được trong quý đầu năm, MSB đã hoàn thành khoảng 24% kế hoạch, tạo dư địa cho các quý tiếp theo, dù áp lực từ các mảng ngoài lãi và chi phí vẫn hiện hữu.
Tính đến ngày hết 31/3/2026, tổng tài sản của MSB đạt khoảng 413.000 tỷ đồng, tăng nhẹ so với đầu năm. Trong đó, dư nợ cho vay khách hàng đạt khoảng 215.000 tỷ đồng, tăng quanh mức 4-5%, cho thấy tín dụng tiếp tục mở rộng trong quý đầu năm.
Ở chiều nguồn vốn, tiền gửi khách hàng đạt khoảng 193.900 tỷ đồng, biến động nhẹ so với đầu năm.
Về chất lượng tài sản, tổng nợ xấu của ngân hàng vào cuối quý I/2026 ở mức khoảng 5.700 tỷ đồng, tăng nhẹ so với đầu năm.
Theo EVN, tổng số công tơ điện phục vụ mua bán, giao nhận điện có áp dụng biểu giá điên theo thời gian sử dụng khoảng 1,25 triệu công tơ. Đây là khối lượng rất lớn, liên quan trực tiếp đến công tác đo đếm, tính toán hóa đơn và thanh toán điện năng trên toàn hệ thống.
Hơn nữa, chỉ một phần công tơ có khả năng hỗ trợ cấu hình linh hoạt nhiều biểu giá theo thời gian hoặc theo mùa, còn phần lớn công tơ hiện nay được cài đặt theo khung giờ cố định. Do đó, khi thay đổi khung giờ cao điểm, thấp điểm và giờ bình thường sẽ phải thực hiện cấu hình lại công tơ, thông qua hai hình thức: cài đặt từ xa qua hệ thống và cài đặt trực tiếp tại hiện trường.
Theo tính toán sơ bộ, thời gian triển khai cài đặt lại công tơ theo khung giờ mới tại một số đơn vị có quy mô lớn có thể kéo dài đến khoảng 90 ngày.
Trường hợp khung giờ cao điểm, thấp điểm được điều chỉnh theo mùa (2 lần/năm), khối lượng công việc phát sinh sẽ rất lớn. Bởi sẽ phải cập nhật cấu hình cho số lượng lớn công tơ khách hàng; đồng bộ dữ liệu giữa công tơ với hệ thống thu thập dữ liệu đo đếm từ xa, hệ thống quản lý khách hàng và tính hóa đơn (CMIS) và các hệ thống liên quan.
EVN cho rằng, khối lượng công việc phát sinh sẽ rất lớn gồm cập nhật cấu hình, đồng bộ dữ liệu, tính hóa đơn... tiềm ẩn rủi ro sai sót và phát sinh khiếu nại. Do vậy, EVN đề nghị chưa áp dụng điều chỉnh khung giờ theo mùa, hạn chế tối đa việc thay đổi nhiều lần trong năm để giảm chi phí, khối lượng công việc và rủi ro trong triển khai.
Theo đó, các khung giờ được EVN đề xuất cụ thể, giờ bình thường, từ thứ hai đến thứ bảy sẽ từ 6 - 17 giờ 30 và từ 22 giờ 30 - 24 giờ; ngày chủ nhật từ 6 - 24 giờ.
Giờ cao điểm tính từ thứ hai đến thứ bảy, khung giờ từ 17 giờ 30 - 22 giờ 30 (5 giờ); ngày chủ nhật không có giờ cao điểm.
Giờ thấp điểm tất cả các ngày trong tuần, thời gian từ 0 - 6 giờ.
Quy định về khung giờ đề áp giá điện được áp dụng cho khách hàng sử dụng điện cho mục đích sản xuất, kinh doanh, hoặc có sản lượng điện sử dụng trung bình 3 tháng liên tục từ 2.000 kWh trở lên; áp dụng cho các đơn vị bán lẻ điện tại khu công nghiệp, cụm công nghiệp; các đơn vị mua điện để bán lẻ điện ngoài mục đích sinh hoạt tại các tổ hợp thương mại, dịch vụ.
EVN cũng đánh giá việc điều chỉnh khung giờ cao điểm mang lại tác động tích cực khi tạo tín hiệu giá điện rõ ràng, khuyến khích khách hàng dịch chuyển nhu cầu sử dụng sang giờ thấp điểm và giờ bình thường. Từ đó giảm chi phí chung hệ thống điện, giúp an toàn hệ thống, giảm giá thành sản xuất điện và đặc biệt giảm nguy cơ thiếu điện vào các giờ cao điểm chiều.
Trước đó, tại dự thảo quyết định về việc quy định khung giờ cao điểm, thấp điểm và giờ bình thường của hệ thống điện quốc gia, Bộ Công thương đề xuất khung giờ cao điểm thay đổi theo từng mùa trong năm. Cụ thể, từ tháng 1 - 4 và từ tháng 9 - 12, khung giờ cao điểm từ 14 - 19 giờ trong các ngày từ thứ hai đến thứ bảy (5 giờ).
Tháng 5 - 8, giờ cao điểm gồm hai khung 14 giờ 30 - 16 giờ 30 và 19 giờ 30 - 22 giờ 30 trong các ngày từ thứ hai đến thứ bảy (5 giờ); ngày chủ nhật không có giờ cao điểm.
Khung giờ bình thường áp dụng cho các khung giờ còn lại trong ngày. Giờ thấp điểm tất cả các ngày trong tuần, thời gian từ 0 - 6 giờ.