Ngày 4/5, PGS.TS.BS Phạm Văn Quang, Trưởng khoa Hồi sức tích cực Chống độc, Bệnh viện Nhi đồng 1, cho biết, ba bé trai gồm 7 tuổi (ngụ Lâm Đồng), 9 tuổi (ngụ Tây Ninh) và 5 tuổi (ngụ Hóc Môn, TP HCM), lần lượt nhập viện trong dịp nghỉ lễ.
Các bé đều không biết bơi, gặp nạn khi tắm hồ bơi khi đi du lịch và được phát hiện muộn, lúc đã ngưng tim, ngưng thở. Nhờ được sơ cứu đúng cách tại chỗ, tim đập trở lại, sau đó được chuyển qua bệnh viện địa phương rồi lên tuyến cuối.
Khi vào Nhi đồng 1, cả ba đều thiếu oxy não nặng, suy hô hấp, viêm phổi hít và hôn mê sâu. Bác sĩ phải cho thở máy, dùng thuốc vận mạch, chống phù não, kiểm soát co giật. Hai ca nặng hơn được áp dụng hạ thân nhiệt chỉ huy để bảo vệ não.
Theo phó giáo sư Quang, nhờ được cấp cứu đúng tại hiện trường và chuyển viện trong “thời gian vàng” dưới 6 giờ, tiên lượng sống của các bé khả quan. Tuy nhiên, y bác sĩ vẫn đang nỗ lực hết sức để hạn chế tối đa các di chứng nặng về thần kinh và vận động cho trẻ sau khi hồi phục.
Bác sĩ cảnh báo, số ca trẻ em ngạt nước, đuối nước thường tăng cao vào dịp lễ và mùa hè do thời tiết nắng nóng, nhu cầu du lịch, tắm biển, hồ bơi của các gia đình tăng. Để phòng tránh tai nạn, phụ huynh cần cho trẻ học bơi và trang bị kỹ năng an toàn dưới nước càng sớm càng tốt.
Bố mẹ không rời mắt khỏi trẻ, không nên sử dụng điện thoại làm lơ là việc quan sát trẻ bơi. Nếu chẳng may xảy ra tai nạn, việc sơ cứu ngưng tim ngưng thở ngay tại hiện trường là yếu tố sống còn, quyết định khả năng phục hồi của trẻ trước khi đưa đến bệnh viện.
Nếu trẻ tím tái, ngưng thở, cần lập tức sơ cứu tại chỗ bằng cách ấn ngực ở vị trí nửa dưới xương ức và hà hơi thổi ngạt. Tuyệt đối không thực hiện các biện pháp sai lầm như xốc nước, vác trẻ chạy, lăn lu hay ấn bụng, bởi không có tác dụng mà còn làm mất đi “thời gian vàng” cứu sống não bộ của trẻ.
GS. Gerald Tulzer, Trưởng khoa Tim mạch nhi Bệnh viện Kepler (Áo), tại hội thảo tối ưu hóa tim mạch bào thai do Bệnh viện Từ Dũ tổ chức ngày 12/5, bày tỏ ấn tượng trước thành tựu can thiệp tim bào thai. Lần đầu đến Việt Nam, chuyên gia có hơn 20 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực này đánh giá cao quy mô tiếp nhận bệnh nhân cùng năng lực triển khai các kỹ thuật khó hàng đầu thế giới của êkíp hai bệnh viện chỉ sau thời gian ngắn.
Theo BS.CK2 Trần Ngọc Hải, Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ, bệnh viện mất 10 năm chuẩn bị và sau hai năm triển khai chính thức đã đạt kết quả vượt mong đợi. Đến nay, bệnh viện can thiệp thành công 13 trên 14 ca dị tật tim bẩm sinh phức tạp như hẹp van động mạch chủ, hẹp van động mạch phổi, thiểu sản thất phải và thất trái. Giáo sư Tulzer nhận định tỷ lệ thành công của Việt Nam không thua kém, thậm chí vượt một số trung tâm ở châu Âu.
Thành tựu này còn mang lại hy vọng cho bệnh nhân quốc tế. Mới đây, một sản phụ 37 tuổi quốc tịch New Zealand đã vượt hàng nghìn km đến Bệnh viện Từ Dũ để tìm cơ hội sống cho con đầu lòng mắc hẹp van động mạch phổi nặng từ tuần thai 19, nguy cơ tiến triển thành tim một thất.
Sau quá trình theo dõi sát từ tuần 21, bác sĩ nhận thấy tim thai chưa diễn tiến nặng thêm nên quyết định chưa can thiệp. Em bé được giữ ổn định đến tuần 38 và chào đời an toàn ngày 7/5, sau đó chuyển sang Bệnh viện Nhi đồng 1 điều trị tiếp. Theo bác sĩ Hải, ca bệnh cho thấy năng lực của y khoa Việt Nam không chỉ ở kỹ thuật khó mà còn ở khả năng đánh giá toàn diện, lựa chọn thời điểm can thiệp phù hợp và ít tốn kém nhất.
Tuy nhiên, không phải trường hợp nào cũng có thể cứu chữa. Bệnh viện từng tiếp nhận một thai nhi 26 tuần tuổi chuyển lên khi bệnh đã diễn tiến thành tim một thất. Do gần như không còn cơ hội cứu sống, bác sĩ buộc phải chỉ định chấm dứt thai kỳ, thể hiện sự thận trọng và minh bạch trong điều trị.
Theo bác sĩ Hải, một ca can thiệp tim bào thai tại các trung tâm quốc tế có thể tốn 140.000 USD, trong khi tại Bệnh viện Từ Dũ, người bệnh chi trả chưa tới 20 triệu đồng. Với phương châm không để thai phụ nào bị bỏ lại phía sau, mọi bệnh nhân đều có cơ hội tiếp cận kỹ thuật tiên tiến.
GS. Gerald Tulzer đề xuất triển khai chương trình đào tạo chuyên sâu và trao đổi bác sĩ giữa Bệnh viện Từ Dũ và Trung tâm Tim mạch Trẻ em Linz (Áo), giúp các bác sĩ Việt Nam rút ngắn "đường cong học tập" từ 20 năm xuống còn khoảng vài năm.
Can thiệp tim bào thai là một thành tựu y khoa của Việt Nam, triển khai từ đầu năm 2024 và đến nay đã giúp nhiều em bé mắc tim bẩm sinh chào đời an toàn. Đây là kỹ thuật chuyên sâu, đòi hỏi trình độ cao và sự phối hợp đa chuyên khoa, hiện chỉ vài nơi trên thế giới thực hiện được. Năm ngoái, người phụ nữ Singapore mang thai lần đầu sau hơn 10 năm hiếm muộn nhờ thụ tinh ống nghiệm, được giới thiệu sang Việt Nam để thông tim cho con, sau đó về nước sinh con khỏe mạnh.
Thói quen ăn uống buổi tối ngày càng phổ biến, khi nhiều người kết thúc công việc muộn và có xu hướng ăn thêm trước giờ ngủ. Tuy nhiên, không phải thực phẩm nào cũng phù hợp vào thời điểm này. Những lựa chọn tưởng chừng lành mạnh vẫn có thể gây ảnh hưởng nếu dùng không đúng lúc.
Cơ thể vào ban đêm có nhiều thay đổi về chuyển hóa, tiêu hóa và nhu cầu nghỉ ngơi, vì vậy việc ăn uống trong khoảng thời gian này cần được cân nhắc, theo trang NDTV Food (Ấn Độ).
Dưa hấu là loại trái cây giàu nước, có vị ngọt tự nhiên và cung cấp nhiều dưỡng chất. Thành phần của dưa hấu chứa khoảng 94% nước, cùng lycopene, kali và chất xơ, giúp hỗ trợ tiêu hóa và bù nước cho cơ thể.
Bà Shilpa Arora, chuyên gia dinh dưỡng tại Ấn Độ, cho biết dưa hấu mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe tổng thể. Tuy nhiên, bà không khuyến khích ăn dưa hấu sau 19 giờ. Theo bà, dưa hấu có tính axit nhẹ, trong khi hệ tiêu hóa hoạt động chậm hơn vào ban đêm nên dễ gây cảm giác khó chịu.
Bà Shilpa Arora khuyến nghị nên ăn dưa hấu vào khoảng 12 - 13 giờ, khi hệ tiêu hóa hoạt động hiệu quả, giúp cơ thể hấp thu dưỡng chất tốt hơn.
Ông Dhanvantri Tyagi lưu ý cần thận trọng khi ăn dưa hấu vào buổi tối. Loại quả này chứa nhiều nước và đường tự nhiên, nếu ăn sát giờ ngủ có thể khiến dạ dày phải làm việc trong khi cơ thể đang chuẩn bị nghỉ ngơi.
Điều này dễ gây cảm giác đầy bụng, nặng bụng hoặc khó chịu vào sáng hôm sau. Ngoài ra, lượng nước lớn trong dưa hấu còn làm tăng nhu cầu đi tiểu ban đêm, khiến giấc ngủ bị gián đoạn.
Người có hệ tiêu hóa yếu hoặc mắc hội chứng ruột kích thích nên cân nhắc khi ăn dưa hấu vào buổi tối. Những người dễ bị đầy hơi, trào ngược axit cũng nên hạn chế.
Người mắc tiểu đường cần kiểm soát khẩu phần khi ăn loại trái cây này. Ngoài ra, sau bữa tối nhiều đạm và chất béo, không nên ăn thêm dưa hấu ngay lập tức.
Dưa hấu vẫn là thực phẩm bổ dưỡng nếu ăn tươi và bảo quản đúng cách. Tuy nhiên, thời điểm ăn đóng vai trò quan trọng. Ăn dưa hấu vào ban ngày hoặc giữa các bữa chính sẽ giúp cơ thể hấp thu tốt hơn và hạn chế cảm giác khó chịu.
Chia sẻ về vấn đề này, bác sĩ Nguyễn Xuân Tuấn, chuyên khoa ung bướu, chia sẻ đây là tình huống rất thường xuyên gặp ở các chị em ngoài 35 - 40 tuổi. Nhiều người sau khi có kết quả siêu âm "đa u hai bên" thường hoang mang, lo lắng.
"Tuy nhiên, chị em có thể yên tâm một phần là đa u tuyến vú hai bên đa số là lành tính. Nhưng hiểu cho đúng thì sẽ đỡ hoang mang hơn rất nhiều", bác sĩ Tuấn cho hay.
Bác sĩ Tuấn cho hay trước hết, đây không phải là "một khối u lan ra nhiều chỗ", mà thường là nhiều u nhỏ, xuất hiện rải rác ở cả hai bên vú. Hay gặp nhất là u xơ tuyến vú hoặc các thay đổi dạng nang.
Nguyên nhân chính thường liên quan đến nội tiết. Ở phụ nữ trung niên, nội tiết bắt đầu dao động, tuyến vú phản ứng lại nên tạo ra nhiều tổn thương nhỏ như vậy. Vì thế mới có chuyện nhiều chị em đi khám lần đầu thấy 1 - 2 u, vài năm sau kiểm tra lại thấy "nhiều hơn".
"Điểm quan trọng đầu tiên chị em cần hiểu là nhiều u không đồng nghĩa với nguy hiểm hơn.
Điều bác sĩ quan tâm không phải là số lượng, mà là tính chất của từng u. Trong rất nhiều trường hợp, có thể có 5 - 7 u, nhưng tất cả đều có hình ảnh lành tính, ổn định theo thời gian, thì vẫn chỉ cần theo dõi", bác sĩ Tuấn nêu rõ.
Một sai lầm mà các chị em thường gặp là nghĩ rằng "nhiều u quá nên phải mổ hết cho sạch". Thực tế việc mổ trong những trường hợp này thường không giải quyết được vấn đề, vì sau khi mổ, dưới tác động nội tiết, vẫn có thể xuất hiện các u mới.
Vì vậy, với đa u tuyến vú hai bên, hướng xử lý thường là theo dõi định kỳ, không phải mổ hàng loạt.
Tuy nhiên, không phải vì vậy mà chủ quan. Trong một "rừng u" như vậy, điều quan trọng là phải nhận diện được u nào có đặc điểm khác thường.
Các bác sĩ sẽ tập trung vào u nào có hình ảnh không điển hình, u nào to nhanh hơn các u khác, u nào có đặc điểm nghi ngờ hơn. Những u "lạc nhịp" này mới là thứ cần chú ý kỹ hơn, có thể cần sinh thiết. Còn lại, các u điển hình lành tính, nhỏ, ổn định thì chỉ cần theo dõi.