Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia cho biết hôm nay 1-5, thời tiết Nam Bộ vẫn nắng nóng gay gắt. Miền Đông Nam Bộ nắng nóng với nhiệt độ cao nhất 35-36 độ C, có nơi trên 36 độ C.
Độ ẩm thấp nhất từ 50-55%.
Miền Tây Nam Bộ nắng nóng vài nơi với nhiệt độ cao nhất có nơi trên 35 độ C.
Từ ngày mai, nắng nóng diện rộng kết thúc ở Nam Bộ.
Theo chu kỳ triều cường, xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long tăng dần từ hôm nay và giảm dần vào những ngày tới. Độ mặn cao nhất tại các trạm ở mức thấp hơn độ mặn cao nhất tháng 5-2025.
Riêng một số trạm ở Tây Ninh, An Giang, Vĩnh Long và Cà Mau có độ mặn lớn hơn.
Chiều sâu ranh mặn 4 phần ngàn sâu vào nội đồng từ 25-40km, riêng trên sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây, phạm vi xâm nhập mặn là 50-55km.
Khu vực Bắc Bộ chiều tối và đêm mưa rào và dông vài nơi, Lai Châu, Điện Biên trưa chiều nắng.
TP Hà Nội có mây, ngày nắng. Nhiệt độ thấp nhất 22-24 độ C, cao nhất 28-30 độ C.
Tây Bắc Bộ có mây, ngày nắng. Nhiệt độ thấp nhất 20-23 độ C, cao nhất 28-31 độ C.
Đông Bắc Bộ có mây, ngày nắng. Nhiệt độ thấp nhất 20-24 độ C, cao nhất 28-31 độ C.
Thanh Hóa đến Huế có mây, ngày nắng. Nhiệt độ thấp nhất 22-25 độ C, cao nhất 27-30 độ C.
Duyên hải Nam Trung Bộ có mây, ngày nắng. Nhiệt độ thấp nhất 23-26 độ C, cao nhất 31-34 độ C.
Cao nguyên Trung Bộ có mây, ngày nắng. Nhiệt độ thấp nhất 20-23 độ C, cao nhất 30-33 độ C.
Nam Bộ có mây, ngày nắng, riêng miền Đông nắng nóng. Nhiệt độ thấp nhất 25-28 độ C, cao nhất 33-36 độ C.
TP.HCM có mây, ngày nắng. Nhiệt độ thấp nhất 26-28 độ C, cao nhất 33-35 độ C.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Ngày 13-4, UBND tỉnh Đồng Nai đã có văn bản gửi nhà đầu tư và các đơn vị liên quan về việc tháo dỡ hai trạm thu phí T1 và T2 trên quốc lộ 51.
Cụ thể, sau khi xem xét đề xuất của Sở Xây dựng, Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai thống nhất chủ trương thực hiện tháo dỡ các trạm thu phí T1, T2 trên tuyến quốc lộ 51, đoạn qua địa bàn tỉnh Đồng Nai. Đồng thời ấn định thời gian thực hiện trong tháng 4-2026.
UBND tỉnh Đồng Nai cũng giao Công an tỉnh Đồng Nai, UBND phường Tam Phước và UBND xã Long Phước chỉ đạo các lực lượng chức năng hỗ trợ điều tiết giao thông, đảm bảo an ninh trật tự trong suốt quá trình thi công tháo dỡ.
Sở Xây dựng chủ trì cùng Khu Quản lý đường bộ IV, Công ty cổ phần Phát triển đường cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu (BVEC, nhà đầu tư) thực hiện việc tháo dỡ, thu hồi, lưu giữ vật tư thu hồi trong và sau quá trình tháo dỡ.
Liên quan vấn đề này, tại buổi làm việc giữa Sở Xây dựng tỉnh Đồng Nai với các đơn vị liên quan, BVEC đã thống nhất, đồng ý bàn giao toàn bộ hiện trạng các trạm thu phí cho cơ quan chức năng để thực hiện tháo dỡ, đảm bảo an toàn giao thông.
Theo kế hoạch, BVEC sẽ bàn giao toàn bộ hiện trạng hai trạm thu phí cho Khu Quản lý đường bộ IV và Sở Xây dựng tỉnh Đồng Nai trước ngày 15-4.
Sau khi tiếp nhận, Sở Xây dựng sẽ tổ chức tháo dỡ, đồng thời phối hợp với các đơn vị liên quan đảm bảo giao thông thông suốt trong suốt quá trình thi công…
Như Tuổi Trẻ Online đưa tin, việc trạm thu phí trên quốc lộ 51 dừng thu nhiều năm vẫn còn tồn tại đã gây cản trở giao thông.
Qua nhiều tháng dùng dằng việc bàn giao tài sản, cuối tháng 3, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh kết luận vụ việc, giao Cục Đường bộ Việt Nam khẩn trương ban hành văn bản gửi Sở Xây dựng tỉnh Đồng Nai để tổ chức tháo dỡ hai trạm thu phí T1, T2 còn lại trên quốc lộ 51.
Cách tháo dỡ tương tự như thủ tục tháo dỡ trạm thu phí T3 trên quốc lộ 51 đã được Sở Xây dựng TP.HCM thực hiện xong trong tháng 2.
Đối với trạm thu phí trên cầu Đồng Nai, Bộ trưởng Bộ Xây dựng cũng yêu cầu Cục Đường bộ Việt Nam phối hợp với Sở Xây dựng TP.HCM thực hiện các thủ tục bàn giao theo quy định để tổ chức tháo dỡ trạm thu phí trên cầu Đồng Nai trong thời gian sớm nhất.
Thời Sự
Thủ tướng: Đẩy mạnh cải cách, tạo đột phá để đạt tăng trưởng hai con số

Trong bài Tăng tốc bứt phá, quyết tâm thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 14 của Đảng, người đứng đầu Chính phủ nêu rõ tăng trưởng hai con số là yêu cầu khách quan từ đòi hỏi phát triển đất nước và khát vọng vươn lên của dân tộc, đồng thời là mục tiêu chiến lược phải thực hiện cho bằng được. Tăng trưởng cao phải gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn và phát triển nhanh, bền vững.
Nhìn lại nhiệm kỳ 2021-2025, Thủ tướng cho biết trong bối cảnh khó khăn, thách thức nhiều hơn thuận lợi, đất nước đã vượt qua "giông bão", kiểm soát hiệu quả đại dịch Covid-19, phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, duy trì tăng trưởng thuộc nhóm cao trong khu vực và thế giới. Nền kinh tế giữ vững ổn định vĩ mô, nợ công, bội chi trong giới hạn cho phép; các đột phá chiến lược được triển khai, mở ra không gian phát triển mới theo hướng "thể chế thông thoáng, hạ tầng thông suốt, quản trị thông minh".
Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số được thúc đẩy mạnh mẽ; nhiều tồn đọng kéo dài được xử lý, góp phần giải phóng nguồn lực. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội có bước tiến; an sinh xã hội được bảo đảm với tinh thần không để ai bị bỏ lại phía sau; tỷ lệ hộ nghèo giảm còn khoảng 1,3%. Quốc phòng, an ninh được củng cố; đối ngoại và hội nhập quốc tế là điểm sáng, góp phần nâng cao vị thế, uy tín đất nước.
Từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, Thủ tướng đúc kết 5 bài học kinh nghiệm có ý nghĩa định hướng cho giai đoạn tới. Bài học đầu tiên là phải kiên định sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng, đồng thời triển khai chủ trương, chính sách chủ động, linh hoạt, sáng tạo, nắm chắc tình hình, phản ứng chính sách kịp thời, hiệu quả, nhất là với những vấn đề mới, khó, chưa có tiền lệ.
Cùng với đó là yêu cầu không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, đoàn kết quốc tế, đi cùng quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt. Người dân được xác định là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu, đồng thời là nguồn lực và động lực quan trọng nhất của phát triển, từ đó tạo dựng và củng cố niềm tin xã hội.
Một bài học xuyên suốt khác là phải kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, trong đó nội lực là cơ bản, chiến lược, lâu dài, mang tính quyết định; ngoại lực là quan trọng, cần thiết và có thể tạo đột phá. Tư duy phát triển phải nhìn xa, trông rộng, nghĩ sâu, làm lớn, coi trọng thời gian, trí tuệ và sự quyết đoán đúng thời điểm.
Cùng với đó, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền phải đi đôi với phân bổ nguồn lực, nâng cao năng lực thực thi, tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực; phân công nhiệm vụ theo tinh thần "6 rõ": rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian, rõ kết quả.
Bước vào nhiệm kỳ 2026-2030, bối cảnh thế giới được dự báo tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường; cạnh tranh chiến lược gia tăng; chuỗi cung ứng, thương mại, đầu tư toàn cầu biến động mạnh; các yếu tố an ninh phi truyền thống, biến đổi khí hậu, dịch bệnh tiếp tục tác động sâu rộng. Trong nước, nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi, quy mô còn khiêm tốn, độ mở cao, năng lực cạnh tranh và khả năng chống chịu cần tiếp tục được củng cố.
Trong bối cảnh đó, Thủ tướng yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy bị động sang chủ động thích ứng, "biến nguy thành cơ", "xoay chuyển tình thế, chuyển đổi trạng thái", kiểm soát rủi ro hiệu quả thành lợi thế cạnh tranh. Các bộ, ngành, địa phương phải khẩn trương cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội 14 thành chương trình hành động, kế hoạch thực hiện với mục tiêu, lộ trình, giải pháp rõ ràng, có thể "cân đong, đo đếm, lượng hóa được", gắn trách nhiệm người đứng đầu, khắc phục bệnh hình thức, bệnh thành tích.
Tại Hội nghị Trung ương 2 khóa 14, Tổng Bí thư Tô Lâm đã khái quát 5 nội dung công việc quan trọng của nhiệm kỳ, gồm: công tác chính trị, tư tưởng với "4 kiên định"; mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số; phát huy hiệu quả mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; và bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, hội nhập quốc tế. Trong đó, tăng trưởng hai con số được xác định là yêu cầu khách quan, gắn với khát vọng phát triển đất nước.
Để đạt mục tiêu này, Thủ tướng nhấn mạnh phải khơi thông, huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, phát huy tối đa nội lực, đồng thời tận dụng hiệu quả ngoại lực; vừa làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống như đầu tư, tiêu dùng, xuất khẩu, vừa thúc đẩy mạnh mẽ các động lực mới, trong đó khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh giữ vai trò nền tảng.
Giải pháp được đặt ra theo hướng đồng bộ, có trọng tâm. Về điều hành vĩ mô, các cơ quan tiếp tục thực hiện chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, phối hợp chặt chẽ với chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, vừa giữ ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, vừa hỗ trợ sản xuất kinh doanh. Về đầu tư, đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, lấy đầu tư công dẫn dắt, kích hoạt đầu tư tư nhân, khai thác hiệu quả dư địa nợ công để huy động thêm nguồn lực phát triển.
Đồng thời, thúc đẩy mạnh mẽ thị trường nội địa trở thành bệ đỡ của nền kinh tế; đa dạng hóa thị trường, sản phẩm, chuỗi cung ứng; nâng cao năng lực sản xuất và sức cạnh tranh. Nguyên tắc "lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ" được quán triệt trong hợp tác công tư.
Ba đột phá chiến lược tiếp tục được xác định là hoàn thiện thể chế, phát triển nguồn nhân lực và xây dựng hạ tầng đồng bộ. Trong đó, thể chế là "đột phá của đột phá", phải đi trước, mở đường, xóa bỏ cơ chế "xin cho", tạo môi trường đầu tư kinh doanh minh bạch, thuận lợi. Nguồn nhân lực được nâng cao chất lượng, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo; hạ tầng được phát triển đồng bộ, hiện đại, đặc biệt là giao thông, năng lượng, hạ tầng số.
Cùng với đó, thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo; phát triển các ngành công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, năng lượng tái tạo; hình thành các động lực tăng trưởng mới. Các mô hình kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế dữ liệu tiếp tục được khuyến khích phát triển.
Song song với phát triển kinh tế, yêu cầu bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống người dân, phát triển văn hóa, con người, bảo vệ môi trường được đặt ngang tầm. Các chính sách an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững, chăm lo người yếu thế tiếp tục được thực hiện hiệu quả; không hy sinh tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng đơn thuần.
Đặc biệt, Thủ tướng nhấn mạnh phương châm hành động "1 mục tiêu, 2 bảo đảm, 3 có, 4 không, 5 hóa". Trong đó, "1 mục tiêu" là chăm lo để người dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, năm sau tốt hơn năm trước. "2 bảo đảm" là bảo đảm phát triển để ổn định và ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững. "3 có" là có sự tham gia, đóng góp của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân. "4 không" là không lãng phí một ngày, không chậm trễ trong một tuần, không bỏ lỡ cơ hội trong một tháng và không để bị động trong cả năm. "5 hóa" gồm xanh hóa, số hóa, tối ưu hóa tiềm năng, thông minh hóa quản trị và hài hòa hóa lợi ích.
Cùng với đó, yêu cầu tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng nền hành chính phục vụ, minh bạch, chuyển từ quản lý sang quản trị phát triển; cắt giảm thủ tục, chi phí tuân thủ, tạo thuận lợi tối đa cho người dân và doanh nghiệp. Công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được thực hiện quyết liệt, không có vùng cấm, không có ngoại lệ.
Quốc phòng, an ninh tiếp tục được củng cố; đối ngoại và hội nhập quốc tế được đẩy mạnh theo hướng chủ động, tích cực, hiệu quả, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển. Đối ngoại tiếp tục giữ vai trò tiên phong trong nâng cao vị thế đất nước, gắn kết chặt chẽ với quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế.
Theo Thủ tướng, nhiệm vụ phía trước rất nặng nề nhưng cũng rất vinh quang. Với nền tảng tích lũy qua nhiều năm đổi mới, cùng sự đoàn kết, quyết tâm của toàn hệ thống chính trị, người dân và doanh nghiệp, Việt Nam có đủ điều kiện để thực hiện thắng lợi mục tiêu tăng trưởng hai con số, phát triển nhanh và bền vững, hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước hùng cường, thịnh vượng.
>>> Nội dung bài viết của Thủ tướng Phạm Minh Chính

Các tổ máy nhiệt điện than tại những nhà máy điện than của Tổng công ty Phát điện 1 (EVNGENCO1) liên tục được huy động ở cường độ lớn. Đặc biệt tại Trung tâm Điện lực Duyên Hải có sản lượng bốc dỡ than đạt mức cao. Trong giai đoạn nắng nóng tháng 4 và đầu tháng 5, nhu cầu điện tăng mạnh, các nhà máy nhiệt điện Duyên Hải 1, 3 và 3 mở rộng thường xuyên được huy động cao, khiến cho sản lượng điện sản xuất thực tế cao hơn sản lượng kế hoạch.
Tại ba nhà máy của Trung tâm Điện lực Duyên Hải, sản lượng kế hoạch đưa ra là 1,6 tỉ kWh nhưng sản lượng vận hành thực tế lên tới 1,8 tỉ kWh (tăng tới 111,1%). Khối lượng than bốc dỡ cho nhà máy này để đáp ứng nhu cầu huy động lên tới hơn 1 triệu tấn.
Từ 1-5 đến hết ngày 11-5, các nhà máy nhiệt điện đều được huy động ở mức cao. Chẳng hạn Nhà máy nhiệt điện Duyên Hải 1 huy động đạt 224,2 triệu kWh, Duyên Hải 3 huy động 307,2 triệu kWh (trung bình xấp xỉ 28 triệu kWh/ngày) và Duyên Hải 3 mở rộng đạt 102,8 triệu kWh.
Theo ông Lê Hải Đăng - Tổng giám đốc EVNGENCO 1, kế hoạch điều hành trong tháng 5, sản lượng điện toàn tổng công ty được xác định ở mức 3,92 tỉ kWh. Các chỉ tiêu này đòi hỏi công tác vận hành phải được tổ chức chặt chẽ, linh hoạt, bám sát phương thức huy động của hệ thống.
Việc huy động vượt kế hoạch nhiều nhà máy điện than khiến cho ngành than cũng phải căng mình cung ứng đủ nhiên liệu than cho sản xuất điện. Theo Tập đoàn Công nghiệp than - khoáng sản Việt Nam (Vinacomin), trong tháng 4 cung ứng than cho sản xuất điện với sản lượng cấp dự kiến đạt 4,2 triệu tấn, bằng 102,1% kế hoạch tháng và kế hoạch trong tháng 5 này sẽ là 4,3 triệu tấn. "Các đơn vị thuộc tập đoàn đang tiếp tục đẩy mạnh sản xuất, đảm bảo nguồn than sẵn sàng huy động tối đa cho các nhà máy nhiệt điện, đặc biệt là trong các tháng cao điểm mùa khô", một lãnh đạo của tập đoàn này cho biết.
Theo Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), nhu cầu tiêu dùng điện trong quý 2 tăng mạnh do cao điểm mùa khô, nắng nóng kéo dài và tiêu thụ điện tại các khu công nghiệp gia tăng. EVN đã phải yêu cầu các đơn vị phát điện đảm bảo đủ nhiên liệu, sẵn sàng vận hành các tổ máy theo phương thức hệ thống, nâng cao độ khả dụng và tin cậy nguồn điện. Do sản lượng điện than cho toàn hệ thống chiếm khoảng 52,8% nên các đơn vị cung ứng được yêu cầu sẵn sàng huy động ở mức cao hơn kế hoạch.
Trả lời Tuổi Trẻ, đại diện Bộ Công Thương cho hay trong 4 tháng đầu năm 2026, nhu cầu điện toàn hệ thống tăng trưởng khoảng 7,5%. Việc cung ứng năng lượng chịu tác động lớn bởi nhiều yếu tố như căng thẳng ở khu vực Trung Đông đã ảnh hưởng đến việc cung cấp nhiên liệu khí LNG và dẫn đến tăng giá nhiên liệu (khí LNG, than nhập khẩu) cho sản xuất điện.
Đồng thời thời tiết đang có xu hướng diễn biến cực đoan, dự báo các đợt nắng nóng gay gắt xuất hiện với tần suất cao tại nhiều địa phương tăng cao kéo theo nhu cầu tiêu thụ điện tăng mạnh. Các yếu tố ảnh hưởng mang tính toàn cầu, diễn biến nhanh và khó dự báo cũng gây ra những thách thức lớn đối với cân đối cung - cầu điện cả ngắn hạn và dài hạn.
Do đó, việc thực hiện nhiệm vụ đảm bảo cung ứng điện, đáp ứng mục tiêu tăng trưởng hai con số và thực hiện các cam kết chuyển dịch năng lượng là yêu cầu lớn đặt ra. Ngoài ra Bộ Công Thương cũng chỉ ra những khó khăn, thách thức nội tại.
Đó là công suất khả dụng của hệ thống điện quốc gia suy giảm so với tổng công suất đặt, đặc biệt là vào giai đoạn cuối mùa khô do ảnh hưởng của điều kiện thủy văn, mực nước các hồ chứa thủy điện, sự cố của các nguồn nhiệt điện, khả năng cung cấp nhiên liệu và sự cố lưới điện.
Năm 2026 được dự báo là có nền nhiệt độ trung bình và kéo dài các đợt nắng nóng trên diện rộng, đặc biệt tại khu vực miền Bắc và miền Trung. Quá trình chuyển pha giữa La Nina sang El Nino có thể diễn biến khó lường, làm gia tăng sai số trong công tác dự báo phụ tải. Hiện tượng này không chỉ làm nhu cầu phụ tải điện tăng cao đột biến, nhất là vào các giờ cao điểm trưa và chiều, mà còn ảnh hưởng đến chế độ thủy văn, khiến lưu lượng nước về các hồ thủy điện suy giảm.
"Những yếu tố này gây áp lực lớn lên công tác lập kế hoạch vận hành và điều độ hệ thống điện, tiềm ẩn nguy cơ thiếu hụt công suất trong các thời kỳ cao điểm nếu không có các phương án ứng phó kịp thời, linh hoạt", vị này nói.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

