Theo TechSpot, trong bước đi đầy táo bạo, OpenAI được cho là đang âm thầm phát triển một thiết bị cầm tay thay đổi hoàn toàn định nghĩa về smartphone. Tại đây, những biểu tượng ứng dụng quen thuộc sẽ biến mất, nhường chỗ cho các ‘đặc vụ’ AI tự thân vận hành.
Theo những báo cáo mới nhất từ chuyên gia phân tích hàng đầu Ming-Chi Kuo, OpenAI không đơn thuần làm ra một chiếc điện thoại để cạnh tranh với iPhone hay Samsung về cấu hình. Dự án này tập trung vào việc biến AI Agent trở thành giao diện tương tác chính.
Thay vì phải tự tay mở từng ứng dụng để đặt vé máy bay, so sánh giá khách sạn rồi gửi email xác nhận, người dùng chỉ cần ra lệnh. Các ‘đặc vụ’ AI sẽ tự động xử lý các tác vụ đa bước này ở chế độ nền. Người dùng sẽ không còn thấy một màn hình chính dày đặc biểu tượng mà là một bảng điều khiển các luồng công việc đang được thực thi trực tiếp.
Dù ‘AI-Phone’ có triết lý phần mềm mang tính cách mạng, OpenAI vẫn chọn lối đi an toàn cho phần cứng. Thiết bị dự kiến sẽ sử dụng sức mạnh từ các dòng chip xử lý hàng đầu của Qualcomm hoặc MediaTek. Đáng chú ý, Luxshare – đối tác lắp ráp lâu đời của Apple – được cho là đơn vị sẽ hiện thực hóa bản vẽ của OpenAI thành sản phẩm vật lý.
Việc làm chủ cả phần cứng lẫn phần mềm cho phép OpenAI tối ưu hóa sâu hơn các mô hình ngôn ngữ lớn (LLM), kiểm soát tốt luồng dữ liệu và đảm bảo tốc độ phản hồi nhanh nhất cho người dùng – điều mà các ứng dụng bên thứ ba trên hệ điều hành hiện nay chưa làm được.
Tin Gốc: Thanh Niên
Khoa Học Công Nghệ
Tốc độ internet di động Việt Nam vượt Singapore, gần gấp 2 trung bình thế giới

Cụ thể, theo Ookla - công ty hàng đầu thế giới trong lĩnh vực phân tích, đo lường và cung cấp dữ liệu về kết nối Internet, tốc độ Internet di động của Việt Nam được ghi nhận là 200,54 Mbps, trong khi tốc độ của Singapore là 197,89 Mbps và tốc độ trung bình của thế giới là 109,29 Mbps. Đối với mạng băng rộng cố định, tốc độ Internet của Việt Nam trong tháng 3-2026 là 281,72 Mbps, đứng vị trí thứ 12 toàn cầu.
Dù không còn nằm trong top 10 thế giới như đầu năm 2026, nhưng việc duy trì tốc độ Internet di động thuộc nhóm dẫn đầu thế giới là một nỗ lực rất lớn của các nhà mạng di động tại Việt Nam, nhất là khi các biến động trên thế giới đã liên tục tạo ra cơn bão giá chip, RAM và các thiết bị viễn thông - gây áp lực không hề nhỏ về chi phí đầu tư hạ tầng viễn thông.
Để duy trì thứ hạng top đầu thế giới, hạ tầng Internet Việt Nam liên tục trải qua những đợt nâng cấp sâu rộng, thậm chí có thể coi là những lần “thay máu” về công nghệ. Một trong những thay đổi quan trọng nhất là việc mở rộng và nâng cấp hệ thống cáp quang biển - “xương sống” của kết nối quốc tế.
Các nhà mạng đã chủ động đầu tư vào các tuyến cáp quang biển mới như ADC (Asia Direct Cable) với dung lượng hàng trăm Tbps để giảm sự phụ thuộc vào các tuyến cũ, đảm bảo kết nối quốc tế luôn thông suốt ngay cả trong những kịch bản sự cố phức tạp.
Trong dài hạn, với chiến lược sở hữu ít nhất 10-15 tuyến cáp vào năm 2030, Việt Nam đang từng bước khẳng định vị thế một trung tâm số (Digital Hub) của khu vực, giảm phụ thuộc vào các điểm trung chuyển quốc tế.
Song song với “xương sống” này là việc đầu tư vào “dặm cuối - last mile” - phần kết nối trực tiếp đến từng hộ gia đình. Chi phí này không chỉ nằm ở sợi cáp, mà còn ở việc triển khai các thiết bị modem chuẩn WiFi 6, WiFi 7 hiện đại để xóa bỏ các “điểm chết” trong nhà và đảm bảo tốc độ thực tế.
Nếu như trước đây mục tiêu của ngành viễn thông là đưa Internet đến mọi gia đình, thì hiện nay trọng tâm đã chuyển sang một giai đoạn mới: nâng cao chất lượng và cá nhân hóa trải nghiệm người dùng. Sự chuyển dịch này thể hiện rõ ở nhiều khía cạnh như tốc độ tăng mạnh qua từng năm, độ ổn định được cải thiện đáng kể và còn ở khả năng đáp ứng nhu cầu đa thiết bị ngày càng tốt hơn.
Một hộ gia đình ngày nay không chỉ có điện thoại, laptop mà còn là hệ thống Smart Home, camera an ninh, thiết bị giải trí 4K/8K và các ứng dụng AI tương tác thời gian thực. Mỗi gia đình gần như trở thành một “nút mạng” thu nhỏ trong hệ sinh thái số.
Điều này đặt ra thách thức mới, các gói cước tốc độ thấp vốn phù hợp trước đây đã dần bộc lộ giới hạn. Khi nhiều thiết bị hoạt động đồng thời, đặc biệt vào giờ cao điểm, việc nâng cấp băng thông và thiết bị đầu cuối không còn là lựa chọn, mà là yêu cầu bắt buộc để đảm bảo trải nghiệm không bị gián đoạn.
Ở phạm vi rộng hơn, Internet không còn là một dịch vụ tiện ích đơn lẻ, mà đã trở thành hạ tầng thiết yếu cho kinh tế số, xã hội số, hoạt động của doanh nghiệp và người dân. Đặc biệt, sự bùng nổ của AI và dữ liệu lớn (Big Data) đòi hỏi một hệ thống kết nối không chỉ nhanh mà còn phải ổn định và có khả năng chịu tải cao trong thời gian dài.
Do đó việc duy trì một hạ tầng mạnh, ổn định và liên tục được nâng cấp không chỉ là câu chuyện của ngành viễn thông, mà còn là nền tảng cho sự phát triển dài hạn của quốc gia, là nền tảng để Việt Nam không bị lỡ nhịp trong cuộc đua năng lực cạnh tranh toàn cầu.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Khoa Học Công Nghệ
Vì sao lệnh cấm trẻ em Australia dùng mạng xã hội chưa hiệu quả?

Từ ngày 10/12/2025, Australia là quốc gia đầu tiên chính thức cấm người dùng dưới 16 tuổi sở hữu tài khoản mạng xã hội trên những nền tảng như TikTok, Facebook và YouTube.
Quốc gia này cho biết, danh sách các nền tảng bị áp dụng sẽ liên tục được thay đổi khi sản phẩm mới xuất hiện, thu hút các đối tượng trong lệnh cấm chuyển sang sử dụng nền tảng khác.
Vào thời điểm đưa ra lệnh cấm, 10 nền tảng mạng xã hội lớn nhất đã được lệnh phải chặn trẻ em truy cập, nếu không sẽ đối mặt với mức phạt lên tới 49,5 triệu AUD (khoảng 33 triệu USD).
Luật này vấp phải chỉ trích từ các tập đoàn công nghệ lớn, nhưng lại được sự ủng hộ mạnh mẽ từ phụ huynh và các tổ chức bảo vệ trẻ em. Nhiều quốc gia trên thế giới cũng đưa vấn đề này lên nghị trường để thảo luận sôi nổi, đưa ra các bước để học hỏi, từng bước áp dụng ở quốc gia mình.
Trẻ em đã tuân thủ lệnh cấm hay chưa?
Khoảng 4,7 triệu tài khoản đã bị gỡ bỏ trên 10 nền tảng mạng xã hội để tuân thủ lệnh cấm từ ngày 10/12/2025. Con số này chỉ phản ánh số tài khoản tại Australia bị vô hiệu hóa trên các nền tảng như TikTok, YouTube, Instagram, Facebook và Twitch trong những ngày sau khi lệnh cấm có hiệu lực.
Điều này đã cho thấy phần nào thành công về mặt kỹ thuật trong việc buộc các nền tảng tuân thủ lệnh cấm.
Tuy nhiên, một nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Kinh tế Gary Becker Milton Friedman (Đại học Chicago) khảo sát 507 thanh thiếu niên Australia từ 14-18 tuổi diễn ra trong tháng 3-4 cho thấy mức độ tuân thủ thấp đối với lệnh cấm: chỉ khoảng 27% nhóm 14-15 tuổi tuân thủ theo lệnh cấm sử dụng mạng xã hội với người dưới 16 tuổi của chính phủ; trong khi 86% biết những nền tảng nào bị cấm, cho thấy mức độ nhận biết về lệnh cấm là rất phổ biến.
Nhiều khảo sát độc lập khác cũng được thực hiện trong cùng giai đoạn này: Báo cáo tháng 3/2026 của Ủy viên An toàn điện tử cho thấy 63–69% người dưới 16 tuổi vẫn giữ tài khoản trên Facebook, Instagram, Snapchat và TikTok; Molly Rose Foundation báo cáo 61% nhóm 12-15 tuổi vẫn đang tích cực sử dụng các nền tảng.
Một khảo sát của YouGov với phụ huynh Australia cho thấy phần lớn quan sát thấy một số thay đổi hành vi, trong đó một nhóm thiểu số đáng kể cho biết có sự chuyển dịch sang các nền tảng thay thế.
Vì sao chưa hiệu quả như mong đợi?
Nhiều chuyên gia khẳng định, môi trường xung quanh nơi có bạn bè đồng trang lứa có thể củng cố hành vi tuân thủ quy định của chính phủ. Trong khi đó, phần lớn thanh thiếu niên tham gia các khảo sát vẫn tin rằng bạn bè đang sử dụng các nền tảng đã bị cấm.
Giá trị của việc sử dụng mạng xã hội phụ thuộc vào việc còn những ai khác cũng có mặt trên nền tảng đó. Điều này có nghĩa là khi tỷ lệ bạn bè đồng trang lứa sử dụng cao, lựa chọn của các em có thể vẫn là tiếp tục sử dụng, ngay cả khi việc truy cập bị hạn chế về mặt chính thức.
Vì vậy, việc một lệnh cấm có thể tự duy trì hay không chỉ phụ thuộc vào mức độ nhận thức, tự nguyện tuân thủ của từng cá nhân mà còn có tỷ lệ bạn bè đồng trang lứa mà mỗi thiếu niên cần thấy là đã thực hiện yêu cầu không sử dụng mạng xã hội.
Các lý do khác như danh tiếng của bản thân trên mạng xã hội, nỗi sợ bị bỏ lỡ, sự buồn chán khi khó khăn trong cập nhật tình hình với bạn bè... cũng được liệt kê sau khi khảo sát ý kiến của trẻ em về lệnh cấm.
Điều này một phần cho thấy sự phụ thuộc và cách sử dụng mạng xã hội vô tình "định nghĩa" hình ảnh, mặc định thói quen của trẻ vị thành niên.
Một yếu tố khác liên quan đến mức phạt khi đạo luật không đề cập đến việc người không tuân thủ lệnh cấm phải đối mặt.
Theo nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Kinh tế Gary Becker Milton Friedman, chỉ 22% nhóm bị cấm tin rằng có hậu quả cá nhân khi vi phạm lệnh cấm, tới 47% tin rằng hậu quả chỉ áp dụng cho các nền tảng.
Trong khi các nền tảng có thể bị phạt lên đến hàng chục triệu USD thì trẻ vị thành niên không phải chịu chế tài pháp lý, dẫn đến việc các em bất chấp lách luật.
Các phương pháp xác minh độ tuổi mà các nền tảng sử dụng như quét gương mặt, xác minh danh tính, suy luận hành vi từ ngôn ngữ và mô hình đăng nhập, tín hiệu từ mạng lưới bạn bè - đều không đem lại hiệu quả tối ưu.
Nhiều người dùng sau khi bị gỡ tài khoản vẫn có thể lập tài khoản mới, sử dụng VPN để chuyển mã vùng sử dụng, dùng hình ảnh, thông tin cá nhân của người lớn trong gia đình để qua mặt các bước xác minh độ tuổi…
Bên cạnh đó, cha mẹ anh chị lớn trong nhà cũng là một phần nguyên nhân khiến việc thực hiện lệnh cấm chưa hiệu quả khi có nhiều phụ huynh giúp con mình lập tài khoản mới sau khi tài khoản cũ bị xoá; ngầm cho phép con sử dụng hoặc có các biện pháp kiểm soát chưa chặt chẽ.
Cần nhiều thời gian để đánh giá kỹ
“Dữ liệu của chúng tôi vẫn còn rất hạn chế. Chúng tôi đang quan sát thêm vài tháng nữa trước khi tiến hành phân tích sâu hơn”, bà Caroline Thain, Cố vấn lâm sàng cấp quốc gia của Tổ chức sức khỏe tâm thần Headspace cho biết trong một bài phỏng vấn hồi tháng 3/2026.
Bà Julie Inman Grant - Uỷ viên An toàn Điện tử Australia (eSafety commissioner) thông báo sẽ tiến hành đánh giá lệnh cấm qua một nghiên cứu theo dõi hơn 4.000 trẻ em và gia đình trong hơn 2 năm.
Nghiên cứu sẽ bao gồm các cuộc khảo sát, cũng như việc theo dõi mức độ sử dụng điện thoại thông minh trên cơ sở tự nguyện, nhằm ghi nhận thông tin về thời lượng sử dụng ứng dụng và thời điểm sử dụng trong ngày. Việc đánh giá cũng sẽ dựa trên các dữ liệu bên ngoài, bao gồm kết quả kiểm tra ở trường, dữ liệu chăm sóc sức khỏe và dữ liệu kê đơn thuốc.
“Nghiên cứu cũng sẽ xem xét hành vi tìm kiếm sự giúp đỡ, các mối quan hệ trong gia đình cũng như những trải nghiệm và tác động ban đầu đối với người trẻ dưới 16 tuổi”, bà Inman Grant cho biết.
Nhiều nghiên cứu đang được triển khai, công bố theo các giai đoạn cụ thể, có sự tham gia của nhiều cơ quan, trường học, tổ chức cùng nghiên cứu nhằm đưa ra những kết luận đa chiều về tác động của lệnh cấm này.
Ủy viên An toàn điện tử Australia cho biết cơ quan này đang đánh giá cách các nền tảng tuân thủ lệnh cấm và đảm bảo thanh thiếu niên tiếp tục bị ngăn khỏi các nền tảng này, nhưng hiện vẫn còn quá sớm để nói liệu có biện pháp thực thi nào sắp được áp dụng hay không.
Bà Thain cho biết tác động của lệnh cấm đối với thanh thiếu niên sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, đồng thời kêu gọi các chính phủ muốn đi theo bước chân của Australia không nên mặc định rằng họ hiểu rõ hơn người trẻ, mà cần đưa ý kiến của thanh thiếu niên vào quá trình xây dựng chính sách.
“Hãy xem các em là những người hiểu rõ nhất cuộc sống của chính mình, đưa các em tham gia đóng góp vào từng giai đoạn của quá trình này nếu muốn thực hiện chính sách này có hiệu quả”, bà nói.
Tin Gốc: Dân Trí
Khoa Học Công Nghệ
Jensen Huang: Thị phần phần cứng AI của Nvidia tại Trung Quốc về 0%

Trong cuộc phỏng vấn với kênh Special Competitive Studies Project, phát sóng cuối tuần qua, ông Huang cho biết thị phần phần cứng AI của Nvidia tại Trung Quốc hiện xuống mức 0%. Đây được xem là con số gây sốc vì mới cách đây hai năm, công ty vẫn nắm gần 70% thị phần tại đây.
CEO Nvidia thẳng thắn cho rằng việc Mỹ áp đặt các rào cản thương mại đã gây ra những hệ lụy chiến lược tiêu cực. Đầu tiên, từ bỏ một thị trường quy mô như Trung Quốc là điều không hợp lý về mặt chiến lược. Ông nhận định quy định hiện tại cần phải năng động và thay đổi theo thời gian thay vì giậm chân tại chỗ. Việc rút lui của các công ty Mỹ vô tình đẩy nhanh quá trình tự chủ của Trung Quốc.
Hồi tháng 1, công ty phân tích Bernstein dự báo thị phần của Nvidia tại Trung Quốc giảm từ 66% xuống còn 8% những tháng tới. Tuy nhiên, theo ông Huang, họ thực tế chạm đáy sớm hơn dự kiến. Dù thiếu vắng GPU và phần mềm hàng đầu từ Mỹ, Trung Quốc vẫn là đối thủ mạnh mẽ trong lĩnh vực AI do có lợi thế về giá năng lượng rẻ và đội ngũ nhân tài toán học, khoa học khổng lồ. Ông gọi số lượng nhà nghiên cứu AI tại Trung Quốc là "kho báu quốc gia".
Theo Tom's Harware, hiện các nhà phát triển Trung Quốc dần chuyển sang sử dụng phần cứng nội địa từ những tên tuổi như Huawei, Cambricon hay Moore Threads. Rào cản cuối cùng mà những công ty này cần vượt qua là phần mềm, như nền tảng Cuda của Nvidia, thứ vốn giúp công nghệ Mỹ thống trị thời gian qua.
Ông Huang đánh giá vị thế dẫn đầu dài hạn không nằm ở việc hạn chế đối thủ toàn cầu, mà ở việc đảm bảo hệ sinh thái AI của Mỹ thống trị được trên phạm vi toàn thế giới. Việc thắt chặt xuất khẩu có thể kìm hãm quá trình triển khai AI của chính nước Mỹ, trong khi Trung Quốc đang đón nhận công nghệ một cách quyết liệt và coi trí tuệ nhân tạo như một công cụ phát triển kinh tế.
Tin Gốc: Vnexpress

