Những ngày cuối tháng 4, trong căn nhà ở phường Phương Liệt (Hà Nội), Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt, 88 tuổi, nguyên Phó tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân, mở lại cuốn hồi ký chiến trường. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, ông vẫn nhớ rõ thời khắc đối đầu với “pháo đài bay” B-52.
“Chúng tôi đã dùng vũ khí thế hệ cũ để đánh bại công nghệ hiện đại nhất của Mỹ lúc bấy giờ. Danh xưng ‘Đội cận vệ canh trời Thủ đô’ của bộ đội tên lửa được đổi bằng máu và trí tuệ”, ông Phiệt nói.
Sinh ra trong gia đình làm nông tại Hưng Yên, ông Phiệt tham gia cách mạng từ năm 1953 với vai trò liên lạc viên. Năm 1960, ông nhập ngũ vào Bộ Tư lệnh Phòng không – Không quân. Trải qua thời gian đào tạo trắc thủ radar, ông nhận nhiệm vụ tại sân bay Gia Lâm (Hà Nội) và Ba Đồn (Quảng Bình).
Năm 1965, ông được cử sang Liên Xô học chuyên ngành tên lửa. Về nước, ông giữ chức sĩ quan điều khiển tại Tiểu đoàn 93, Trung đoàn 278. Trong trận đánh tháng 10/1966 tại Hòa Bình, kíp chiến đấu của ông bắn rơi một chiếc F-105. Từ năm 1966 đến 1968, đơn vị cơ động khắp các tỉnh miền Bắc vào đến Nghệ An, đánh 46 trận, hạ 8 máy bay Mỹ.
Giữa năm 1972, không quân Mỹ cải tiến thiết bị gây nhiễu khiến tên lửa SAM-2 liên tục bắn trượt. Từ tháng 4 đến tháng 6, nhiều trận địa chịu tổn thất nặng. Thời điểm này, ông Phiệt mang hàm thượng úy, giữ chức quyền Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 57 (Trung đoàn 261, Sư đoàn 361). Để khắc phục, đơn vị rèn luyện chiến thuật kết hợp trắc thủ quang học PA-00 và trắc thủ tay quay.
Tháng 6/1972, kíp chiến đấu bắn rơi tại chỗ chiếc F-4C trên vùng trời Đại Kim, Hà Nội. Từ trận đánh này, Tiểu đoàn đúc rút hai phương pháp vô hiệu hóa nhiễu: “Vượt trước nửa góc” (sĩ quan điều khiển phát sóng nhanh dưới 10 giây, tắt radar và phóng đạn nhằm tránh tên lửa tầm nhiệt của địch) và phương pháp “Ba điểm” (trắc thủ bám sát dải nhiễu phẳng mịn, dùng công tắc đặc chế đánh lừa máy bay hộ tống giãn đội hình để B-52 lộ diện).
Nhờ chiến thuật mới, đến tháng 10/1972, Tiểu đoàn 57 bắn hạ 5 máy bay, trong đó 3 chiếc rơi tại chỗ. Kinh nghiệm này được nhân rộng toàn Sư đoàn 361.
Đỉnh điểm là chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” (Linebacker II) tháng 12/1972, khi không quân Mỹ tăng cường đánh phá miền Bắc. Đêm 20, rạng sáng 21/12, Mỹ huy động gần 100 lượt B-52 cùng hàng trăm máy bay chiến thuật rải thảm Hà Nội. Các tuyến giao thông bị cắt đứt, việc vận chuyển đạn tê liệt. Tiểu đoàn 57 do ông Phiệt chỉ huy bước vào trận đánh tại trận địa Đại Đồng (Đông Anh, Hà Nội) khi chỉ còn ba quả đạn “vét kho”. Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Phiệt xin cấp trên cho đơn vị áp dụng chiến thuật “đánh mổ cò”.
“Đánh mổ cò” là thuật ngữ chỉ việc phóng từng quả tên lửa SAM-2 thay vì bắn loạt 2-3 quả cùng lúc như giáo trình Liên Xô quy định. Cách đánh này mang tính rủi ro cao khi xác suất trúng đích sụt giảm trong màn nhiễu dày đặc, đồng thời việc kéo dài thời gian mở radar khiến trận địa dễ bị máy bay hộ tống đối phương phát hiện và phản kích bằng tên lửa.
Tuy nhiên, trong hoàn cảnh đạn tên lửa cạn kiệt, đây là giải pháp bắt buộc để duy trì hỏa lực và sức răn đe lâu nhất có thể. Để thực hiện thành công, kíp trắc thủ phải có trình độ kỹ thuật cao và bản lĩnh để “vạch nhiễu”, khóa mục tiêu chính xác chỉ với một lần phóng duy nhất.
5h ngày 21/12, Sở chỉ huy Trung đoàn 261 (Đoàn Thành Loa) báo động. Tốp mục tiêu mang số hiệu 318 lao vào vùng trời Hà Nội. Màn hình radar hiện tín hiệu nhiễu đậm đặc của B-52. Thượng úy Phiệt ra lệnh: “Mỗi quả đạn phải hạ một B-52”.
Khi mục tiêu vào cự ly, sĩ quan điều khiển Nguyễn Đình Kiên nhấn nút nhưng quả đạn đầu tiên không rời bệ do lỗi kỹ thuật. Ông Phiệt lệnh phóng quả thứ hai. Lúc 5h09, đạn nổ ở cự ly 28 km, chiếc B-52 bốc cháy ở hướng Tây Nam.
“Mọi người vừa reo lên, tôi lập tức yêu cầu cả kíp tiếp tục bắt mục tiêu”, ông kể.
Gần 10 phút sau, tốp B-52 tiếp theo tiến vào cự ly 45 km. Trận địa còn duy nhất một quả đạn. “Còn một quả cũng phải đổi bằng một chiếc B-52”, ông Phiệt động viên kíp trắc thủ.
Lúc 5h19, ở cự ly 29 km, quả đạn cuối cùng rời bệ, đánh trúng mục tiêu. Chiếc B-52 thứ hai rơi tại khu vực chợ Thá, gần núi Đôi. Đây là trận đánh đạt hiệu suất cao nhất lịch sử bộ đội tên lửa lúc bấy giờ: Dùng hai quả đạn hạ hai chiếc B-52 trong 10 phút.
Kết thúc chiến dịch, Sư đoàn 361 bắn rơi 29 máy bay, trong đó có 25 chiếc B-52. Ông Phiệt đã trực tiếp chỉ huy kíp chiến đấu đánh 19 trận, góp công cùng Tiểu đoàn 57 bắn rơi 4 chiếc B-52. “Trong tâm tưởng người lính chúng tôi lúc đó chỉ có hai từ ‘phải thắng’. Bom đạn địch chưa chắc đã trúng, mà trúng chưa chắc đã chết, cứ thế mà đánh thôi”, vị tướng già kể.
Nhưng để có được những chiến thắng ấy còn có sự hy sinh thầm lặng của gia đình. Từ năm 1965 đến 1968, do yêu cầu bí mật, ông Phiệt không được về thăm hay viết thư cho gia đình.
Sau chiến dịch 1972, ông cùng đơn vị tiếp tục hành quân vào Nghệ An. Khi em trai vợ đến hỏi tin tức, đồng đội chỉ nói “đồng chí ấy đi xa rồi”. Người nhà nghe vậy tưởng ông đã hy sinh. Ngày đất nước thống nhất, ông Phiệt về quê, thấy gia đình đã lập bàn thờ cho mình.
Năm 1973, ông Nguyễn Văn Phiệt được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Sau này, ông giữ chức Phó Tư lệnh về Chính trị Quân chủng Phòng không – Không quân, mang quân hàm Trung tướng.
Hiện tại, ở tuổi 88, ông vẫn tham gia các hoạt động truyền thống của quân đội. Chia sẻ về nguyên tắc làm việc, ông cho biết: “Cá nhân chỉ là hạt cát, sức mạnh đoàn kết mới tạo nên chiến thắng”.
Trong lĩnh vực việc làm, chỉ 7,8% người khuyết tật nặng có việc làm, so với hơn 78% ở người không khuyết tật.
Những con số này không chỉ phản ánh khoảng trống và sự thiếu hụt những cơ hội cho người khiếm thính, mà còn cho thấy một hệ thống vẫn còn nhiều khoảng cách để giúp người khiếm thính hòa nhập.
Tại Việt Nam, mặc dù đã có những chính sách hỗ trợ người khuyết tật, việc phát hiện và can thiệp sớm đối với trẻ khiếm thính vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt ở cấp cộng đồng.
Nhiều trẻ khiếm thính tại Việt Nam không được phát hiện và can thiệp sớm. Việc thiếu tiếp cận ngôn ngữ (ngôn ngữ ký hiệu hoặc ngôn ngữ nói có hỗ trợ) trong những năm đầu đời dẫn đến "nghèo ngôn ngữ", ảnh hưởng trực tiếp đến tư duy và khả năng học tập.
Hệ quả là trẻ khó theo kịp chương trình học hòa nhập, tỉ lệ bỏ học cao, cơ hội học nghề bị thu hẹp ngay từ đầu.
Về cơ hội việc làm, nhiều người khiếm thính có khả năng làm việc tốt, thậm chí có những lợi thế như tập trung cao, khéo léo, nhưng họ vẫn gặp rào cản trong việc tiếp cận việc làm. Có thể kể đến thiếu dịch vụ phiên dịch viên ngôn ngữ ký hiệu (hoặc kinh phí cao và rất khó có thể chi trả cho các khoản này), doanh nghiệp chưa sẵn sàng tiếp nhận và điều chỉnh môi trường làm việc, định kiến không giao tiếp được nghĩa là không làm việc được,
Điều này khiến nhiều người khiếm thính phải chọn tự làm việc nhỏ lẻ, không ổn định, không được bảo vệ quyền lợi lao động.
Trong không gian công cộng, người khiếm thính như bị "vô hình hóa".
Ở nhiều nơi công cộng như nhà ga, sân bay chưa có các điều chỉnh tiếp cận thông tin với người khiếm thính, thông báo thiếu phụ đề, thiếu ngôn ngữ ký hiệu, thiết kế dịch vụ chưa tính đến người không nghe được. Khi đó, người khiếm thính trở thành người ngoài cuộc ngay trong chính xã hội của mình.
Tuy nhiên, rào cản lớn nhất là nhận thức. Gần đây các chương trình trên tivi có phiên dịch ngôn ngữ ký hiệu, mọi người đã biết hơn về cộng đồng khiếm thính. Nhưng vẫn còn đó quan điểm rằng người khiếm thính "kém thông minh", không thể học cao, không thể làm việc chuyên môn.
Thực tế trên thế giới đã có nhiều chứng minh về khả năng của người khiếm thính có thể trở thành giáo viên, nghệ sĩ, kỹ sư, doanh nhân. Tại Việt Nam cũng có một số bạn khiếm thính đã tốt nghiệp đại học, đi làm và thậm chí có bạn còn đi du học, lấy bằng thạc sĩ tại nước ngoài. Con số tuy chưa cao nhưng đấy cũng là một điều khích lệ và điều đó cũng chỉ ra vấn đề không phải là khả năng - mà là cơ hội và môi trường.
Phát hiện sớm và can thiệp sớm giúp trẻ khiếm thính và gia đình định hướng sớm và thực hiện việc can thiệp sớm nhằm rút ngắn khoảng cách về ngôn ngữ cho trẻ so với các trẻ không khiếm thính khác.
Ngoài ra cần có chính sách sàng lọc sơ sinh, hỗ trợ cha mẹ học giao tiếp với con (ký hiệu hoặc nói).
Giao tiếp là chìa khóa của thành công, vì vậy nếu chúng ta giải quyết được các vấn đề trên thì đây là "chìa khóa vàng" quyết định 70-80% khả năng hòa nhập sau này của trẻ khiếm thính.
• Đào tạo giáo viên giáo dục đặc biệt - chuyên ngành khiếm thính.
• Có trợ giảng hoặc phiên dịch ngôn ngữ ký hiệu.
• Phát triển song ngữ: ngôn ngữ ký hiệu và tiếng Việt.
• Nên thống nhất ngôn ngữ ký hiệu phổ thông tại Việt Nam.
• Có các chương trình hướng dẫn cha mẹ giúp trẻ khiếm thính phát triển giao tiếp và ngôn ngữ tại gia đình, nâng cao năng lực cho cha mẹ trong việc đồng hành nuôi dạy trẻ khiếm thính.
• Xây dựng mô hình "nơi làm việc hòa nhập".
• Đào tạo nội bộ về giao tiếp với người khiếm thính.
• Có chính sách tuyển dụng rõ ràng.
Người khiếm thính chiếm một lực lượng không nhỏ, vì vậy nếu khai khác được và giúp họ các kiến thức kỹ năng để có thể bước chân vào thị trường lao động thì sẽ giải quyết được hơn cả một vấn đề việc làm mà cả vấn đề an sinh, hướng đến cuộc sống độc lập, bình đẳng cho người khiếm thính và tận dụng được nguồn nhân lực đang bị bỏ quên.
• Tăng nội dung có phụ đề, ngôn ngữ ký hiệu.
• Kể câu chuyện thành công của người khiếm thính.
• Đưa hình ảnh người khiếm thính vào đời sống bình thường, không phải "ngoại lệ".
Người khiếm thính không cần sự thương hại. Họ cần cơ hội để được lắng nghe, theo cách của riêng mình. Nhưng đừng để người khiếm thính phải gồng mình. Một xã hội hòa nhập không phải là nơi người khiếm thính phải nỗ lực gấp đôi để "theo kịp", mà là nơi mọi người cùng bước chậm lại một chút để đi cùng nhau.
Những cơn ngứa khắp cơ thể thường dễ bị xem nhẹ và cho rằng chỉ là vấn đề da liễu thông thường. Thế nhưng, với một người đàn ông 63 tuổi, triệu chứng tưởng chừng vô hại ấy lại mở ra hành trình phát hiện một căn bệnh nguy hiểm.
Ban đầu chỉ là những cơn ngứa râm ran khắp cơ thể, nhưng không ai ngờ đó lại là dấu hiệu mở đầu cho một chẩn đoán ung thư tuyến tụy, một trong những căn bệnh có tỷ lệ sống sót thấp nhất hiện nay.
Câu chuyện của ông Michael, 63 tuổi, là lời cảnh tỉnh về những tín hiệu sức khỏe tưởng chừng rất "bình thường" nhưng lại vô cùng nguy hiểm.
Ông Michael chia sẻ, mọi chuyện bắt đầu sau một chuyến nghỉ ngắn ngày cùng vợ vào năm 2016. Không lâu sau khi trở về, ông bắt đầu bị ngứa dữ dội khắp người.
"Cảm giác giống như bị hàng nghìn vết cắn của muỗi vằn. Tôi không thể ngủ nổi, càng nóng thì càng ngứa, và chỉ có thể thiếp đi khi kiệt sức," ông kể lại.
Tình trạng ngày càng tồi tệ, cơn ngứa lan từ đầu đến chân, kéo dài liên tục và không thuyên giảm.
Sau đó, cơ thể ông xuất hiện vàng da – một trong những triệu chứng điển hình liên quan đến bệnh lý gan mật và ung thư tuyến tụy. Tình trạng này còn đi kèm nước tiểu sẫm màu và phân nhạt màu bất thường.
Ban đầu, các bác sĩ nghi ngờ ông bị vàng da đơn thuần. Tuy nhiên, sau khi thực hiện sinh thiết, kết quả khiến cả gia đình bàng hoàng: ung thư tuyến tụy.
Ông Michael phải trải qua ca phẫu thuật lớn để loại bỏ khối u, đồng thời cắt bỏ một phần dạ dày, hệ tiêu hóa và khoảng 30% tuyến tụy. Sau đó là 6 tháng hóa trị đầy mệt mỏi với hàng loạt tác dụng phụ nặng nề.
"Tôi trông như một con bù nhìn – tóc rụng, da bong tróc, quần áo rộng thùng thình. Đó là quãng thời gian không hề dễ dàng," ông chia sẻ.
Dù vậy, sau nhiều năm điều trị và theo dõi định kỳ bằng chụp CT mỗi 3 tháng, sức khỏe ông hiện đã ổn định và chưa ghi nhận dấu hiệu tái phát.
Câu chuyện của ông Michael cho thấy, đôi khi những triệu chứng tưởng chừng nhỏ nhặt lại chính là "tín hiệu đỏ" của cơ thể, không nên xem nhẹ.
Đầu tháng 4, truyền thông thành phố Rotterdam đăng ảnh tranh cử của bà Patricia Reichman. Bức ảnh cho thấy một phụ nữ tóc vàng, mắt nâu, làn da không nếp nhăn. Tuy nhiên sau khi trúng cử chức ủy viên hội đồng thành phố, cử tri phát hiện diện mạo ngoài đời của bà quá khác biệt.
Trả lời dư luận, bà Reichman cho biết đã dùng một công cụ trực tuyến để tăng độ nét do ảnh gốc có độ phân giải thấp. Bà nói diện mạo hiện tại khác biệt là do tác dụng phụ của thuốc đang điều trị bệnh.
Bà Reichman cho biết diện mạo hàng ngày của mình vẫn trẻ trung giống trong ảnh. "Mọi người thường khen tôi trẻ, có người nhầm tôi là bạn gái của con trai khi đi cùng nhau", bà nói.
Tuy nhiên, đảng Leefbaar Rotterdam bác bỏ lời giải thích này. Tuyên bố cho biết thông tin bà Reichman cung cấp không khớp với thực tế. Tổ chức này xác định AI đã can thiệp sâu khiến bức ảnh không phản ánh đúng sự thật.
Đảng Leefbaar Rotterdam yêu cầu bà Reichman từ chức ủy viên hội đồng. Sau khi bà khước từ, tổ chức này quyết định thu hồi tư cách đảng viên và chính thức khai trừ bà. Theo luật, bà vẫn giữ được vị trí của mình và tiếp tục hoạt động tại hội đồng với tư cách là một ủy viên độc lập.
Trên mạng xã hội, nhiều người chỉ ra việc "tăng độ nét" không thể đổi cả màu mắt. Một tài khoản bình luận: "Chắc chắn các loại thuốc điều trị đã khiến bà ấy mang diện mạo của tuổi 59, chứ hoàn toàn không phải do bà ấy đã 59 tuổi".
Vụ việc làm dấy lên tranh cãi trong bối cảnh Luật Bầu cử Hà Lan bỏ ngỏ các quy định cấm sử dụng ảnh AI trong tranh cử. Do thiếu chế tài pháp lý, án phạt duy nhất đối với bà Reichman là hình thức kỷ luật nội bộ từ đảng do vi phạm nguyên tắc về sự trung thực với cử tri.
Một nghiên cứu của Đại học Amsterdam chỉ ra có tới 90% hình ảnh do AI tạo ra trong chiến dịch bầu cử địa phương tại Hà Lan không hề được dán nhãn cảnh báo.