Lão hóa không còn là vấn đề của tuổi già từ 60 mà đang xuất hiện sớm ở “tuổi trẻ”, đặc biệt từ 30 – 40 tuổi. Các dấu hiệu như da lão hóa, mệt mỏi, rối loạn chuyển hóa khiến nhiều người tự ti về ngoại hình và sức khỏe. Áp lực công việc, lối sống thiếu lành mạnh và tình trạng viêm mạn tính là những yếu tố thúc đẩy quá trình này. Không chỉ ảnh hưởng diện mạo, lão hóa sớm còn tác động đến tâm lý và chất lượng sống.
Vì vậy, cần nhận diện sớm và kết hợp thay đổi lối sống với các giải pháp y học để làm chậm lão hóa.
Theo bác sĩ Phan Thanh Hào, lão hóa là quá trình suy giảm cấu trúc và chức năng của cơ thể. Sự suy giảm này biểu hiện từ bên ngoài như da, tóc, hệ cơ xương khớp đến các cơ quan bên trong với nhiều bệnh lý chuyển hóa như tiểu đường, rối loạn mỡ máu, tim mạch, rối loạn miễn dịch, thậm chí ung thư.
Nguyên nhân gây lão hóa rất đa dạng, từ tổn thương DNA, rối loạn ti thể đến yếu tố di truyền. Tuy nhiên, hai nguyên nhân quan trọng được nhấn mạnh là viêm mạn tính và sự suy giảm số lượng tế bào trong cơ thể.
Đây cũng là lý do nhóm nghiên cứu của Bệnh viện Quốc tế DNA và Đại học Quốc gia TP.HCM tập trung vào lão hóa do viêm và vai trò của tế bào gốc trong việc cải thiện tình trạng này.
Theo ông, thực tế, rất khó để có một liệu pháp giải quyết toàn bộ các nguyên nhân gây lão hóa. Vì vậy, từ năm 2000, khái niệm “lão hóa viêm” đã được đưa ra nhằm giúp các nhà khoa học định hướng nghiên cứu rõ ràng hơn.
“Trước đây, lão hóa thường được xem là vấn đề của người trên 60 tuổi. Tuy nhiên, hiện nay các bệnh lý do viêm mạn tính đang ngày càng trẻ hóa. Ở độ tuổi 40, nhiều người đã mắc tiểu đường tuýp 2, béo phì, rối loạn lipid máu… Điều này cho thấy lão hóa viêm đang xảy ra sớm hơn”, bác sĩ Phan Thanh Hào dẫn giải.
Theo ông, các nghiên cứu cho thấy từ khi sinh ra đến 30 tuổi, số lượng tế bào gốc trong cơ thể giảm dần một cách tự nhiên. Đến 30 tuổi, cơ thể mất khoảng 25%, và từ 40 – 50 tuổi có thể giảm đến 40 lần so với ban đầu.
Điều này đặt ra câu hỏi, liệu việc bổ sung tế bào gốc có giúp làm chậm quá trình lão hóa hay không?
Tế bào gốc có khả năng biệt hóa thành nhiều loại tế bào khác nhau, đồng thời có chức năng tái tạo, sửa chữa mô, kháng viêm và điều hòa miễn dịch. Chính những đặc tính này khiến chúng trở thành ứng viên tiềm năng trong điều trị lão hóa do viêm. Trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu về tế bào gốc trung mô, tuy nhiên phần lớn tập trung vào nhóm người cao tuổi.
Nhóm nghiên cứu tại Việt Nam, phối hợp với các nhà khoa học của Đại học Quốc gia TP.HCM đã nghiên cứu tiên phong, đã đặt ra câu hỏi: liệu tế bào gốc trung mô có thể cải thiện các bệnh lý do viêm mạn tính ở người trung niên hay không? Và nhóm nghiên cứu dùng nguồn tế bào gốc từ mô mỡ tự thân và tế bào gốc từ dây rốn được nuôi cấy tại ngân hàng tế bào gốc DNA.
Đối tượng nghiên cứu là 72 người người từ 40 tuổi trở lên, mắc các bệnh như tiểu đường tuýp 2, rối loạn lipid máu, béo phì. Những trường hợp mắc bệnh nặng như rối loạn đông máu, suy tim, suy hô hấp được loại trừ. Quy trình nghiên cứu kéo dài 180 ngày, với hai lần truyền tế bào gốc cách nhau 3 tháng.
Kết quả cho thấy các chỉ số Cytokin gây viêm trong các bệnh tiểu đường, mỡ máu có cải thiện. Đặc biệt, trên từng bệnh nhân, chất lượng da cải thiện rõ rệt, nếp nhăn giảm, giấc ngủ và tinh thần tốt hơn, sức khỏe được nâng cao… Không ghi nhận tác dụng phụ hay yếu tố bất lợi nào xảy ra trong suốt quá trình thực hiện. Từ đó, nhóm nghiên cứu kết luận liệu pháp tế bào gốc trung mô an toàn và có hiệu quả trong việc giảm viêm mạn tính, góp phần làm chậm quá trình lão hóa.
Bác sĩ Phan Thanh Hào khẳng định: Đây là kết quả của một đề tài có sự hợp tác giữa nhiều nhà khoa học, từ bác sĩ thực hiện lâm sàng, đến các chuyên gia nuôi cấy tế bào và các tiến sĩ, phó giáo sư chuyên ngành sinh học thuộc Đại học Quốc gia TP.HCM thực hiện, với chất lượng tế bào đạt các chuẩn GMP – WHO. Và đề tài nghiên cứu được thực hiện trong gần 5 năm (2020 – 2025), qua hai giai đoạn và đã được Hội đồng đạo đức Bộ Y tế nghiệm thu.
Hiện nay, tế bào gốc là một phần quan trọng trong chiến lược phát triển công nghệ sinh học và y học hiện đại của Việt Nam, được Nhà nước định hướng đầu tư và phát triển lâu dài. Điều này được cụ thể hóa trong các chỉ thị, nghị quyết, quyết định của Đảng, Nhà nước.
Giấc ngủ là yếu tố nền tảng đối với sức khỏe, song nhiều cuộc khám sức khỏe định kỳ hiện nay vẫn chưa chú trọng đúng mức đến các rối loạn liên quan đến giấc ngủ.
Theo một bài phân tích mới của các nhà khoa học thần kinh tại Đại học Northwestern (Mỹ), chứng ngưng thở khi ngủ hiện ảnh hưởng gần 1 tỉ người trên toàn thế giới nhưng vẫn thường xuyên không được chẩn đoán, đặc biệt ở phụ nữ và nhiều nhóm bệnh nhân khác.
Loại phổ biến nhất của căn bệnh này là ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ (OSA), xảy ra khi đường hô hấp bị tắc nghẽn lặp đi lặp lại trong lúc ngủ.
Người bệnh có thể ngáy to, đau đầu hoặc buồn ngủ ban ngày. Tuy nhiên, nhiều trường hợp gần như không nhận ra mình đã ngừng thở hàng chục, thậm chí hàng trăm lần mỗi đêm.
Các nhà nghiên cứu cho biết mỗi lần ngưng thở thường kéo dài khoảng 20 giây và có thể xảy ra hơn 100 lần trong một giờ ngủ, theo trang ScienceAlert ngày 8-5.
Việc thiếu oxy lặp đi lặp lại khiến huyết áp và nhịp tim tăng cao, gây áp lực lớn lên hệ tim mạch. Nếu không điều trị, bệnh có thể làm tăng nguy cơ cao huyết áp, suy tim, đột quỵ và nhiều bệnh thoái hóa thần kinh như Alzheimer.
Không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất, chứng ngưng thở khi ngủ còn liên quan đến suy giảm chất lượng cuộc sống, tăng nguy cơ tai nạn giao thông và kéo theo chi phí y tế lớn cho cá nhân lẫn xã hội.
Tuy vậy, căn bệnh này vẫn thường bị xem nhẹ trong các lần khám định kỳ. Theo các chuyên gia, nguyên nhân một phần đến từ định kiến lâu nay rằng người mắc bệnh chủ yếu là nam giới lớn tuổi và béo phì.
Thực tế phụ nữ mắc chứng ngưng thở khi ngủ thường có biểu hiện khác như mất ngủ, đau đầu hoặc trầm cảm - những triệu chứng không được nhấn mạnh trong nhiều công cụ sàng lọc hiện nay.
Ngoài ra, nhiều tiêu chuẩn chẩn đoán và điều trị hiện nay được xây dựng chủ yếu từ nghiên cứu trên người da trắng.
Một số thiết bị đo oxy trong máu dùng để phát hiện bệnh cũng kém chính xác hơn ở người có màu da sẫm, khiến mức độ nghiêm trọng của bệnh có thể bị đánh giá thấp.
Trong 20 năm qua, việc điều trị chứng ngưng thở khi ngủ đã có nhiều tiến bộ. Phương pháp phổ biến nhất là sử dụng máy CPAP, thiết bị tạo luồng khí liên tục để giữ đường thở không bị xẹp xuống khi ngủ.
Ngoài ra còn có các thiết bị kích thích thần kinh cấy ghép, dụng cụ chỉnh hàm và các bài tập tăng cường cơ lưỡi, cổ họng.
Cuối năm 2024, Cơ quan Quản lý thực phẩm và dược phẩm Mỹ (FDA) cũng phê duyệt thuốc tirzepatide để hỗ trợ điều trị bệnh thông qua giảm cân.
Bước đầu tiên để điều trị hiệu quả là nhận diện bệnh sớm.
Hiện nay, nhiều xét nghiệm giấc ngủ có thể thực hiện ngay tại nhà thay vì phải nhập viện qua đêm. Theo đó, chỉ cần chủ động trao đổi với bác sĩ về tình trạng ngáy ngủ, mệt mỏi kéo dài hay khó thở khi ngủ cũng có thể giúp mở ra cơ hội chẩn đoán và cải thiện sức khỏe lâu dài.
Trong bài đăng trên trang cá nhân, chuyên gia dinh dưỡng Zeng Jianming chia sẻ nhiều bệnh nhân tại phòng khám của ông khẳng định ăn uống thanh đạm, lành mạnh nhưng chỉ số xét nghiệm máu vẫn không đạt chuẩn. Ông cho hay nguyên nhân ở việc chọn sai thực phẩm. Theo chuyên gia, chế độ ăn cho người bệnh thận không phải là một hình phạt "không được ăn gì" mà thực chất là một "trò chơi thay thế".
"Chỉ cần tránh được ba 'cạm bẫy' lớn là mặn, thực phẩm chế biến sẵn và các loại nước dùng, bệnh nhân vẫn có thể ăn ngon và đủ chất nếu nắm vững các nguyên tắc thay thế thực phẩm khoa học", ông Zeng nói.
Sai lầm phổ biến đầu tiên nằm ở quan niệm về thực phẩm nguyên hạt. Nhiều người tin rằng gạo lứt, ngũ cốc hay các loại hạt là lựa chọn tốt nhất cho sức khỏe. Tuy nhiên, khi chức năng thận suy giảm và khả năng kiểm soát chỉ số phosphorus trong máu kém đi, những thực phẩm đó lại vô tình làm tăng gánh nặng bài tiết cho thận. Trong giai đoạn này, các loại thực phẩm tinh chế như cơm trắng, mì trắng hay bánh bao chay lại là lựa chọn an toàn hơn.
Thứ hai, nhiều người nghĩ không được ăn mặn nên chuyển sang mua "muối thấp natri". Song chuyên gia cảnh báo các loại muối giảm mặn hoặc nước tương chứa hàm lượng natri thấp trên thị trường thường sử dụng kali để thay thế. Điều này cực kỳ nguy hiểm cho người bệnh thận. Thay vào đó, bệnh nhân nên sử dụng muối ăn thông thường nhưng tiết chế liều lượng hoặc tăng cường các gia vị tự nhiên như hành, gừng, tỏi và chanh để kích thích vị giác mà không gây hại.
Đối với rau củ quả, ông cho biết có một nghịch lý rằng một số bệnh nhân thận tin rau xanh có hàm lượng kali cao nên tuyệt đối không chạm vào song lại ăn rất nhiều cà chua và kiwi, vốn là những loại trái cây có hàm lượng kali cao. Chuyên gia khuyến nghị thay thế bằng các loại quả an toàn hơn như táo, nho, dứa hoặc lê. Riêng với rau xanh, phương pháp chế biến đúng cách là thái nhỏ, chần qua nước sôi rồi đổ bỏ phần nước đó trước khi đem xào nấu để loại bỏ tối đa lượng kali dư thừa.
Về lượng đạm, tâm lý sợ suy thận khiến nhiều bệnh nhân không dám ăn thịt, dẫn đến tình trạng suy dinh dưỡng. Ông Zeng khẳng định nhu cầu protein trước và sau khi chạy thận là hoàn toàn khác nhau, do đó, bệnh nhân cần tham vấn bác sĩ hoặc chuyên gia dinh dưỡng để có thực đơn phù hợp với thể trạng cá nhân.
Để áp dụng vào thực tế, chuyên gia gợi ý những thay đổi đơn giản trong thực đơn hàng ngày. Bữa sáng thay vì sử dụng chè mè đen, bột ngũ cốc hay bánh mì kẹp thịt xông khói dùng kèm trà sữa, người bệnh nên chuyển sang ăn bánh mì trắng cùng một quả trứng chần (không thêm sốt), hoặc bánh bao chay ăn cùng trứng hấp và nước lọc.
Bữa trưa thay vì ăn các món cơm chan nước sốt hay canh thịt viên, hãy chuyển sang cơm trắng ăn cùng cá hấp hoặc gà xào hành và rau chần, lưu ý không uống nước dùng. Bữa tối cần tránh xa các loại mì tôm, bánh mì công nghiệp hay nước hầm xương "bồi bổ", thay vào đó là nửa bát cơm trắng kết hợp một phần đạm chất lượng cao và rau xanh đã qua xử lý.
Ông Zeng cho hay điều thực sự gây áp lực lên thận không phải là việc thỉnh thoảng ăn một miếng thịt mà là thói quen tiêu thụ thực phẩm quá mặn, đồ chế biến sẵn trong mọi bữa ăn và uống quá nhiều các loại nước canh trong mỗi bữa ăn. Ông khẳng định: "Ăn uống đúng cách không làm giảm chất lượng sống của bệnh nhân, mà trái lại, đó là chìa khóa để duy trì chức năng thận lâu dài hơn".
Ngày 5/5, ThS.BS.CK1 Nguyễn Hữu Tín, Khoa Hồi sức tích cực và Chống độc, Bệnh viện Nhân dân 115, cho biết bệnh nhân vào viện trong tình trạng ngưng tim ngoại viện, hôn mê nguy kịch, hồi đầu năm. Các bác sĩ lập tức hỗ trợ tuần hoàn bằng kỹ thuật tim phổi nhân tạo V-A ECMO để duy trì cơ hội sống trong giờ phút sinh tử.
Sau khoảng một tuần, người bệnh cai ECMO thành công, nhưng nguy cơ vẫn bủa vây. Chàng trai lần lượt đối mặt với viêm phổi nặng, suy thận phải lọc máu liên tục, nhiễm trùng vết thương chân trái và tổn thương não do thiếu oxy sau ngưng tim.
"Có thời điểm tình trạng diễn tiến xấu khiến gia đình và đội ngũ điều trị rơi vào những giờ phút căng thẳng, mỗi ngày trong phòng hồi sức là một cuộc giằng co quyết liệt để giữ lại sự sống", bác sĩ Tín nhớ lại.
Vượt qua giai đoạn nguy kịch, hành trình giành lại các chức năng sống mới thực sự bắt đầu. Từng biến chứng được kiểm soát, nhiễm trùng phổi cải thiện, chức năng thận dần hồi phục, vết thương nhiễm trùng cũng lành lại theo thời gian.
Đặc biệt là sự trở lại của tri giác. Ban đầu, bệnh nhân gần như không có phản ứng rõ ràng, khả năng nhận thức rất hạn chế. Sau đó, từng dấu hiệu nhỏ xuất hiện, bệnh nhân nhận ra người thân, đáp ứng với lời gọi. Những ngày cận xuất viện, chàng trai có thể đưa tay vẫy chào bác sĩ - một cử chỉ nhỏ nhưng đánh dấu bước ngoặt hồi phục.
Sau 86 ngày điều trị, bệnh nhân xuất viện. "Hành trình ấy không chỉ là sự trở về của một người trẻ từ lằn ranh sinh tử, mà còn là kết quả của nỗ lực bền bỉ từ gia đình và đội ngũ y tế", bác sĩ Tín nói.
Ca bệnh cũng cho thấy vai trò quyết định của cấp cứu kịp thời, hồi sức chuyên sâu và theo dõi sát sao trong những trường hợp ngưng tim ngoài viện.