Hàng triệu lao động nữ phụ thuộc vào dịch vụ chăm sóc trẻ
Ngày 3/4, tại hội thảo “Hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục mầm non” do Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam phối hợp với Vụ Giáo dục Mầm non và Ngân hàng Thế giới tổ chức, các chuyên gia đã đưa ra loạt khuyến nghị đáng chú ý.
Trình bày báo cáo tại hội thảo, bà Helle Buchhave, Trưởng nhóm toàn cầu về giới của Ngân hàng Thế giới, cho biết Việt Nam hiện có khoảng 4,8 triệu lao động nữ trong lĩnh vực sản xuất tại các khu công nghiệp, tương đương 19% số lao động nữ. Đây là nhóm chịu tác động trực tiếp từ sự thiếu hụt dịch vụ chăm sóc trẻ.
Dữ liệu cho thấy nhu cầu gửi trẻ, đặc biệt dưới 3 tuổi, đang rất lớn nhưng chưa được đáp ứng. Có tới 75% bà mẹ có con dưới 2 tuổi chưa sử dụng dịch vụ chăm sóc trẻ, dù sẵn sàng sử dụng nếu có dịch vụ phù hợp với chi phí hợp lý.
Trong khi đó, hệ thống công lập còn hạn chế, chỉ 23% cơ sở nhận trẻ dưới 2 tuổi. Ở khu vực ngoài công lập, nhiều cơ sở gặp khó khăn về nhân lực đạt chuẩn, nguồn lực tài chính và tiếp cận chính sách hỗ trợ.
Các chuyên gia nhấn mạnh, đầu tư vào giáo dục mầm non không chỉ là chính sách xã hội mà còn mang lại lợi ích kinh tế rõ rệt. Ước tính, việc phổ cập dịch vụ chăm sóc trẻ có thể mang lại tổng lợi ích kinh tế lên tới 3,02 tỷ USD, thông qua việc tăng tỷ lệ tham gia lao động của phụ nữ và nâng cao năng suất.
Bàn giải pháp nâng chất giáo dục mầm non ở địa bàn có khu công nghiệp
Trưởng nhóm toàn cầu về giới của Ngân hàng Thế giới nhấn mạnh Việt Nam cần những điều chỉnh chính sách mạnh mẽ để giải quyết “điểm nghẽn” trong hệ thống chăm sóc trẻ nhỏ, đặc biệt tại khu đô thị và khu công nghiệp.
Báo cáo của Ngân hàng Thế giới đưa ra 3 nhóm giải pháp lớn. Một trong những giải pháp quan trọng là cải thiện chế độ cho đội ngũ giáo viên mầm non. Mức hỗ trợ hiện nay còn thấp, khiến thu nhập của giáo viên, đặc biệt ở khu vực ngoài công lập còn hạn chế.
Vì vậy, cần xây dựng chính sách tiền lương ở tầm quốc gia, đồng thời tăng lương theo lộ trình gắn với trình độ chuyên môn.
Đồng thời, cần tăng nguồn cung dịch vụ với chi phí hợp lý, trong đó nhấn mạnh mở rộng hệ thống mầm non công lập, đặc biệt cho trẻ dưới 3 tuổi; đồng thời cải cách mô hình hợp tác công – tư (PPP), giảm rào cản để thu hút các nhà đầu tư.
Đáng chú ý, chuyên gia Ngân hàng Thế giới cũng đề xuất điều chỉnh chính sách lao động theo hướng thân thiện hơn với gia đình, trong đó có việc kéo dài thời gian nghỉ thai sản lên 12 tháng. Phương án được đưa ra là mỗi phụ huynh nghỉ 6 tháng, nhằm san sẻ trách nhiệm chăm sóc con nhỏ.
Bà Buchhave chỉ ra khoảng trống lớn hiện nay: sau 6 tháng nghỉ thai sản, nhiều gia đình không có nơi gửi trẻ do phần lớn cơ sở mầm non công lập chưa nhận trẻ dưới 12 tháng tuổi. Điều này khiến không ít phụ nữ buộc phải rời bỏ thị trường lao động hoặc chấp nhận những lựa chọn không bền vững.
“Khung chính sách của Việt Nam đã có đủ các cam kết cần thiết để hành động”, bà nhấn mạnh.
Tuy nhiên, chuyên gia của Ngân hàng Thế giới cũng cho biết đây là những chiến lược dài hạn. Tuy nhiên, bà cũng chỉ ra một số hành động cần thực hiện trong ngắn hạn như: Tăng số lượng chỗ học cho trẻ dưới 3 tuổi tại cơ sở mầm non công lập, nới lỏng trần biên chế, kéo dài giờ hoạt động ở trường, loại bỏ rào cản hành chính đối với người di cư, đồng bộ chính sách chăm sóc trẻ em với chính sách nghỉ phép của cha mẹ và làm việc linh hoạt…
Áp lực lớn tại các đô thị, khu công nghiệp
Tại hội thảo, bà Lê Thuỵ Mỵ Châu, Phó Giám đốc Sở GD&ĐT TPHCM, cho biết thành phố hiện có hơn 1.800 cơ sở mầm non với trên 520.000 trẻ, hơn 47.000 giáo viên, cán bộ quản lý – quy mô lớn nhất cả nước. Tuy nhiên, áp lực về chỗ học, đặc biệt cho con em công nhân và lao động nhập cư, vẫn rất lớn.
Nhiều mô hình linh hoạt đã được triển khai như giữ trẻ ngoài giờ, trường do doanh nghiệp đầu tư hay cơ sở mầm non tại khu lưu trú công nhân, ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động, quản lý. Dù vậy, bài toán về nguồn lực, quy hoạch và chất lượng vẫn còn nhiều thách thức.
Ở góc độ quản lý, bà Hoàng Thị Dinh, Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục Mầm non, Bộ GD&ĐT, nhấn mạnh sự cần thiết của việc triển khai đồng bộ chương trình quốc gia, đặc biệt tại các địa phương có khu công nghiệp lớn.
Bà cho rằng cần tăng cường phân cấp, trao quyền cho địa phương trong việc tham mưu và triển khai giải pháp phù hợp với thực tiễn.
Đồng thời, các địa phương cần chú trọng mở rộng quy mô, tăng tỷ lệ trẻ đến trường, nhất là nhóm trẻ nhà trẻ, vốn còn nhiều hạn chế so với bậc mẫu giáo.
Đại diện Bộ GD&ĐT cho biết đang triển khai chương trình nâng cao chất lượng giáo dục mầm non tại khu đô thị, khu công nghiệp, với mục tiêu đến năm 2035, 100% trẻ từ 6 đến 36 tháng tuổi là con công nhân, người lao động có nhu cầu sẽ được đến trường.
Theo GS.TS Lê Anh Vinh, Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, giáo dục mầm non cần được nhìn nhận không chỉ là lĩnh vực giáo dục mà còn là câu chuyện chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ trẻ trong những năm đầu đời.
Theo ông Vinh, đây là giai đoạn nền tảng có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của mỗi con người. Những gì trẻ được tiếp cận trong giai đoạn này sẽ ảnh hưởng lâu dài đến kết quả học tập, khả năng học tập suốt đời và năng suất lao động khi trưởng thành.
“Giáo dục mầm non phải là câu chuyện của tiếp cận sớm, cơ hội sớm và đầu tư sớm, không chỉ trong ngành giáo dục mà trong tổng thể chiến lược phát triển kinh tế – xã hội”, ông Vinh nhấn mạnh.
Thông tin trên được Cục Quản lý chất lượng (Bộ GD-ĐT) nhận được ngày 23.4. Đây là năm thứ 2 đoàn học sinh Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic hóa học quốc tế Mendeleev (IMChO) lần thứ 60, diễn ra từ ngày 15 - 23. 4 tại Moscow, Liên bang Nga.
Cụ thể, 2 huy chương vàng thuộc về các học sinh: Ngô Hoàng Minh, lớp 12, Trường THPT chuyên Hà Nội - Amsterdam; Nguyễn Thái Minh, lớp 11, Trường THPT chuyên Khoa học tự nhiên, ĐH Quốc gia Hà Nội.
2 học sinh giành huy chương bạc gồm: Nguyễn Hữu Tuệ, lớp 12,Trường THPT chuyên Khoa học tự nhiên, ĐH Quốc gia Hà Nội; Nguyễn Công Thành, lớp 12, Trường THPT chuyên Chu Văn An, Hà Nội.
Đặc biệt, em Ngô Hoàng Minh đã xuất sắc xếp thứ 2 toàn kỳ thi và 3 thí sinh còn lại đều trong nhóm 30.
Đây là năm thứ hai Việt Nam chính thức tham dự IMChO, tuyển chọn từ kỳ thi chọn đội tuyển Olympic khu vực và quốc tế năm 2026 của Bộ GD-ĐT.
IMChO được tổ chức dưới sự bảo trợ của "Thập kỷ Khoa học và Công nghệ tại Nga" do Tổng thống Liên bang Nga Vladimir Putin công bố; đồng thời do Khoa Hóa học, Trường ĐH Tổng hợp quốc gia Moscow mang tên M.V. Lomonosov và Quỹ Melnichenko phối hợp tổ chức.
IMChO kế thừa truyền thống từ kỳ thi Olympic hóa học toàn Liên bang Xô Viết, duy trì từ năm 1967. Năm 2026, kỳ thi kỷ niệm lần thứ 60, được tổ chức tại Moscow với sự tham gia của thí sinh đến từ 37 quốc gia.
IMChO, cùng với Olympic hóa học quốc tế (IChO), là những kỳ thi học thuật danh giá và có độ khó cao nhất thế giới trong lĩnh vực hóa học dành cho học sinh phổ thông. Giới chuyên gia vẫn gọi đây là "Kỳ thi hóa học khó nhất hành tinh" vì các bài toán trong kỳ thi có độ khó và tính phân hóa rất cao..
IMChO được tổ chức qua 3 vòng thi trong 3 ngày, gồm 2 vòng thi lý thuyết và 1 vòng thi thực hành, mỗi vòng thi kéo dài 5 giờ. Ban tổ chức trao giải cho khoảng 60% thí sinh tham dự.
Chiều nay (12.5), Sở An toàn thực phẩm TP.HCM công bố kết quả điều tra vụ ngộ độc thực phẩm tại Trường tiểu học Đặng Thùy Trâm, phường Tân Thuận, TP.HCM.
Sở An toàn thực phẩm TP.HCM cho biết ngay sau khi tiếp nhận thông tin về các trường hợp nghi ngờ ngộ độc thực phẩm xảy ra tại Trường tiểu học Đặng Thùy Trâm, Sở An toàn thực phẩm TP.HCM đã khẩn trương thành lập đoàn công tác theo Quyết định số 305/QĐ-SATTP ngày 28.4.2026, đồng thời phối hợp với ngành y tế, chính quyền địa phương và nhà trường tiến hành điều tra, xử lý vụ việc theo Quy chế điều tra ngộ độc thực phẩm ban hành kèm Quyết định số 39/2006/QĐ-BYT ngày 13.12.2006 của Bộ Y tế.
"Sau quá trình điều tra, Sở An toàn thực phẩm TP.HCM kết luận vụ việc xảy ra tại Trường tiểu học Đặng Thùy Trâm ngày 24.4.2026 là vụ ngộ độc thực phẩm", thông báo cho biết.
Cụ thể về vụ ngộ độc thực phẩm tại Trường tiểu học Đặng Thùy Trâm ngày 24.4.2026 đã được công bố chi tiết. Địa điểm xảy ra ngộ độc thực phẩm là ở 2 cơ sở của Trường tiểu học Đặng Thùy Trâm, cơ sở 1 ở 215 Trần Xuân Soạn và cơ sở 2 ở 37/2 Huỳnh Tấn Phát, phường Tân Thuận, TP.HCM.
Thời gian xảy ra ngộ độc thực phẩm là ngày 24.4.2026. Bữa ăn nguyên nhân là bữa trưa ngày 24.4.2026.
Có tổng cộng 1.306 người ăn; 112 người mắc; 54 người đi bệnh viện; không có ai tử vong.
"Thức ăn nguyên nhân: Trứng vịt hấp thịt heo; Cơ sở nguyên nhân: Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ Xích Long (Địa chỉ: số 27A đường số 14A Cư xá Ngân Hàng, phường Tân Thuận, TP.HCM); Căn nguyên: Salmonella spp. và Escherichia coli", công bố của Sở An toàn thực phẩm TP.HCM nêu rõ.
Cũng theo công bố trên, Sở này cho biết, "Sau khi báo cáo kết luận điều tra vụ việc, Sở An toàn thực phẩm tiếp tục phối hợp Sở Y tế xác định xác nhận số người bị ảnh hưởng đến sức khỏe và mức độ ảnh hưởng do ngộ độc thực phẩm làm cơ sở để xử lý cơ sở gây ngộ độc thực phẩm".
Trước đó, như Báo Thanh Niên đã đăng tải, anh Tâm (tên nhân vật đã được thay đổi), phụ huynh bé lớp 1, Trường tiểu học Đặng Thùy Trâm, phường Tân Thuận, TP.HCM cho biết chiều thứ sáu (ngày 24.4), trước kỳ nghỉ lễ Giỗ tổ Hùng Vương, con anh đi học về bị mệt, sốt, gia đình nghĩ là con bị mệt thông thường. Về sau, khi phụ huynh trao đổi, nói chuyện với nhau trong nhóm phụ huynh thì mới biết nhiều bé trong lớp bị sốt, ói, mệt, đau bụng, nhiều bé phải nhập viện thăm khám, điều trị.
Thông tin đăng tải công khai trên trang web Trường tiểu học Đặng Thùy Trâm cho biết thực đơn ăn bán trú của trường hôm 24.4 có trứng vịt hấp thịt heo, cá ba sa phi lê chiên nước mắm, bầu xào tỏi, canh rong biển đậu hũ nấu thịt; món xế là sữa chua uống; tráng miệng là bánh gạo.
Hôm 30.4, thông cáo báo chí chính thức của UBND phường Tân Thuận, TP.HCM về vụ việc xảy ra tại Trường tiểu học Đặng Thùy Trâm, cho biết: "Theo thông tin ban đầu, vào chiều tối 24.4.2026, một số học sinh của trường xuất hiện các triệu chứng như đau bụng, nôn ói, mệt mỏi và đã được gia đình đưa đến cơ sở y tế để thăm khám, theo dõi. Ngay sau khi tiếp nhận thông tin, UBND phường Tân Thuận đã chỉ đạo nhà trường khẩn trương báo cáo, đồng thời phối hợp với các cơ quan chức năng liên quan tiến hành kiểm tra, xác minh nguyên nhân vụ việc. Các biện pháp rà soát, tăng cường đảm bảo an toàn thực phẩm trên địa bàn, các bữa ăn của trẻ và các nguồn thực phẩm liên quan, đang được triển khai đồng bộ. Đến chiều 28.4.2026, ghi nhận tổng số 46 trường hợp học sinh có triệu chứng nghi ngờ ngộ độc đến khám và điều trị tại các cơ sở y tế. Trong đó 29 trường hợp đang điều trị, có 2 trong 29 trường hợp trên là bệnh nhi có bệnh nên nhập viện cấp cứu và 17 trường hợp ngoại trú, tình hình sức khỏe của các học sinh đã ổn định và đang được tiếp tục điều trị, theo dõi".
"Các đơn vị liên quan đang tiếp tục làm rõ nguyên nhân và sẽ có thông tin chính thức ngay khi có kết quả. UBND phường Tân Thuận đề nghị quý phụ huynh bình tĩnh, theo dõi sức khỏe của trẻ và phối hợp cung cấp thông tin khi cần thiết. Mọi thông tin chính thức sẽ được cập nhật kịp thời qua các kênh thông tin của địa phương. UBND phường Tân Thuận sẽ tiếp tục chỉ đạo sát sao, đảm bảo an toàn sức khỏe cho học sinh và ổn định tình hình trên địa bàn", cũng theo thông cáo báo chí chính thức của UBND phường Tân Thuận, TP.HCM, phát đi hôm 30.4.
Cho đến hôm nay (12.5), Trường tiểu học Đặng Thùy Trâm, phường Tân Thuận và nhiều trường có cùng chung công ty cung cấp suất ăn cho học sinh trên địa bàn đều dừng ăn bán trú.
Đầu tư mạnh mẽ, có trọng điểm vào giáo dục và đổi mới sáng tạo là trụ cột trung tâm của mọi chính sách cơ cấu nhất quán nhằm chuyển đổi mô hình tăng trưởng của VN. Việc nâng cao kỹ năng kỹ thuật của lực lượng lao động, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghiệp và công nghệ có giá trị gia tăng cao, là điều thiết yếu để hỗ trợ hiện đại hóa sản xuất và tiếp nhận các công nghệ tiên tiến. Đầu tư như vậy có ý nghĩa quyết định để giúp VN giảm phụ thuộc quá mức vào vốn và công nghệ nước ngoài, thoát bẫy thu nhập trung bình và chuyển từ nền kinh tế dựa vào yếu tố đầu vào sang nền kinh tế dựa trên tri thức.
Hệ thống đại học (ĐH) VN có 237 trường vào năm 2026, trong đó có 3 trường nằm trong top 200 ĐH châu Á theo bảng xếp hạng QS Asia University Rankings 2026, và chưa có trường nào nằm trong top 500 ĐH hàng đầu thế giới theo các bảng xếp hạng quốc tế uy tín (QS World University Rankings, Times Higher Education). Điều này làm hạn chế đáng kể sức hấp dẫn của VN đối với chuyên gia quốc tế và các trung tâm nghiên cứu, phát triển của các tập đoàn đa quốc gia.
Trước thực trạng nói trên, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã công bố dự án chiến lược nhằm xây dựng 5 - 6 ĐH xuất sắc trong giai đoạn 2030 - 2045, với mục tiêu hội nhập vào các bảng xếp hạng quốc tế từ năm 2030.
Quan sát từ những thành công ấn tượng nhất tại châu Á, có thể nói đây là quyết định mang tính chiến lược cao cho quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng của VN. Singapore đã đầu tư mạnh mẽ vào 2 ĐH mũi nhọn NUS và NTU từ những năm 1990. Trong bảng xếp hạng QS World University Rankings, NUS hiện đứng thứ 8 thế giới, còn NTU đứng thứ 15, đưa Singapore trở thành một trong những trung tâm ĐH và công nghệ hàng đầu toàn cầu. Hàn Quốc có lộ trình tương tự với ĐH Quốc gia Seoul (khoảng thứ 30 thế giới theo QS) và KAIST (khoảng thứ 50). Gần đây hơn, Trung Quốc đã đưa ĐH Bắc Kinh (khoảng thứ 14 thế giới) và ĐH Thanh Hoa (khoảng thứ 17) vào top 20 thế giới, trong khi giữa thập niên 1990 họ còn ở vị trí rất xa. Những thành công này không phải ngẫu nhiên mà dựa trên 3 trụ cột: đầu tư công và tư quy mô lớn, bền bỉ theo thời gian; cơ chế quản trị trao quyền tự chủ rộng rãi về học thuật và quản lý cho các trường ĐH; chiến lược chủ động thu hút nhân tài quốc tế.
Việc xây dựng các ĐH xuất sắc sẽ góp phần phục vụ những mục tiêu kinh tế cụ thể. Thứ nhất, giữ chân nhân tài. Khi những sinh viên giỏi nhất vẫn phải ra nước ngoài để tiếp cận đào tạo chất lượng cao, đất nước sẽ tiếp tục bị chảy máu chất xám. ĐH đạt chuẩn quốc tế sẽ giúp đào tạo tinh hoa ngay trong nước và thu hút chuyên gia VN từ nước ngoài trở về.
Thứ hai, đáp ứng nhu cầu lao động trình độ cao. Quá trình nâng cấp công nghiệp của VN (từ bán dẫn đến trí tuệ nhân tạo, từ điện hạt nhân đến năng lượng tái tạo) đòi hỏi đội ngũ kỹ sư và chuyên gia trình độ cao.
Kế đến là phát triển năng lực đổi mới sáng tạo nội sinh. VN hiện chỉ dành khoảng 0,5% GDP cho R&D (nghiên cứu và phát triển), so với gần 2,5% của Trung Quốc và gần 5% của Hàn Quốc. Điều này dẫn đến số lượng bằng sáng chế còn hạn chế và sự phụ thuộc công nghệ kéo dài.
Ngoài ra, còn nhằm thu hút FDI chất lượng cao. Samsung, Intel hay Apple chọn VN trước hết vì chi phí lao động thấp. Để thu hút các trung tâm R&D của họ, cần có nguồn nhân lực trình độ cao. ĐH xuất sắc là yếu tố quyết định trong lựa chọn địa điểm đầu tư FDI chất lượng.
Việc tích hợp các trường kỹ sư chất lượng cao vào các ĐH xuất sắc là một trong những giải pháp mang tính then chốt nhằm hỗ trợ chiến lược xây dựng các ĐH có danh tiếng toàn cầu. Hiện nay, hệ thống giáo dục VN vẫn duy trì sự tách biệt tương đối giữa các trường ĐH và các cơ sở đào tạo chuyên ngành, điều này dẫn đến phân tán nguồn lực và hạn chế khả năng tạo ra các hiệu ứng cộng hưởng.
Việc tích hợp, tương tự mô hình của MIT tại Mỹ hay các trường lớn Grandes Écoles tại Pháp sẽ cho phép tối ưu hóa việc sử dụng cơ sở hạ tầng có chi phí cao, như phòng thí nghiệm và trang thiết bị khoa học, đồng thời thúc đẩy tính liên ngành, một trong những yếu tố thiết yếu cho sự phát triển của các công nghệ mới nổi. Bên cạnh đó, cách tiếp cận này còn tạo điều kiện tập trung nguồn lực học thuật, chia sẻ và kết hợp chuyên môn, năng lực để xây dựng các trung tâm xuất sắc về khoa học và công nghệ có tầm vóc, uy tín.
Việc xây dựng các ĐH nghiên cứu xuất sắc vẫn chưa đủ, điều quan trọng là phải phát triển hệ sinh thái nghiên cứu toàn diện, gắn kết chặt chẽ với nhu cầu của nền kinh tế. Có thể kể ra các mô hình như dưới đây.
Các trung tâm nghiên cứu xuất sắc: Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán (VIASM) là ví dụ tốt; FTU Research Lab của Trường ĐH Ngoại thương mới khánh thành, nếu thành công, cũng là mô hình nên nhân rộng. Mỗi trung tâm nghiên cứu trong các trường ĐH cần được bảo đảm điều kiện làm việc đạt chuẩn quốc tế, đi kèm với nguồn tài chính ổn định nhằm duy trì tính liên tục và nâng cao chất lượng các chương trình nghiên cứu.
Cơ chế hợp tác đào tạo - nghiên cứu theo mô hình CIFRE (hợp đồng đào tạo nghiên cứu trong doanh nghiệp) của Pháp là ví dụ tiêu biểu về sự hợp tác hiệu quả giữa nhà trường và doanh nghiệp. VN hoàn toàn có thể điều chỉnh và áp dụng mô hình này phù hợp với bối cảnh trong nước, đặc biệt trong các ngành trọng điểm được ưu tiên đầu tư quy mô lớn, cũng như những lĩnh vực có sự hiện diện mạnh của các tập đoàn đa quốc gia như điện tử và bán dẫn.
Các trung tâm đổi mới sáng tạo và công nghệ: Kinh nghiệm từ Thung lũng Silicon (Mỹ) hay khu khoa học Hsinchu (Đài Loan) cho thấy tầm quan trọng của việc tập trung không gian địa lý giữa các trường ĐH, trung tâm nghiên cứu, phát triển R&D, và nguồn vốn đầu tư mạo hiểm. VN đã bước đầu triển khai định hướng này thông qua các khu công nghệ cao như Khu Công nghệ cao TP.HCM và Khu Công nghệ cao Hòa Lạc. Tuy nhiên, cần tiếp tục củng cố và tăng cường sự liên kết giữa các khu này với các ĐH nghiên cứu, nhằm hình thành những hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thực sự hiệu quả và bền vững.
Nếu hội đủ các điều kiện như đầu tư đúng trọng tâm và kéo dài, chính sách lương cạnh tranh, hội nhập quốc tế, VN có thể kỳ vọng có 1 - 2 ĐH trong top 300 thế giới vào giai đoạn 2045 - 2050.
Quỹ đạo phát triển này sẽ tương đương với Trung Quốc hoặc Singapore, sẽ giúp chuyển đổi sâu sắc nền kinh tế VN bằng cách thúc đẩy sự nâng cấp công nghiệp, giảm sự phụ thuộc vào công nghệ và tạo ra giá trị cao hơn nhiều trên mỗi lao động.
Trong một thế giới mà cạnh tranh kinh tế diễn ra trên lĩnh vực đổi mới và tri thức, việc sở hữu các trường ĐH đẳng cấp thế giới không còn là một sự xa xỉ mà là một điều kiện tiên quyết để tiến tới nhóm các quốc gia có thu nhập cao.
Song song, việc phát triển các năng lực công nghệ cốt lõi như trí tuệ nhân tạo, tự động hóa và kinh tế số đóng vai trò như một động lực chiến lược. Những sự đầu tư này tác động trực tiếp đến năng suất nhân tố tổng hợp (TFP), giúp nâng cao hiệu quả sản xuất vượt ra ngoài việc chỉ đơn thuần tích lũy vốn và lao động. Bằng cách thúc đẩy cải thiện TFP, VN có thể nâng tầm quỹ đạo tăng trưởng tiềm năng, củng cố năng lực tự chủ công nghệ và đổi mới sáng tạo nội sinh. Đây chính là nền tảng then chốt giúp VN chuyển đổi thành công mô hình tăng trưởng và phát huy tối đa các lợi thế của mình.