* Trong bối cảnh cần đẩy mạnh đào tạo nhân lực chất lượng cao, nhiều cơ sở đại học đã có nhiều nỗ lực đầu tư vào các ngành mạnh, tăng cường nghiên cứu khoa học, ứng dụng, hợp tác quốc tế nhưng đó vẫn là những nỗ lực đơn lẻ. Ở nhiệm kỳ của mình, ông có dự định gì trong việc đề xuất, triển khai để tạo cơ hội hình thành các trường/nhóm trường mạnh có sức cạnh tranh trong khu vực, quốc tế, đồng thời thúc đẩy việc đào tạo nhân lực chất lượng cao?
– Nghị quyết số 57 và số 71 của Bộ Chính trị đã mở ra một cơ hội chưa từng có cho hệ thống giáo dục nói chung và các cơ sở giáo dục đại học nói riêng với những chủ trương, quyết sách và cam kết nguồn lực đầu tư mạnh mẽ.
Nghị quyết 57 đã xác định các mục tiêu và nhiệm vụ, giải pháp cụ thể để phát triển một số cơ sở giáo dục đại học trọng điểm ngang tầm khu vực và thế giới, trở thành các trung tâm khoa học công nghệ và đào tạo nhân tài quốc gia, nhất là trong các lĩnh vực khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược.
Thực hiện các nghị quyết của Bộ Chính trị và Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng kế hoạch nhiệm vụ cụ thể, đồng thời tham mưu Chính phủ trình Quốc hội ban hành bốn văn bản luật và hai nghị quyết, trong đó có những cơ chế, chính sách đột phá và chương trình mục tiêu quốc gia.
Để cụ thể hóa các chủ trương thành hành động, giải pháp cụ thể, trong thời gian qua bộ đã chủ trì và cũng như phối hợp trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học, nhiều đề án phát triển các cơ sở giáo dục đại học trọng điểm, đề án và chương trình phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực trọng điểm.
Chương trình mục tiêu quốc gia về hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo cũng có một cấu phần quan trọng, đó là đầu tư trọng điểm cho khoảng 30 cơ sở giáo dục đại học, trong đó phấn đấu có ít nhất 8 đại học thuộc nhóm đầu khu vực châu Á. Hiện nay bộ cũng đang hoàn thiện trình Chính phủ một số nghị định về cơ chế tài chính, tự chủ đại học và chính sách học bổng cho giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp.
Như vậy có thể nói cơ sở chính trị, pháp lý với hệ thống cơ chế, chính sách và nguồn lực đã được thiết kế khá đầy đủ. Với tư cách là bộ trưởng, trong thời gian tới tôi sẽ tập trung chỉ đạo tổ chức thực hiện một cách quyết liệt và hiệu quả kế hoạch nhiệm vụ đã xác định, đồng thời kịp thời đề xuất các giải pháp phù hợp với thực tiễn thay đổi, đặc biệt chú trọng gắn kết giữa đào tạo nhân lực chất lượng cao với phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
* Hành trình giao tự chủ cho đại học đã có một bước tiến dài, tuy nhiên còn có nhiều vấn đề bất cập. Nhưng dường như giai đoạn vừa qua việc tự chủ mới chỉ là trông đợi vào đóng góp xã hội, tự chủ là trường tự lo, là càng xã hội hóa càng nhiều càng thành công. Quan điểm của ông về tự chủ đại học là như thế nào? Theo ông, việc gì cần cấp bách xử lý để thúc đẩy việc này?
– Trong thời gian 8 đến 10 năm trở lại đây, chính sách tự chủ đại học đã tạo ra một sự chuyển biến mạnh mẽ trong toàn hệ thống giáo dục đại học. Các cơ sở giáo dục đại học, cả công lập và tư thục, đã rất chủ động, nỗ lực huy động các nguồn lực, tăng cường năng lực, mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu.
Tuy nhiên để có năng lực cạnh tranh quốc tế và đáp ứng tốt yêu cầu nguồn nhân lực khoa học, công nghệ cho phát triển đất nước, những sự nỗ lực của riêng các cơ sở giáo dục đại học là không đủ khi nguồn thu chủ yếu dựa vào học phí và chính sách xã hội hóa.
Đây là một điểm nghẽn lớn đã được chỉ ra trong nghị quyết 71 của Bộ Chính trị: “quan niệm về tự chủ và xã hội hóa giáo dục chưa phù hợp; nguồn lực đầu tư cho giáo dục còn thấp, chính sách phân bổ và sử dụng nguồn lực chưa hiệu quả, cơ chế tài chính thiếu bền vững”.
Từ đó, nghị quyết 71 khẳng định “Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, lấy đầu tư công dẫn dắt, thu hút nguồn lực xã hội cho hiện đại hóa toàn diện hệ thống giáo dục quốc dân”, “Bảo đảm quyền tự chủ đầy đủ, toàn diện cho các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp không phụ thuộc vào mức độ tự chủ tài chính”.
Phần nhiệm vụ và giải pháp của nghị quyết cũng đã nêu rõ “…chi cho giáo dục đại học đạt ít nhất 3% tổng chi ngân sách nhà nước. Thống nhất chủ trương xây dựng và triển khai chương trình mục tiêu quốc gia mới về hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026-2035; ưu tiên đầu tư cho giáo dục đại học”.
Như vậy, quan điểm về tự chủ đại học và chủ trương tăng mạnh đầu tư cho giáo dục đại học đã được khẳng định rõ trong nghị quyết của Đảng. Nội dung này cũng đã được thể chế hóa trong Luật Giáo dục đại học và Luật Giáo dục nghề nghiệp mới được
Quốc hội ban hành cuối năm 2025. Vấn đề còn lại là quản trị thực thi, trong đó đặc biệt là phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư từ Nhà nước cũng như huy động nguồn lực từ xã hội.
* Ông từng bày tỏ quan điểm các trường tự chủ nhưng Nhà nước vẫn cấp kinh phí “đặt hàng” cơ sở đại học để triển khai các dự án mang tính trọng điểm. Nhưng trên thực tế vấn đề này vẫn đang gặp khó khăn. Theo ông, cần giải quyết những gì từ cơ chế và năng lực của các cơ sở đại học để hiện thực hóa được điều này?
– Chúng ta nói nhiều và kỳ vọng nhiều vào đổi mới cơ chế tài chính đại học thông qua “đặt hàng” các cơ sở giáo dục đại học. Tuy nhiên cơ chế đặt hàng đào tạo hiện nay mới được thực hiện ở phạm vi rất hẹp do một số vấn đề vướng mắc, chủ yếu xuất phát từ cách tiếp cận “đặt hàng theo đầu vào”.
Hiện nay Bộ Giáo dục và Đào tạo đang chủ trì xây dựng nghị định của Chính phủ có nội dung về cơ chế đặt hàng theo đầu ra. Theo đó, Nhà nước và doanh nghiệp sẽ đặt hàng và chi trả cơ sở đào tạo theo số người tốt nghiệp thực tế được nhận vào làm việc tại nơi làm việc và trong lĩnh vực theo nhu cầu đặt hàng.
Đối với nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, chúng ta cần phân biệt rõ giữa “tài trợ” và “đặt hàng”. Khác với tài trợ nghiên cứu khi mà sản phẩm đầu ra chủ yếu do nhóm nghiên cứu quyết định bảo đảm phù hợp với mục đích tài trợ, vấn đề mấu chốt đối với đặt hàng nghiên cứu và phát triển là cần xác định rõ yêu cầu kết quả đầu ra là gì và ai có nhu cầu cũng như trách nhiệm đặt hàng.
Cũng cần nhìn nhận sứ mạng và năng lực nghiên cứu của các cơ sở giáo dục đại học chủ yếu là để tạo ra tri thức và công nghệ mới. Nhiều kết quả nghiên cứu có thể chuyển hóa thành giải pháp và sản phẩm ứng dụng, mang lại giá trị thương mại trong thực tế, nhưng đó là một chặng đường dài và cần có sự tham gia, đồng hành và hợp tác chặt chẽ của doanh nghiệp.
Vì vậy Nhà nước cần tài trợ và đặt hàng đại học để nâng cao năng lực nghiên cứu, đồng thời tạo ra tri thức và công nghệ mới nhưng doanh nghiệp thì cần hợp tác với đại học để kết quả nghiên cứu được chuyển hóa thành sản phẩm và giải pháp thực tế.
Ngày 29-4, Đại học Kinh tế TP.HCM chính thức công bố thông tin tuyển sinh đại học chính quy năm 2026, với tổng chỉ tiêu gần 8.900 sinh viên cho hai cơ sở đào tạo tại TP.HCM và Vĩnh Long, theo phương thức xét tuyển tích hợp với 95% chỉ tiêu.
Năm nay điểm đáng chú ý nhất trong tuyển sinh đại học chính quy của Đại học Kinh tế TP.HCM là việc nhà trường khi điều chỉnh phương thức tuyển sinh, chuyển sang xét tuyển tích hợp làm chủ đạo.
Phương thức 1 - Xét tuyển thẳng theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo (5% chỉ tiêu). Đối tượng gồm: Anh hùng lao động/lực lượng vũ trang, chiến sĩ thi đua toàn quốc; thí sinh đoạt giải nhất - nhì - ba học sinh giỏi quốc gia/quốc tế (trong vòng 3 năm); thí sinh giải khoa học kỹ thuật quốc gia/quốc tế; người nước ngoài; du học sinh Việt Nam tốt nghiệp THPT nước ngoài; thí sinh dân tộc thiểu số rất ít người; thí sinh khuyết tật nặng.
Phương thức 2 - Xét tuyển tích hợp (95% chỉ tiêu) kết hợp điểm thi (tốt nghiệp THPT, đánh giá năng lực, V-SAT) và học bạ THPT.
Cách tính điểm xét tuyển được thiết kế riêng theo từng nhóm đối tượng, trong đó công thức chính với thí sinh học chương trình Việt Nam:
Điểm xét tuyển = Điểm thi x 60% + Điểm trung bình các năm học THPT x 40% + Điểm cộng (nếu có) + Điểm ưu tiên khu vực, đối tượng (nếu có)
Trong đó, điểm thi: xét 1 trong các kỳ thi có điểm quy đổi tương đương cao nhất (kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026, có kết quả các môn thi theo tổ hợp xét tuyển của nhà trường, hoặc kỳ thi đánh giá năng lực Đại học Quốc gia TP.HCM năm 2026, hoặc kỳ thi đánh giá đầu vào đại học trên máy tính V-SAT (áp dụng cho mã xét tuyển KSV).
Điểm trung bình (ĐTB) các năm học THPT = (ĐTB cả năm lớp 10x1 + ĐTB cả năm lớp 11x2 + ĐTB cả năm lớp 12x3)/6
Nhà trường cộng điểm cho thí sinh có giải học sinh giỏi, học trường chuyên hoặc có chứng chỉ tiếng Anh quốc tế.
Thí sinh cần theo dõi chi tiết quy đổi điểm và mốc xét tuyển sau khi có kết quả thi tốt nghiệp THPT 2026.
Năm 2026, Đại học Kinh tế TP.HCM dành 8.240 chỉ tiêu cơ sở TP.HCM, tại Vĩnh Long 650 chỉ tiêu; trong đó tất cả sinh viên tại Vĩnh Long đều luân chuyển học tập năm cuối tại TP.HCM.
Nhà trường tuyển sinh 82 chương trình tại TP.HCM và 15 chương trình tại Vĩnh Long, trải rộng trên 12 lĩnh vực như: kinh doanh và quản lý, luật, toán và thống kê, máy tính và công nghệ thông tin, công nghệ kỹ thuật ứng dụng, kiến trúc và xây dựng, du lịch - khách sạn, dịch vụ vận tải, nhân văn, khoa học xã hội và hành vi…
Đặc biệt nhà trường mở thêm 8 chương trình đào tạo mới gắn với chuyển đổi số và thị trường quốc tế, như: kinh tế chính trị quốc tế, công nghệ logistics (tích hợp chứng chỉ FIATA), sản xuất thông minh, AI for Business, kiến trúc và thiết kế đô thị thông minh, luật và luật thương mại quốc tế…
Đáng chú ý trường tăng mạnh các chương trình giảng dạy bằng tiếng Anh toàn phần và song bằng quốc tế, đồng thời giảm dần chỉ tiêu chương trình tiếng Việt.
Đại học Kinh tế TP.HCM áp dụng cơ chế học phí theo tín chỉ, tạo điều kiện để sinh viên chủ động lập kế hoạch tốt nghiệp sớm phù hợp với năng lực cá nhân.
Mức học phí tín chỉ khác nhau dựa trên các tiêu chí: chương trình đào tạo thuộc khối ngành nào, có kiểm định chất lượng quốc tế hay chưa, ngôn ngữ đào tạo, thời gian đào tạo và cơ sở đào tạo tại TP.HCM hay Vĩnh Long.
Mức học phí trung bình năm học 2026-2027 tại cơ sở TP.HCM: 40-50 triệu đồng/năm (chương trình tiếng Việt); 55-75 triệu đồng/năm (chương trình tiếng Anh); 70-80 triệu đồng/năm (song bằng, Co-op).
Học phí tại phân hiệu Vĩnh Long tương đương 60% học phí tại TP.HCM. Lộ trình điều chỉnh học phí hằng năm không quá 10%.
Năm 2026, nhà trường dành tổng ngân sách học bổng hàng chục tỉ đồng nhằm thu hút và hỗ trợ tân sinh viên xuất sắc, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn và sinh viên quốc tế, áp dụng tại cả hai cơ sở đào tạo TP.HCM và Vĩnh Long, gồm: 570 suất tại TP.HCM (tối đa 27 triệu đồng/suất); học bổng ưu tiên ngành công nghệ, kỹ thuật; hỗ trợ sinh viên khó khăn và sinh viên quốc tế (có thể miễn 100% học phí, hỗ trợ sinh hoạt phí).
Thông tin tuyển sinh Đại học Kinh tế TP.HCM xem chi tiết tại đây.
Mới đây, một nghiên cứu được công bố trên tạp chí khoa học uy tín Journal of Development Economics đã chỉ ra một hướng đi mới trong việc thu hẹp khoảng cách giới: Sử dụng sức mạnh của các hình mẫu (role models) ngay trong lớp học.
Công trình do các chuyên gia từ Đại học Bắc Kinh và Đại học Chiết Giang (Trung Quốc) thực hiện cho thấy những “nữ sinh nhà người ta” không hẳn là nguyên nhân tạo áp lực, mà ngược lại, có thể trở thành động lực giúp nhiều bạn nữ khác nỗ lực vươn lên.
Dựa trên dữ liệu của hơn 3.700 học sinh lớp 7 tại Trung Quốc, nhóm nghiên cứu theo dõi kết quả học tập của các em trong vòng một năm sau kỳ thi chuẩn hóa đầu tiên. Kết quả cho thấy, ở những lớp có nữ sinh đạt thành tích nổi bật, kết quả học tập của các bạn nữ còn lại cũng được cải thiện đáng kể.
Đáng chú ý, tác động này thể hiện rõ nhất ở nhóm học sinh có học lực trung bình yếu hoặc xuất thân từ các gia đình nông thôn còn nhiều khó khăn về kinh tế. Thay vì tạo ra tâm lý ganh đua tiêu cực, sự hiện diện của những học sinh xuất sắc giúp nhiều bạn nữ xóa bỏ mặc cảm tự ti, đồng thời củng cố niềm tin vào khả năng của bản thân.
Theo nhóm nghiên cứu, yếu tố tạo nên thay đổi không nằm ở áp lực cạnh tranh điểm số, mà đến từ hiệu ứng truyền cảm hứng của các hình mẫu tích cực.
Nghiên cứu cũng chỉ ra một “mắt xích” quan trọng khác là sự thay đổi trong tư duy của phụ huynh. Khi chứng kiến các nữ sinh trong lớp đạt thành tích cao, nhiều cha mẹ bắt đầu đặt kỳ vọng lớn hơn vào con gái, đồng thời sẵn sàng đầu tư nhiều hơn cho việc học, từ hỗ trợ bài tập, động viên tinh thần đến định hướng nghề nghiệp lâu dài.
Phát hiện này đặc biệt có ý nghĩa trong các lĩnh vực STEM - gồm khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học - nơi tỷ lệ nữ giới vẫn còn thấp do thiếu vắng những hình mẫu tiêu biểu để các em noi theo.
Từ những năm 2000, Trung Quốc dần hạn chế việc công khai bảng xếp hạng học tập nhằm giảm áp lực cho học sinh. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cho rằng điều này cũng có thể tạo ra một sự “đánh đổi”, khi học sinh nữ ít có cơ hội nhìn thấy những hình mẫu thành công ngay trong môi trường học tập của mình.
Từ kết quả nghiên cứu, các chuyên gia cho rằng giáo dục cần một cách tiếp cận nhân văn hơn: thay vì chỉ tập trung vào điểm số, nhà trường nên chú trọng xây dựng và lan tỏa các hình mẫu tích cực. Đây được xem là hướng đi bền vững để thúc đẩy bình đẳng giới và giúp các nữ sinh tự tin theo đuổi hành trình phát triển của riêng mình ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.
Theo dữ liệu từ Bộ Nội vụ Australia, gần 4.800 sinh viên nộp hồ sơ xin thị thực từ nước ngoài bị từ chối trong tháng 3, tỷ lệ cao nhất trong 20 năm. Hầu hết mất trắng khoản phí không hoàn lại 2.000 AUD (1.400 USD). Mức này vốn tăng vọt từ 710 AUD cách đây gần hai năm.
Tổng cộng, chính phủ thu về gần 65 triệu AUD (gần 47 triệu USD) phí visa du học trong tháng này. Nguồn thu đang lớn dần đến mức có thể tài trợ cho hoạt động của những cơ quan nhà nước khác như Cục Khí tượng hay Tổng cục Thống kê.
Keri Ramirez, Giám đốc điều hành công ty tư vấn Studymove, tính toán phí visa từ sinh viên và người phụ thuộc đã mang về cho Australia khoảng 735 triệu AUD trong năm ngoái, tăng mạnh so với mức 244 triệu AUD năm 2018. Riêng nhóm sinh viên đại học đóng góp 469 triệu AUD vào năm 2024, gấp gần 4 lần so với 6 năm trước.
Việc giới chức vừa nâng rào cản kỹ thuật để siết visa du học, khiến tỷ lệ trượt lên cao, vừa tăng mạnh phí hồ sơ không hoàn lại, gây tranh cãi về mặt đạo đức.
Nguyên Thứ trưởng Bộ Di trú Australia - Abul Rizvi, gọi đây là "chính sách tồi tệ", khi một quốc gia giàu có thu lợi hàng triệu USD từ giấc mơ của người trẻ, xuất thân từ những nước có thu nhập trung bình.
Theo ông Keri Ramirez, nhiều nước chỉ thu phí ở những bước cuối, khi mà du học sinh chắc chắn sẽ được cấp visa.
Tỷ lệ đỗ visa du học Australia trong tháng 3 vừa qua chỉ khoảng 59%, trong khi hơn 20 năm nay, con số này đều trên 73%, nhiều chuyên gia đánh giá là bất thường. Ông Rizvi nhận định các nhân viên di trú đang khắt khe hơn khi yêu cầu ứng viên chứng minh tài chính cho toàn bộ thời gian học, thay vì chỉ năm đầu tiên.
Hai năm nay, Australia liên tục siết thị thực du học, nhằm kiểm soát lượng người nhập cư, sau giai đoạn bùng nổ với gần 1,1 triệu sinh viên quốc tế năm 2024.
Thời gian ở lại làm việc của du học sinh sau tốt nghiệp bị rút từ 4-6 năm xuống còn 2-3 năm, mức chứng minh tài chính lên 29.710 AUD, cao hơn 20% so với trước đây. Các loại phí xin visa du học, việc làm sau tốt nghiệp (485) cũng tăng chóng mặt.