Giữa trưa, bà Nguyễn Thị Phúc, 67 tuổi, cùng nhiều người mang xô chậu ra trước nhà, chắt chiu từng giọt nước từ đường ống dẫn từ ga Diêu Trì. Sau gần nửa giờ, những hộ ở đầu xóm chỉ hứng được nửa xô, đủ nấu ăn.
Theo bà Phúc, người dân mua nước từ ga với giá 5.000 đồng mỗi m3, nhưng hai năm nay nguồn cấp chập chờn, thường xuyên bị cắt, đặc biệt vào mùa khô. Cả xóm có ba giếng nhưng đều cạn nước. Nhiều hộ phải mua nước can giá 3.000-5.000 đồng, còn quần áo phải mang đi giặt thuê.
“Có khi 3-4h sáng mới có nước, người dân phải thức cả đêm chờ”, bà nói, thêm rằng nước bị nhiễm phèn nặng khiến quần áo ố vàng, thiết bị gia dụng nhanh hỏng.
Cách đó vài chục mét, ông Hà Văn Tâm, 72 tuổi, cho biết khu dân cư hình thành từ các hộ cán bộ, công nhân ngành đường sắt từ năm 1978. Khu này từng do ngành đường sắt quản lý, sau đó bàn giao về địa phương, nhưng nhiều vấn đề hạ tầng chưa được giải quyết dứt điểm.
Theo ông Tâm, do nằm trong khu vực có nguy cơ sạt lở núi, chính quyền từng đề xuất di dời, tái định cư. Tuy nhiên, kế hoạch kéo dài nhiều năm khiến người dân rơi vào tình trạng “bị bỏ quên”, thiếu điện, nước và các điều kiện sinh hoạt cơ bản.
Không có nguồn nước ổn định, khoảng 50 hộ gia đình ở thôn Vân Hội 2 không thể sử dụng máy giặt, máy lọc nước.
Bà Nguyễn Thị Bích Phượng, Phó chủ tịch UBND xã Tuy Phước, cho biết trước đây địa phương đã đầu tư hệ thống cấp nước cho các khu lân cận. Tuy nhiên, riêng thôn Vân Hội 2 gặp vướng mắc do hệ thống đường sắt chia cắt, chưa thể đấu nối trực tiếp; phương án đi vòng phát sinh chi phí lớn nên chưa triển khai.
Sau khi sáp nhập, xã đang làm việc với các đơn vị liên quan, trong đó có công ty cấp nước, để tìm hướng tháo gỡ.
Bà Lê Thị Vinh Hương, Bí thư Đảng ủy xã, cho biết vướng mắc kéo dài do yếu tố lịch sử qua nhiều giai đoạn quản lý. Chính quyền sẽ kiểm tra thực tế để đưa ra giải pháp, đảm bảo nguồn nước sinh hoạt cho người dân.
Tin Gốc: Vnexpress

Khoảng 10h, 7 phụ nữ gồm nhân viên và khách hàng đi thang máy từ tầng trệt lên các tầng trên thì hệ thống điện bất ngờ bị ngắt. Cabin dừng giữa tầng 2 và 3, cửa không thể mở.
Mắc kẹt trong không gian hẹp, thiếu oxy, nhiều người khó thở, kêu cứu ra bên ngoài. Do không có thiết bị hỗ trợ, nhóm này đã gọi cơ quan chức năng.
6 chiến sĩ cứu nạn cứu hộ thuộc đội Cảnh sát PCCC khu vực 15, cách hiện trường khoảng 2 km, nhanh chóng có mặt. Các cảnh sát trấn an nạn nhân, dùng thiết bị đưa cabin lên tầng 3 rồi phá cửa, giải cứu 7 người an toàn. Một số người còn hoảng sợ nhưng không ảnh hưởng sức khỏe.
Theo cảnh sát, khi bị kẹt trong thang máy, người dân cần giữ bình tĩnh, bấm nút khẩn cấp để yêu cầu hỗ trợ. Người mắc kẹt có thể chèn cửa tạo khe thoáng bổ sung oxy, không tự thoát qua cửa nóc thang máy.
Tin Gốc: Vnexpress

Đê biển Tây ở An Giang dài 200km từ Hà Tiên chạy dài đến Cà Mau được ví như "bức tường thành kiên cố" để chống xâm thực, xói mòn đất, sạt lở, đảm bảo đời sống cho hàng ngàn người dân ở vùng ven biển.
Nhưng trong mùa hạn mặn khốc liệt 2026, nhắc về đê biển trên, nhiều người dân đã lắc đầu ngao ngán. Ông Nguyễn Văn Bờ - người dân sống ở ấp Mương Đào A (xã Vân Khánh, tỉnh An Giang) - cho biết: "Đê biển Tây ở khúc này có đoạn bị bể đứt hết rồi. Cống ngăn mặn được đầu tư hoành tráng nhưng chưa có điện để vận hành".
Ông Bờ kể cách đây 4 năm, khi đê biển Tây (đoạn qua xã Vân Khánh) chưa bị sạt lở bể đứt từng đoạn, ông và người dân địa phương rất yên tâm làm một vụ lúa và một vụ nuôi tôm sú kết hợp thả cua biển xen canh trên đồng ruộng.
Lúa làm lúc nào cũng đạt năng suất ổn định nên gia đình ông Bờ không lo cái ăn. Vụ tôm thả nuôi xen cua biển rất hiệu quả nên cuộc sống dư giả. Năm 2026 này hạn mặn khốc liệt, nắng gắt nên mặn xâm nhập sâu. Do đó 20 công đất của gia đình ông Bờ nuôi tôm, cua biển chậm lớn, thất thoát và không hiệu quả.
"Đê bị bể khoảng 500m, cống không đóng được, 20 công đất của tôi thì để đó. Nắng gắt kiểu này, nồng độ mặn trong vuông tôm của gia đình tôi mấy ngày qua ở mức 20 - 30‰ nên tôm lớn hông nổi. Tôi không hiểu sao có kè chắn sóng mà đê biển Tây vẫn bể?", ông Bờ than.
Dù mấy ngày qua ở vùng miệt thứ An Biên, An Minh và xã Vân Khánh có mưa trái mùa xuất hiện nhưng không đủ để làm giải tỏa được cơn nóng và xâm nhập mặn.
Nước trong các con kênh, người dân địa phương có lúc đo độ mặn đạt 40‰ cao vượt ngưỡng. Đặc biệt những lúc thủy triều rút, các con kênh nội đồng ở khu vực ấp Mương Đào A xuống nhanh và lòi bùn non hai bên bờ.
"Bây giờ muốn vận hành cống phải dùng máy phát điện, chi phí đội lên rất cao. Địa phương đầu tư hệ thống điện để vận hành thì bị vướng một đoạn chưa làm xong", ông Phan Trọng Thu, người dân ở xã Vân Khánh, buồn nói.
Tại Cà Mau, nhiều hộ dân ở xã U Minh vẫn ngày ngày đối mặt với gió giật, sóng lớn và nỗi lo mất đất, mất nhà. Dù đã có những công trình kè gia cố, nhiều đoạn đê vẫn "mong manh" trước thiên tai, đặc biệt khi mùa mưa bão cận kề.
UBND xã Vân Khánh xác nhận đoạn đê quốc phòng khu vực Kim Qui B (ấp Kim Qui B) bị sạt lở, bể đứt khoảng 500m, đe dọa trực tiếp đến người dân nuôi tôm ở địa phương. Đê bị bể còn làm ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh, lưu thông hàng hóa của người dân.
"Do chịu sự tác động của biến đổi khí hậu, mưa bão và sóng đánh nhiều, dòng chảy thay đổi nên đê biển bị ảnh hưởng, sạt lở nghiêm trọng.
Còn hai cống ven biển ở địa phương chưa vận hành được vì chưa có điện. Xã đã có báo cáo, có tờ trình kiến nghị cấp thẩm quyền vào cuộc sửa chữa để người dân yên tâm sản xuất", ông Phan Hữu Phước, Trưởng Phòng Kinh tế xã Vân Khánh, nói.
Chi Cục Thủy lợi tỉnh An Giang cho biết đoạn đê biển từ Kim Qui B đến Mương Đào (xã Vân Khánh) được đắp bằng đất, dài khoảng 5km. Do diện tích rừng ven biển bị sạt lở nghiêm trọng nên một số đoạn đê trên bị mất đất, gãy đứt ngang.
Dù có khắc phục, có rọ đá gia cố nhưng đê vẫn bị sạt lở vì đất rừng phòng hộ bị xói mòn nhiều. Chi cục Thủy lợi tỉnh An Giang đã đi khảo sát và trình UBND tỉnh xin chủ trương xử lý bằng việc giao đơn vị liên quan đánh giá sóng, gây bồi, tạo bãi, tiến hành hàn khâu đê biển bị sạt lở; gia cố rọ đá chân đê cao trình 2m, đắp đất phục hồi thân đê với chiều dài khoảng 1,5km, kinh phí dự kiến thực hiện hơn 13,5 tỉ đồng.
Đến nay Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang đã trình Sở Tài chính thẩm định báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư dự án "xử lý khép kín, hoàn thiện sạt lở vùng ven biển An Biên - An Minh".
"Do còn vướng đất rừng nên đường điện 3 pha để vận hành cống đoạn qua xã Vân Khánh chưa hoàn thành", ông Nguyễn Văn Tư, Giám đốc Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh An Giang, thông tin.
Trong khi đó Cà Mau là địa phương duy nhất trong cả nước có cả hai mặt giáp Biển Đông và biển Tây. Lợi thế này từng giúp hình thành hệ sinh thái rừng ngập mặn đặc trưng, với quy luật tự nhiên "mắm trước, đước sau, tràm theo sát".
Tuy nhiên do tác động của biến đổi khí hậu, lượng phù sa suy giảm, diễn biến bồi tụ không còn như trước. Khu vực bờ biển Tây bắt đầu chuyển từ bồi sang xói lở, buộc hệ thống đê phải "oằn mình" chống đỡ.
Trước thực trạng này, tỉnh Cà Mau đã đề ra nhiều giải pháp nhằm bảo vệ tuyến đê biển Tây, gồm: có kế hoạch xây dựng thêm 19km đê từ Cái Đôi Vàm đến Kênh Năm, kết hợp gây bồi, tạo bãi và trồng mới hơn 2.000ha rừng phòng hộ ven biển; làm các dự án kè giảm sóng, chống xói lở với tổng chiều dài hơn 11km, nhằm phục hồi đai rừng ngập mặn và bảo vệ khu dân cư ven biển...
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Thời Sự
Bữa cơm đoàn tụ sau ngày đất nước thống nhất của gia đình tướng Ba Quốc

Giữa những ngày tháng tư lịch sử, khi ký ức về một thời hoa lửa ùa về trong lòng nhiều thế hệ, câu chuyện về thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Đặng Trần Đức (bí danh Ba Quốc) không chỉ là huyền thoại tình báo, mà còn là bản hùng ca về sự thủy chung và hy sinh thầm lặng.
Suốt 21 năm hoạt động trong lòng địch tại Sài Gòn, tướng Đặng Trần Đức cắt đứt liên hệ với gia đình để sống với thân phận khác, nhưng người vợ lặng lẽ chờ đợi, giữ trọn niềm tin trong những năm tháng chia ly.
Và rồi, khoảnh khắc cả gia đình đoàn tụ trong căn nhà nhỏ ở khu tập thể Kim Liên (Hà Nội) vào trưa 1.5.1975 đã trở thành một dấu mốc không thể nào quên đối với mỗi thành viên trong gia đình, khép lại hơn 2 thập kỷ phải sống trong "bóng tối" và nghi kỵ.
Sau hơn nửa thế kỷ, bà Đặng Chính Giang (78 tuổi, con gái cả của tướng Ba Quốc) vẫn nhớ như in buổi đoàn tụ hôm đó, bà kể rành rọt từng chi tiết như vừa mới xảy ra hôm qua.
Trò chuyện với Thanh Niên, bà Giang cho biết, sau khi nghe tin đất nước thống nhất qua loa phát thanh, sáng 1.5.1975, bà mang tem, phiếu ra chợ Tó (Đông Anh, Hà Nội) xếp hàng mua thịt để làm một bữa nem thật ngon vì nghĩ thế nào em trai mình cũng tranh thủ về nhà.
Vừa từ chợ về tới nhà, bà Giang gặp chú ruột đạp xe sang báo tin cho mẹ rằng "Anh cả (cụ Ba Quốc) đã về!" và đang ở nhà bố đẻ tại khu tập thể Kim Liên. Nghe tin bất ngờ, bà Giang cùng mẹ và 2 con bỏ lại mọi thứ, đi tàu từ Đông Anh về ga Hàng Cỏ, rồi đi bộ vào khu tập thể Kim Liên trong trạng thái hồi hộp.
11 giờ trưa, khi tất cả đến cầu thang tầng 1 khu tập thể thì gặp ông Thành (em trai bà Giang) đã đứng sẵn ở đó. Ông Thành hỏi cụ Thanh: "Mẹ ơi! Mẹ lên mà xem, người ta bảo bố con đấy, không biết có phải không?". Sở dĩ ông Thành cần xác nhận của mẹ bởi khi cụ Ba Quốc vào Nam thì cụ Thanh đang mang thai ông.
Trong ký ức của bà Giang, đây là cuộc gặp rất đặc biệt, tướng Ba Quốc trở về trong bộ quân phục, gương mặt nghiêm nghị, ít lời như vẫn còn mang theo kỷ luật của những năm tháng hoạt động bí mật. Khi gặp bố đẻ mình, thiếu tướng Ba Quốc cất lời: "Con chào thầy!", khiến ông sững người, rơi cả bó đũa đang cầm trên tay xuống nền. Ông nội ôm lấy tướng Ba Quốc rồi phát mạnh vào vai vì quá vui mừng, tưởng con trai mình biệt tích hơn 20 năm đã không còn.
Đặc biệt, bà Giang cũng nhớ như in từng lời nói, hành động của mẹ mình lúc đó. Bà kể, cụ Thanh chỉ bình thản gật đầu nhìn chồng, cụ Ba Quốc cũng ngước lên rồi lại cúi xuống nhìn cốc nước. Sau đó, cụ Thanh nói con gái đưa 2 cháu đến chào ông ngoại.
Bữa cơm đoàn tụ đầu tiên của gia đình bà Giang diễn ra trong sự vội vã. Cụ Ba Quốc kéo con gái ra hành lang, dúi vội ít tiền, bảo đi mua chợ mua đồ về làm cơm đãi họ hàng. Do không quen chợ búa tại Hà Nội, bà Giang phải nhờ người người thân đưa lên tận Cửa Nam để mua gà và rau để làm 2 mâm cơm.
Mâm cơm hôm ấy có thịt gà, có rau, có thêm bánh cuốn của em cụ Ba Quốc mang từ quê lên rất giản dị, ấm áp và thiêng liêng. Hai vợ chồng cụ Ba Quốc ngồi đối diện, không nói với nhau được gì vì họ hàng ai cũng hỏi chuyện cụ Ba Quốc. Phải đến tối, khi mọi người đã vãn, hai cụ mới có một khoảng lặng riêng.
Chưa đầy 2 ngày ở nhà, có người trong đơn vị ra báo tin cụ Ba Quốc phải vào Nam gấp. Cụ nói với vợ vào và sẽ thu xếp công việc ra sớm với gia đình. Tuy nhiên, phải hơn 1 năm sau cụ mới trở lại với con cháu.
Theo bà Giang, để có được bữa cơm đoàn tụ ngày 1.5.1975 ấy, gia đình bà đã phải trải qua 21 năm sống trong "bóng tối" và sự nghi kỵ.
Ngược lại thời gian, bà Giang kể, sau hiệp định Geneva năm 1954, tổ chức yêu cầu cụ Ba Quốc đi theo con đường của địch vào hoạt động tại Sài Gòn.
Để xây dựng một lý lịch hoàn hảo nhằm thâm nhập sâu vào chính quyền Sài Gòn, cụ buộc phải xóa sạch dấu vết cũ và tạo dựng một "vỏ bọc" mới bằng một đám cưới thật với cụ Ngô Thị Xuân (con gái của Trưởng ty cảnh sát Bắc Ninh). Tổ chức đã xin ý kiến cụ Thanh, nếu cụ đồng ý thì mới làm đám cưới đó.
Sau 1 đêm thức trắng suy nghĩ, cụ Thanh nén lòng đồng ý để chồng đi thực hiện trọng trách với Tổ quốc.
Tại Sài Gòn, cụ Ba Quốc lấy tên là Nguyễn Văn Tá, thâm nhập vào tận vào Phủ tổng thống ngụy quyền Sài Gòn. Với tính cách hiền lành, ít nói, cụ được đồng nghiệp gọi là "Tá Bụt".
Trong khi đó, ở miền Bắc, cụ Thanh và hai con phải đối mặt với thực tế nghiệt ngã của một gia đình có người thân "theo giặc". Từ một người con gái Hà Nội yếu đuối, cụ Thanh phải làm đủ nghề từ nhặt chè khô, gánh gạch, gánh cát thuê đến nấu ăn cho công nhân để nuôi con. Năm 1959, để đảm bảo an toàn cho hoạt động của cụ Ba Quốc, tổ chức đưa ba mẹ con lên nông trường chè Vân Lĩnh (Phú Thọ).
Cuộc sống của họ ở nông trường vô cùng cơ cực với đồng lương ít ỏi 35 đồng mỗi tháng và tiêu chuẩn 10 kg gạo. Khoảng thời gian khó khăn nhất là những năm 1965 - 1967, khi đơn vị thông báo cụ Ba Quốc "mất liên lạc" và cắt mọi khoản trợ cấp. Bà Giang khi đó mới 15 tuổi đã phải vừa đi học, vừa đi hái chè thuê, vừa dạy lớp vỡ lòng để kiếm thêm 17 đồng mỗi tháng giúp mẹ.
Nỗi đau không chỉ dừng lại ở cái đói, mà còn là sự kỳ thị của xã hội. Cụ Thanh thường xuyên bị đưa ra họp phụ nữ để chất vấn về việc nuôi con một mình mà không có tin tức chồng. Bà Giang cũng bị phân biệt đối xử, không được ưu tiên mua sách giáo khoa vì lý lịch "có bố vào Nam". Thậm chí, vì quá thiếu thốn, hai mẹ con phải thay nhau mặc chung một chiếc quần lành lặn để đi làm và đi học.
Cụ Ba Quốc, cụ Xuân cùng các cháu tại TP.HCM
Trong khi cụ Thanh chịu đựng tủi nhục ở miền Bắc, thì tại miền Nam, cụ Ngô Thị Xuân, người vợ thứ hai cũng lặng lẽ che chở cho cụ Ba Quốc ngay trong lòng địch. Ban đầu không biết chồng là tình báo, nhưng bằng sự nhạy cảm, cụ Xuân dần nhận ra những bất thường và lặng lẽ gánh vác hậu phương.
Đặc biệt, cụ Xuân đã cùng con trai Đặng Trần Vũ chịu đựng sự tra tấn, hỏi cung khốc liệt suốt 4 tháng khi đường dây của cụ Ba Quốc bị lộ năm 1974 nhưng không hề hé môi, bảo vệ an toàn cho mạng lưới đến ngày thắng lợi.
Sau năm 1975, sự thật về cuộc đời của cụ Ba Quốc được hé mở. Thay vì trách móc, cả hai người phụ nữ đã tìm thấy sự đồng cảm sâu sắc dành cho nhau. Năm 1981, cụ Xuân ra Bắc thăm gia đình cụ Thanh. Cuộc gặp gỡ diễn ra hài hòa như hai chị em ruột thịt, họ cùng nhau tâm sự về những món ăn cụ Ba Quốc yêu thích và những năm tháng gian truân đã qua.
Các con của cụ Thanh gọi cụ Xuân là "mợ", còn con cụ Xuân gọi cụ Thanh là "mẹ cả". Sự bao dung ấy đã kết nối hai gia đình Nam - Bắc thành một khối thống nhất.
Những năm cuối đời, cụ Thanh yếu dần, mắt mờ, cụ Ba Quốc luôn bên cạnh. Ngày cụ Thanh mất, cụ Ba Quốc đã khóc rất nhiều. Năm 2004, cụ Ba Quốc qua đời, cụ Xuân mất năm 2006.
"Sinh thời, bố tôi rất thích ăn đậu phụ luộc, lạc rang và cá trê nướng nên trong mâm cơm ngày giỗ bố bắt buộc phải có", bà Giang nói và cho hay, trong các ngày giỗ chạp của bố mẹ và mợ nếu không vướng công tác bà và anh em cả trong Nam lẫn ngoài Bắc đều cố gắng về đông đủ.
Tin Gốc: Thanh Niên

