Lúc 8 giờ 32 hôm nay 22.4, giá mua vào và bán ra mỗi lượng vàng miếng SJC được Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết ở mức 167,2 – 169,7 triệu đồng, giảm 900.000 đồng so với chốt ngày 21.4.
So với mức giá đầu ngày 1.4 (175 – 178 triệu đồng/lượng) và mức giá cao nhất từ tháng 3 tới nay ghi nhận ngày 2.3 (187,9 – 190,9 triệu đồng/lượng), giá mỗi lượng vàng miếng SJC lần lượt giảm 7,8 – 8,3 triệu đồng và 20,7 – 21,2 triệu đồng.
Khoảng 8 giờ 35, các doanh nghiệp khác như Công ty Vàng bạc đá quý Phú Quý, Công ty Vàng bạc đá quý Bảo Tín Mạnh Hải… cũng lập tức điều chỉnh giảm giá vàng.
Phú Quý niêm yết giá nhẫn tròn và vàng rồng 1 lượng ở mức: 166,7 – 169,7 triệu đồng/lượng, giảm 900.000 đồng.
Bảo Tín Mạnh Hải mua vào và bán ra nhẫn tròn ép vỉ Kim Gia Bảo và đồng vàng Kim Gia Bảo hoa sen đều ở mức: 167,2 – 169,7 triệu đồng/lượng, giảm 400.000 – 600.000 đồng…
Giá vàng trong nước hiện cao hơn giá vàng thế giới gần 19 triệu đồng/lượng.
Sáng nay 22.4, giá bạc cũng giảm so với chốt ngày 21.4. Lúc 8 giờ 44, Công ty cổ phần kim loại quý Ancarat Việt Nam niêm yết giá mua vào và bán ra mỗi 1 kg là 77,573 – 79,973 triệu đồng, giảm 1,28 – 1,33 triệu đồng.
Tại thời điểm 8 giờ 48, Công ty Vàng bạc đá quý Phú Quý niêm yết mua vào và bán ra bạc 1 kg là 77,786 – 80,186 triệu đồng, giảm 1,01 – 1,04 triệu đồng.
Lúc 8 giờ 48, Tập đoàn Vàng bạc đá quý DOJI niêm yết giá mua vào và bán ra bạc 5 lượng là 14,635 – 15,135 triệu đồng, giảm 190.000 – 195.000 đồng.
So với mức giá cao nhất từ tháng 3 tới nay ghi nhận ngày 2.3 (bán ra gần 99 triệu đồng/kg), giá mỗi kg bạc đã giảm hơn 18 triệu đồng.
Trên thị trường thế giới, giá vàng giao ngay tại thời điểm 8 giờ 57 (giờ Việt Nam) hôm nay là 4.753,2 USD/ounce, tăng 34,1 USD/ounce (tương đương 0,72%); giá bạc giao ngay là 77,54 USD/ounce, tăng 1 USD/ounce (tương đương 1,3%) so với chốt phiên hôm qua.
Tin Gốc: Thanh Niên
Kinh Tế
Quốc hội giao mục tiêu GDP tăng từ 10% mỗi năm, khoán chỉ tiêu từng địa phương

Trong Nghị quyết, Quốc hội đã thông qua mục tiêu tổng quát, trong đó phát triển nhanh, bền vững đất nước; phấn đấu tăng trưởng GDP bình quân đạt từ 10%/năm trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn. Cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống Nhân dân, phấn đấu GDP bình quân đầu người đến năm 2030 là 8.500 USD.
Thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030, trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, thuộc nhóm 30 nền kinh tế có quy mô GDP hàng đầu thế giới. 2 triệu doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế đến năm 2030. 20 doanh nghiệp lớn tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu đến năm 2030…
Để đạt được các mục tiêu tăng trưởng trên, Quốc hội yêu cầu chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng mới lấy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính.
Tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại các ngành kinh tế, tập trung phát triển năng lực sản xuất; thúc đẩy và làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống từ đầu tư, tiêu dùng, xuất khẩu và phát triển mạnh mẽ các ngành, lĩnh vực, mô hình kinh tế mới.
Chú trọng phát triển các tập đoàn kinh tế, tổng công ty, doanh nghiệp lớn có năng lực cạnh tranh khu vực và toàn cầu. Thu hút có chọn lọc các dự án đầu tư nước ngoài; đổi mới chính sách thu hút FDI theo hướng chuyển từ trọng tâm ưu đãi thuế sang các chính sách ưu đãi khác, áp dụng ưu đãi sau - ưu đãi theo kết quả.
Quốc hội cũng yêu cầu thúc đẩy tăng trưởng gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn. Trong đó bảo đảm cung ứng vốn cho nền kinh tế thực hiện mục tiêu tăng trưởng "2 con số" gắn với kiểm soát lạm phát, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô.
"Nâng cao năng lực dự báo, chủ động phòng ngừa, kiên quyết không để xảy ra khủng hoảng kinh tế trong mọi tình huống", Nghị quyết nêu.
Quốc hội nhấn mạnh viêc ưu tiên phát triển thị trường vốn trong nước làm kênh huy động vốn dài hạn, giảm sự phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng.
Triển khai các giải pháp để nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia, nâng hạng thị trường chứng khoán. Ban hành các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để phát huy hiệu quả hoạt động của Trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do trong việc thu hút các dòng vốn đầu tư gián tiếp, các quỹ đầu tư quốc tế. Mở rộng tỉ lệ sở hữu nước ngoài tại các ngành nghề không ảnh hưởng đến an ninh quốc gia.
Yêu cầu hiện đại hoá hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng, đẩy mạnh việc xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, sở hữu chéo, nâng cao chất lượng, hiệu quả tín dụng, giữ vững ổn định, an toàn hệ thống.
Tăng vốn điều lệ cho các ngân hàng thương mại nhà nước từ các nguồn: Lợi nhuận sau thuế và trích lập các quỹ, phát hành cổ phiếu, ngân sách nhà nước… theo quy định của pháp luật và phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quốc tế.
Phát triển lành mạnh và đa dạng hoá các nguồn vốn, tăng cường khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp trong nước, ưu tiên doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, kinh tế tập thể.
Quốc hội cũng yêu cầu tập trung đầu tư các tuyến đường bộ cao tốc theo quy hoạch, các cảng biển cửa ngõ kết hợp trung chuyển quốc tế, các cảng hàng không lớn, tuyến đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam, các tuyến đường sắt kết nối quốc tế, đường sắt đô thị; đến năm 2030 đưa vào sử dụng trên 5.000 km đường bộ cao tốc.
Xây dựng các tuyến giao thông trọng yếu kết nối liên vùng, kết nối các cảng biển, cảng hàng không và cửa khẩu quốc tế lớn. Phát triển hạ tầng năng lượng đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế cao, bảo đảm an ninh năng lượng.
Hình thành các cực tăng trưởng mạnh, các vùng kinh tế trọng điểm, các đô thị, các đặc khu kinh tế thế hệ mới ngang tầm khu vực và toàn cầu. Đẩy mạnh liên kết vùng, nội vùng, mở rộng và tổ chức lại không gian phát triển phù hợp với hệ thống hành chính mới. Đẩy nhanh tốc độ, nâng cao chất lượng đô thị hoá.
Nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác và sử dụng đất đai, tài nguyên, khoáng sản quan trọng, nhất là tài nguyên biển, đất hiếm. Phát triển và vận hành hiệu quả các thị trường bất động sản, quyền sử dụng đất, khoáng sản, năng lượng.
Quốc hội yêu cầu thống nhất tư duy, nhận thức, khát vọng và hành động; đổi mới quản trị thực thi để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế "2 con số". Trong đó, xác định tầm quan trọng và yêu cầu chiến lược, cấp bách thực hiện mục tiêu tăng trưởng "2 con số" gắn với ổn định vĩ mô, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân.
"Xác định đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, phải cụ thể hoá trong các chương trình, kế hoạch công tác hằng năm, có nhiệm vụ, kết quả, sản phẩm cụ thể cho từng ngành, cơ quan, đơn vị, địa phương gắn với trách nhiệm người đứng đầu; kiểm tra, giám sát, đánh giá dựa trên tiêu chí kết quả thực hiện", Quốc hội yêu cầu.
Trong Nghị quyết, Quốc hội đã giao cụ thể mục tiêu tăng trưởng cho từng địa phương.
Cụ thể, địa phương được giao mục tiêu tăng trưởng GRDP năm 2026 và bình quân giai đoạn 2026-2030 cao nhất là Hải Phòng, với 13-13,5% tăng trưởng GRDP năm 2026 và bình quân giai đoạn 2026 - 2030 là 13-14%. Trong khi đó, Hà Nội được giao mục tiêu GRDP 2026 là 10-10,5% và 10,5-11% cho cả giai đoạn; Tp.HCM được giao 10% cho cả 2 mục tiêu.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) vừa công bố Báo cáo kinh tế tư nhân Việt Nam. Trong đó, nội dung khảo sát liên quan tới hộ kinh doanh rất đáng chú ý.
Khảo sát được VCCI thực hiện trên phạm vi toàn quốc từ tháng 2 - tháng 4, thu thập phản hồi của 1.001 hộ kinh doanh đang hoạt động tại 34 tỉnh, thành phố.
Kết quả ghi nhận nhiều lo ngại của hộ kinh doanh trong quá trình tuân thủ chính sách thuế. Cụ thể, tỷ lệ lo ngại tương đối cao đối với thủ tục phức tạp (71,2%); rủi ro bị xử phạt (68,3%); không cập nhật kịp thời (63,5%); chi phí tuân thủ cao (63,5%); thiếu kỹ năng công nghệ (59,4%); thiếu hướng dẫn cụ thể (54,9%); lo ngại mất khách hàng (41%) và phát sinh chi phí không chính thức (37,7%).
Các phân tích sâu cho thấy, lo ngại về chi phí tuân thủ cao xuất hiện ở khoảng 63 - 64% hộ kinh doanh và tăng rõ ở nhóm doanh thu năm từ 500 triệu đồng trở lên. Lo ngại thiếu kỹ năng công nghệ và thiếu hướng dẫn phổ biến hơn ở nhóm chủ hộ lớn tuổi, học vấn thấp, ở vùng khó khăn.
Lo ngại về thủ tục phức tạp, không cập nhật kịp và rủi ro xử phạt đều ở mức cao, cho thấy yêu cầu quan trọng hiện nay không chỉ là duy trì kỷ cương thực thi chính sách, mà còn là làm cho hệ thống trở nên dễ hiểu, minh bạch và có tính hỗ trợ tốt hơn.
Đáng chú ý, khi được hỏi về mức đóng thuế hiện nay (thuế thu nhập cá nhân và thuế giá trị gia tăng) so với quy mô và khả năng kinh doanh, 49,1% hộ kinh doanh được khảo sát cho rằng, mức đóng là tương đối cao; 22% cho là quá cao; 10,8% thấy phù hợp và 18% cho biết khó đánh giá.
"Kết quả này cho thấy cảm nhận về gánh nặng thuế vẫn là một nội dung cần tiếp tục được giải thích, truyền thông và hoàn thiện trong thực thi, nhằm giúp hộ kinh doanh hiểu rõ hơn căn cứ chính sách, đồng thời để cơ quan quản lý có thêm thông tin thực tiễn phục vụ điều chỉnh nếu cần thiết", ông Đậu Anh Tuấn, Phó tổng thư ký VCCI, phân tích.
Khi đi vào thực hiện nghiệp vụ thuế và kế toán, nhiều hộ kinh doanh cho biết gặp khó khăn ở các khâu khác nhau.
Tỷ lệ đánh giá ở mức khó/rất khó khá cao đối với thu thập thông tin khách hàng để xuất hóa đơn điện tử (71,2%); hạch toán chi phí được trừ (67,6%); theo dõi cập nhật chính sách (66,8%); hiểu và áp dụng quy định (63,4%); kê khai và nộp thuế (62,3%); lưu trữ sổ sách kế toán (58,4%) và lấy hóa đơn đầu vào (46,3%).
Theo kết quả khảo sát, hóa đơn điện tử là một trong những khâu đòi hỏi nhiều hỗ trợ nhất đối với hộ kinh doanh.
Tỷ lệ hộ kinh doanh đánh giá các bước liên quan đến hóa đơn điện tử ở mức khó/rất khó khá cao, gồm: không biết sửa hóa đơn sai (54,8%); xử lý lỗi kỹ thuật trong thao tác (35,3%) và thiếu thiết bị hoặc internet (31,1%). Chỉ 13,6% hộ kinh doanh cho biết, không gặp khó khăn trong quá trình thực hiện hóa đơn điện tử.
Điều này phản ánh nhu cầu rất rõ về hướng dẫn cụ thể, hỗ trợ kỹ thuật dễ tiếp cận và phương thức triển khai thân thiện hơn với những hộ có điều kiện công nghệ còn hạn chế.
Theo VCCI, thời gian tới cần ưu tiên giảm độ phức tạp của các quy định thuế, kế toán và hóa đơn điện tử theo hướng phù hợp hơn với năng lực thực tế của hộ kinh doanh, đặc biệt là nhóm siêu nhỏ, nhóm học vấn thấp và nhóm lớn tuổi.
Ngoài ra, cần phát triển các công cụ hỗ trợ tuân thủ chi phí thấp và dễ sử dụng, như phần mềm kế toán đơn giản, hướng dẫn kê khai theo ngôn ngữ dễ hiểu và cơ chế hỗ trợ trực tiếp tại địa phương, thay vì giả định rằng đa số hộ kinh doanh có thể tự hấp thụ các quy định mới mà không cần trung gian hỗ trợ.
Ông Đậu Anh Tuấn nhấn mạnh, chính sách hỗ trợ hộ kinh doanh không nên dàn đều mà cần xác định rõ các nhóm ưu tiên.
Nhóm hộ phụ thuộc hoàn toàn vào hộ kinh doanh như nguồn sinh kế cần được ưu tiên trong các chính sách giảm sốc và tăng sức chống chịu; nhóm siêu nhỏ và dễ tổn thương cần được hỗ trợ về tuân thủ và quản trị cơ bản.
Nhóm có quy mô lớn hơn, khách hàng B2B (doanh nghiệp, tổ chức..., không phải người tiêu dùng cá nhân), hoặc nhu cầu ký kết hợp đồng và huy động vốn rõ hơn nên là đối tượng trọng tâm của các chương trình thúc đẩy chuyển đổi lên doanh nghiệp.
"Cách tiếp cận phân tầng như vậy sẽ hiệu quả hơn nhiều so với cơ chế chính sách bình quân áp dụng cho toàn bộ khu vực hộ kinh doanh", ông Tuấn nói.
Tin Gốc: Thanh Niên

Gần 1 tháng qua, chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới liên tục giảm. Từ mức trên 30 triệu đồng/lượng cuối tháng 3, mức chênh giảm còn khoảng 24 - 26 triệu đồng/lượng đầu tháng 4.
Giữa tháng 4, chênh lệch thu hẹp về vùng 19 - 22 triệu đồng/lượng. Chốt tuần này, mức chênh chỉ còn hơn 18 triệu đồng/lượng.
TS kinh tế Lê Bá Chí Nhân phân tích, chênh lệch giá vàng thu hẹp nhanh trong thời gian ngắn phản ánh sự thay đổi đồng thời ở cả hai phía: tâm lý thị trường và cấu trúc cung - cầu nội địa.
Mức chênh lệch 28 - 30 triệu đồng/lượng trước đây phần lớn là "phí tâm lý" khi nhu cầu nắm giữ vàng trong dân tăng mạnh trong giai đoạn bất ổn. Khi tâm lý tích trữ giảm xuống, phần "phí tâm lý" này sẽ co lại nhanh hơn nhiều so với tốc độ biến động của giá vàng thế giới.
Quan trọng là lực cầu trong nước hiện nay đang suy yếu rõ rệt. Người dân không còn tâm lý mua đuổi khi giá neo cao quá lâu, trong khi các kênh đầu tư khác dần hấp dẫn trở lại.
Khi cầu giảm, các doanh nghiệp buộc phải điều chỉnh giá bán về gần hơn với giá thế giới để kích giao dịch. Đây là yếu tố kỹ thuật khiến chênh lệch bị nén lại.
"Cạnh đó, cơ quan quản lý thời gian qua liên tục phát tín hiệu kiểm soát thị trường vàng chặt chẽ hơn. Khi thị trường nhận thấy rủi ro chính sách gia tăng, xu hướng đầu cơ, găm giữ vàng cũng giảm. Điều này làm giá vàng trong nước khó duy trì mức cao bất thường như trước", ông Nhân nói.
Theo chuyên gia vàng Trần Duy Phương, từ đầu tháng 4 trở lại đây, trên thị trường vàng xuất hiện những diễn biến đáng chú ý. Ví dụ, có những ngày, bất chấp giá vàng thế giới tăng, giá vàng trong nước lại giảm.
Ngoài ra, khoảng cách giá mua vào và bán ra nhiều thời điểm được kéo giãn tới 3,5 - 4 triệu đồng/lượng, trong khi thông thường chỉ khoảng 2 triệu đồng/lượng. Điều đó chứng tỏ, lực mua trên thị trường yếu hơn lực bán.
Yếu tố khác được ông Phương đề cập là mới đây, Ngân hàng Nhà nước đã công bố danh sách 11 đơn vị xin cấp phép sản xuất vàng miếng, mở ra khả năng gia tăng nguồn cung. Sắp tới, dù chỉ vài tấn vàng được bổ sung ra thị trường cũng có thể góp phần giải tỏa tâm lý găm giữ vàng.
Xét bối cảnh hiện tại, ông Phương dự báo, trong 2 - 3 tháng tới, chênh lệch giá vàng có thể giảm về mức 12 - 13 triệu đồng/lượng, bất kể xu hướng tăng hay giảm của vàng quốc tế.
"Nếu giá vàng thế giới tăng, cầu yếu sẽ khiến giá vàng trong nước tăng chậm hơn, qua đó tự động thu hẹp khoảng cách giá. Ngược lại, nếu giá vàng thế giới đi ngang hoặc giảm, giá vàng trong nước sẽ có xu hướng giảm nhanh hơn nhằm kích thích nhu cầu mua, cũng khiến chênh lệch tiếp tục thu hẹp", ông Phương phân tích.
Về triển vọng đầu tư dài hạn, cả ông Nhân và ông Phương đều chung nhận định, 2026 không phải là năm "sáng cửa" của vàng.
Ông Nhân lý giải, trên thế giới, giá vàng đã phản ánh phần lớn các rủi ro: lãi suất cao kéo dài, xung đột địa chính trị, bất ổn tài chính.
Nghĩa là biên độ tăng thêm của vàng không còn quá lớn như giai đoạn trước, trong khi rủi ro điều chỉnh lại hiện hữu nếu các ngân hàng T.Ư bắt đầu nới lỏng chính sách tiền tệ và đồng USD suy yếu theo hướng có kiểm soát.
Trong nước, giá vàng neo cao thời gian dài, chênh lệch giá với thế giới dù đã giảm song vẫn ở mức khá cao, thanh khoản thực tế giảm sút. Người mua mới sẽ đối diện rủi ro rất lớn về giá mua - bán và khả năng "mắc kẹt" nếu thị trường điều chỉnh. Nói cách khác, vàng hiện nay không thuận lợi cho mục tiêu sinh lời ngắn hạn lẫn trung hạn.
Trong khi đó, mặt bằng lãi suất huy động có xu hướng nhích lên, chính sách tiền tệ được điều hành theo hướng ổn định, kiểm soát lạm phát tốt. Tiền gửi tiết kiệm vì vậy trở lại đúng vai trò truyền thống là kênh giữ giá trị an toàn, thanh khoản cao.
"Nhà đầu tư cá nhân cần thay đổi tư duy: không chạy theo "tài sản nóng", mà ưu tiên quản trị rủi ro. Vàng vẫn có thể nắm giữ như một phần nhỏ trong danh mục để phòng ngừa bất trắc, nhưng không nên là kênh đầu tư chính.
Phần lớn dòng tiền nên được phân bổ vào các kênh ổn định như tiết kiệm, trái phiếu chất lượng, hoặc chờ đợi cơ hội rõ ràng hơn từ chứng khoán và bất động sản khi nền kinh tế phục hồi rõ nét", ông Nhân khuyến cáo.
Theo ông Phương, từ nay tới cuối năm, nhà đầu tư có thể kết hợp đầu tư giữa vàng và gửi tiết kiệm với tỷ lệ 5 : 5 hoặc 4 : 6 nhằm tối ưu hiệu quả, kiểm soát rủi ro. Nên chọn gửi tiết kiệm kỳ hạn 6 tháng, sau đó đánh giá lại tình hình để đưa ra quyết định tiếp theo.
Tin Gốc: Thanh Niên

