“Tôi có thể xác nhận gần đây phái đoàn Mỹ đã gặp đại diện Cuba tại Cuba”, Alejandro Garcia, quan chức phụ trách quan hệ Cuba – Mỹ thuộc Bộ Ngoại giao Cuba, nói với báo Granma, cơ quan ngôn luận của đảng Cộng sản Cuba, ngày 20/4.
Ông Garcia cho biết thành phần đàm phán có các trợ lý ngoại trưởng từ Bộ Ngoại giao Mỹ và một thứ trưởng ngoại giao Cuba. Theo ông, ưu tiên hàng đầu trong các cuộc thảo luận là mục tiêu chấm dứt lệnh phong tỏa dầu mỏ.
Washington chưa xác nhận thông tin từ Havana. Nếu được xác nhận, đây sẽ là lần đầu tiên phi cơ chính phủ Mỹ hạ cánh xuống Cuba kể từ năm 2016, khi ông Barack Obama đến thăm trong nỗ lực mở rộng quan hệ.
Tuần trước, hãng tin Axios dẫn nguồn thạo tin cho biết các quan chức trong chính quyền Trump đã tổ chức nhiều cuộc họp tại Havana vào ngày 10/4 với phía Cuba.
Ông Garcia cho biết “cuộc thảo luận diễn ra trong tinh thần tôn trọng và chuyên nghiệp”.
Căng thẳng giữa Cuba và Mỹ gia tăng sau khi Washington phát động chiến dịch đột kích, bắt Tổng thống Venezuela Nicolas Maduro hồi tháng 1. Venezuela là nhà cung cấp dầu chính cho Cuba.
Washington những tháng qua đã chặn gần như toàn bộ các chuyến hàng dầu mỏ tới quốc đảo vùng Caribe, gây thiếu hụt nhiên liệu, ảnh hưởng tới giao thông và đe dọa an ninh năng lượng Cuba. Liên Hợp Quốc cảnh báo nguy cơ khủng hoảng nhân đạo nếu nhu cầu năng lượng của Cuba không được đảm bảo.
Một tàu chở 730.000 thùng dầu thô của Nga hôm 31/3 cập cảng Matanzas ở Cuba, mang đến cho quốc gia này lô dầu đầu tiên kể từ tháng 1. Nhà Trắng cho biết tuần duyên Mỹ không chặn tàu Nga đến Cuba nhằm phục vụ nhu cầu nhân đạo của người dân, thêm rằng những quyết định như vậy được đưa ra dựa trên từng trường hợp cụ thể. Nga cho biết đã thảo luận trước với Mỹ về việc vận chuyển nói trên và họ đang chuẩn bị cho chuyến tàu thứ hai.
Tin Gốc: Vnexpress
Thế Giới
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị có các dự án 'hải đăng' trong hợp tác Việt Nam và Slovakia

Chiều 13-4, tại Phủ Chủ tịch, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã tiếp Thủ tướng Slovakia Robert Fico đang thăm chính thức Việt Nam.
Theo thông tin từ Bộ Ngoại giao, tại cuộc tiếp, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước khẳng định Việt Nam nhất quán coi trọng và mong muốn làm sâu sắc hơn nữa quan hệ với Slovakia, đối tác bạn bè truyền thống quan trọng hàng đầu tại khu vực Trung Đông Âu.
Đảng Cộng sản Việt Nam coi trọng và sẵn sàng tăng cường quan hệ với các chính đảng của Slovakia, nhất là với Đảng Smer - SD (Đảng Dân chủ xã hội) và các đảng trong liên minh cầm quyền của Thủ tướng Robert Fico.
Đánh giá cao kết quả hội đàm giữa Thủ tướng Lê Minh Hưng và Thủ tướng Robert Fico, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm bày tỏ sự hài lòng khi hai nước chính thức nâng cấp quan hệ lên tầm Đối tác chiến lược, thể hiện mức độ tin cậy chính trị cao giữa hai nước.
Đáp lại, Thủ tướng Slovakia Robert Fico bày tỏ vui mừng và xúc động được thăm lại Việt Nam, đồng thời chia sẻ cá nhân ông có tình cảm rất đặc biệt với đất nước và con người Việt Nam.
Nhà lãnh đạo Slovakia cho biết luôn trân trọng dân tộc Việt Nam anh hùng trong đấu tranh giải phóng dân tộc và một Việt Nam vô cùng năng động trong phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế, nhất là chính sách đối ngoại đúng đắn của Việt Nam trong bối cảnh tình hình thế giới diễn biến hết sức phức tạp hiện nay.
Việt Nam, theo Thủ tướng Robert Fico, luôn là nguồn cảm hứng để Slovakia học hỏi kinh nghiệm trong phát triển, hội nhập quốc tế và khu vực; nhấn mạnh Slovakia luôn coi Việt Nam là đối tác quan trọng nhất tại Đông Nam Á và 1 trong 3 đối tác lớn nhất tại châu Á.
Nhà lãnh đạo Slovakia kế đó nhấn mạnh ông hết sức vui mừng về kết quả chuyến thăm, nhất là việc hai nước nâng tầm quan hệ lên Đối tác chiến lược và việc hai bên ký nhiều văn kiện hợp tác trong chuyến thăm này sẽ tạo xung lực mới trong hợp tác.
Nhất trí với ý kiến của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Thủ tướng Slovakia cho biết sẽ phối hợp chặt chẽ với phía Việt Nam để triển khai ngay các thỏa thuận đạt được. Trong đó đặc biệt là các lĩnh vực mang tính đột phá như kinh tế - thương mại, khoa học - kỹ thuật, quốc phòng - an ninh, công nghiệp, năng lượng tái tạo, du lịch, nông nghiệp công nghệ cao và trí tuệ nhân tạo (AI).
Cũng tại cuộc gặp, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu một số định hướng lớn để hai bên triển khai thực chất, hiệu quả, tương xứng với quan hệ Đối tác chiến lược mà hai bên vừa nâng cấp.
Trong đó, nhằm tăng cường hơn nữa sự tin cậy chính trị, hai bên cần đẩy mạnh trao đổi đoàn các cấp trên tất cả các kênh Đảng, Nhà nước, Chính phủ và giao lưu nhân dân.
Về kinh tế, thương mại và đầu tư, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị đưa hợp tác trong các lĩnh vực này trở thành trụ cột chính trong hợp tác; tận dụng tối đa vị trí cửa ngõ của hai nước để tiếp cận thị trường ASEAN và EU.
Ông đề nghị hai nước chú trọng thành lập các dự án "hải đăng" trong các lĩnh vực công nghiệp ô tô, năng lượng tái tạo, công nghệ cao, chuyển đổi số và công nghệ thông tin, đào tạo nhân lực chất lượng cao, tăng cường hợp tác lao động và mở rộng hợp tác địa phương hai nước.
Trao đổi về các vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm, hai bên nhấn mạnh về tầm quan trọng của việc tuân thủ luật pháp quốc tế, tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc và nguyên tắc cơ bản của quan hệ quốc tế.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tin tưởng rằng với tầm vóc Đối tác chiến lược, quan hệ Việt Nam - Slovakia sẽ không ngừng phát triển mạnh mẽ.
Nhân dịp này, Thủ tướng Robert Fico đã chuyển lời mời của Tổng thống Peter Pellegrini mời Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm Slovakia. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cảm ơn và vui vẻ nhận lời, cho biết sẽ thăm Slovakia vào thời điểm phù hợp.
Trước đó, cũng trong ngày 13-4, Thủ tướng Lê Minh Hưng và Thủ tướng Slovakia Robert Fico đã cùng dự, phát biểu tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Slovakia.
Tại diễn đàn, dưới sự chứng kiến của hai Thủ tướng và các đại biểu cấp cao, các doanh nghiệp hai nước đã trao 7 biên bản ghi nhớ hợp tác trong các lĩnh vực công nghiệp chế tạo, công nghệ, y tế, tài chính, hạ tầng, bất động sản, môi trường và phát triển khu công nghiệp.
Các thỏa thuận này được kỳ vọng sẽ tạo động lực mới cho hợp tác kinh tế song phương, đồng thời mở ra cơ hội đầu tư cụ thể cho doanh nghiệp hai bên tại mỗi thị trường.
Thủ tướng Robert Fico khẳng định Slovakia có nhiều lĩnh vực thế mạnh và mong muốn đẩy mạnh hợp tác với Việt Nam như đào tạo nhân lực, công nghiệp cơ khí, công nghiệp quốc phòng, an ninh mạng, công nghiệp ô tô, y tế.
Đáng chú ý, ông cho biết Slovakia hoan nghênh lực lượng lao động rất lành nghề của Việt Nam đến làm việc ở nước này. Phía Slovakia sẽ tạo điều kiện cho lao động Việt Nam như người dân địa phương, tạo điều kiện hơn nữa cho cộng đồng người Việt Nam ở Slovakia học tập và sinh sống.
Mong muốn các công ty của Slovakia thành công ở Việt Nam, Thủ tướng Robert Fico cũng bày tỏ trân trọng đầu tư của Việt Nam, nhấn mạnh bất kỳ công ty Việt Nam nào quan tâm đặt cơ sở tại Slovakia đều được hoan nghênh với việc Chính phủ Slovakia tạo điều kiện tốt nhất cho doanh nghiệp Việt Nam đầu tư.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Thế Giới
Cuộc đua lên mặt trăng: Khó khăn chết người, NASA phải nhờ cậy 'đại gia'

Để thực sự đặt chân xuống vùng cực nam mặt trăng, nhân loại phải hóa giải vô số thử thách tiềm ẩn rủi ro chết người, đòi hỏi những bước nhảy vọt về công nghệ mà Mỹ cùng các đối tác đang ráo riết chuẩn bị.
Trước hết, thách thức lớn nhất đối với các phi hành gia không nằm ở kỹ thuật bay mà là sự khắc nghiệt của địa hình cực nam mặt trăng. Do trục tự quay của mặt trăng chỉ nghiêng khoảng 1,5 độ, khiến một số khu vực ở đó không bao giờ nhận được ánh sáng mặt trời, hình thành những vùng tối vĩnh viễn, còn gọi là "cái bẫy lạnh" bên trong các miệng hố sâu thẳm với nhiệt độ có thể xuống tới âm 203 độ C. Ở mức nhiệt này, ngay cả những loại thép cứng nhất cũng trở nên giòn rụm như thủy tinh, khiến việc vận hành thiết bị trở thành một bài toán nan giải.
Bên cạnh đó, địa hình dốc đứng tới 35 độ tại miệng hố Shackleton, nơi được chọn làm địa điểm hạ cánh sắp tới, buộc các tàu hạ cánh thế hệ mới phải sở hữu hệ thống cảm biến điều hướng chính xác tuyệt đối để tìm được bãi đáp an toàn trong bóng tối dày đặc.
Tiếp nối khó khăn về môi trường là nỗi ám ảnh mang tên bụi regolith. Những hạt bụi sắc nhọn như mảnh kính vỡ và mang tĩnh điện cực mạnh này không chỉ tàn phá các khớp nối cơ khí mà còn đe dọa trực tiếp đến hệ hô hấp của con người. Để đối phó, NASA đã chuẩn bị công nghệ lá chắn bụi điện động (EDS) giúp đẩy lùi bụi bằng trường điện biến thiên. Đồng thời, bộ đồ du hành thế hệ mới cũng được thiết kế như những "áo giáp", giúp phi hành gia linh hoạt thao tác và chịu đựng cái lạnh thấu xương trong nhiều giờ liên tục.
Mục tiêu đề ra của sứ mạng lần này là xây dựng căn cứ lâu dài trên mặt trăng, yêu cầu phải chuyển hàng trăm tấn thiết bị từ trái đất lên đó. Hiện tại không chỉ NASA mà các công ty tư nhân như SpaceX của tỉ phú Elon Musk hay Blue Origin của tỉ phú Jeff Bezos đang ráo riết tìm giải pháp.
Cuối cùng, để duy trì sự sống qua một đêm trăng (bằng hơn 14 ngày trái đất), lò phản ứng hạt nhân không gian tương lai của NASA sẽ là chìa khóa then chốt, giúp điện phân băng nước thành oxy và nhiên liệu.
Trong khi đó, các chương trình vũ trụ hiện đại không còn là sân chơi độc quyền của chính phủ. Theo chương trình Artemis, NASA đã chuyển sang làm khách hàng mua dịch vụ từ SpaceX và Blue Origin nhằm tối ưu ngân sách. Đồng thời những thiết kế khổng lồ như tàu Starship của Elon Musk hứa hẹn khả năng vận chuyển hàng trăm tấn thiết bị lên mặt trăng để xây dựng căn cứ.
Dù vậy, việc phải nạp nhiên liệu liên tục giữa môi trường không trọng lực tiềm ẩn rủi ro chẳng khác nào bơm xăng cho một chiếc xe tải đang lao với tốc độ cực cao trên cao tốc. Đây chính là một trong những thách thức lớn mà các gã khổng lồ này phải giải quyết để đáp ứng nhu cầu của khách hàng NASA.
Bên cạnh yếu tố công nghệ còn có áp lực cạnh tranh gay gắt từ các cường quốc khác. Thông tin từ Hiệp hội Planetary cho thấy nội bộ NASA hiện đang chật vật với tình trạng xói mòn chất xám khi hàng nghìn chuyên gia bị các tập đoàn tư nhân thu hút bằng mức đãi ngộ cao. Cuối cùng, khi công nghệ lõi nằm trọn trong tay giới siêu giàu, ranh giới giữa lợi ích quốc gia và tham vọng cá nhân ngày càng mờ nhạt, khiến các định hướng khoa học dễ rơi vào thế bị động.
Việc "đi nhờ" hạ tầng của các doanh nhân là lối tắt giúp nhân loại nhanh chóng trở lại quỹ đạo. Dù vậy, các chuyên gia cho rằng cần sớm thiết lập những hành lang pháp lý quốc tế vững chắc bởi lẽ khi các tỉ phú bắt đầu hạ cánh lên mặt trăng, một câu hỏi pháp lý hóc búa nảy sinh: Liệu họ có đang đại diện cho quốc gia hay chỉ đơn thuần là các thực thể tư nhân?

Khi Tổng thống Mỹ Richard Nixon đặt chân đến Bắc Kinh năm 1972, đó được xem là một canh bạc chính trị lớn. Ông đánh cược rằng việc mở cánh cửa ngoại giao với Trung Quốc, đồng thời hạ cấp quan hệ với Đài Loan, sẽ phục vụ lợi ích chiến lược của Washington tại khu vực và trên toàn cầu.
Những chuyến thăm Trung Quốc sau đó của các đời tổng thống Mỹ đều ít nhiều kế thừa tư duy này. Lịch sử quan hệ Mỹ - Trung trong nửa thế kỷ qua là chuỗi đan xen giữa những giai đoạn căng thẳng và hòa dịu. Có thời điểm quan hệ rơi vào u ám như giai đoạn cuối 1980 và đầu 1990, nhưng cũng có lúc "bừng sáng" khi Mỹ ủng hộ Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và trở thành một động lực lớn của kinh tế toàn cầu.
Thăm dò
Chuyến thăm của Nixon được coi là một trong những chuyến công du nước ngoài mang tính bước ngoặt nhất của một tổng thống Mỹ sau Thế chiến II. Trước đó một năm, cố vấn an ninh quốc gia Henry Kissinger bí mật tới Bắc Kinh để thăm dò khả năng thiết lập kênh ngoại giao với Chủ tịch Mao Trạch Đông và Thủ tướng Chu Ân Lai.
Trong hơn hai thập kỷ từ khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập vào năm 1949, Washington không thiết lập quan hệ chính thức với Bắc Kinh. Thay vào đó, Mỹ công nhận chính quyền tại đảo Đài Loan là đại diện hợp pháp của Trung Quốc. Nhưng bối cảnh địa chính trị đến thời của ông Nixon đã thay đổi mạnh. Quan hệ giữa Liên Xô và Trung Quốc rạn nứt, tạo ra cơ hội để chính quyền Nixon tiếp cận Bắc Kinh như một nước cờ chiến lược.
Chuyến thăm để lại nhiều hình ảnh biểu tượng, như ông Nixon đi dạo trên Vạn Lý Trường Thành và ca ngợi đây là "một bức tường vĩ đại do một dân tộc vĩ đại xây dựng". Sau đó, Trung Quốc gửi một cặp gấu trúc tới Sở thú Quốc gia ở Washington, trở thành biểu tượng lâu dài của nỗ lực xích lại gần nhau giữa hai nước.
Tổng thống Gerald Ford thăm Trung Quốc trong 5 ngày vào tháng 12/1975. Khi đó, Trung Quốc đang trong giai đoạn cuối của thời kỳ Cách mạng Văn hóa đầy biến động, nhưng giới lãnh đạo nước này vẫn duy trì định hướng cải thiện quan hệ với Mỹ.
Các cuộc trao đổi trong chuyến thăm của Ford góp phần mở đường cho tiến trình bình thường hóa quan hệ mà Tổng thống Jimmy Carter hoàn tất năm 1979, trong một chuyến thăm sau khi ông đã kết thúc nhiệm kỳ.
Đến năm 1984, Tổng thống Ronald Reagan, người nổi tiếng với lập trường cứng rắn trong Chiến tranh Lạnh, cũng đặt chân tới Trung Quốc.
Khác với những tuyên bố mang tính đối đầu với Liên Xô, ông Reagan không kêu gọi thay đổi tại Trung Quốc hay công kích hệ thống chính trị nước này. Thay vào đó, ông thể hiện hình ảnh chính khách thực dụng và thúc đẩy đối thoại thương mại, lĩnh vực sau này trở thành trọng tâm trong quan hệ Mỹ - Trung.
Sau chuyến đi, Tổng thống Reagan nói ông cảm thấy được khích lệ bởi "luồng sinh khí của tinh thần thị trường tự do" đang xuất hiện trong nền kinh tế Trung Quốc.
Nỗ lực mở cửa nền kinh tế Trung Quốc tiếp diễn với chuyến thăm của Tổng thống George H.W. Bush tới Bắc Kinh tháng 2/1989, với tư cách một "người quen" đã lâu không gặp.
Ông Bush từng phụ trách Văn phòng Liên lạc của Mỹ tại Bắc Kinh giai đoạn 1974-1975, trên thực tế là cơ quan đại diện ngoại giao cao nhất của Washington trước khi hai nước thiết lập quan hệ chính thức.
Quan hệ song phương khi đó đang có đà phát triển tích cực, nhưng những biến động liên quan đến việc Liên Xô tan rã đã thay đổi tất cả, đẩy liên lạc giữa hai nước trở vào trạng thái đóng băng trong gần một thập kỷ.
Thúc đẩy hợp tác
Chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Bill Clinton năm 1998 diễn ra trong giai đoạn Mỹ giữ vị thế "siêu cường duy nhất" của thế giới.
Khi đó, nhiều người ở Washington tin rằng mô hình chính trị và kinh tế Mỹ gần như không có đối thủ. Giới chức Mỹ cho rằng Trung Quốc sẽ dần bước vào trật tự thế giới do phương Tây định hình và một Trung Quốc hội nhập hơn với nền kinh tế thế giới cũng sẽ thân thiện hơn với Mỹ.
Ông Giang Trạch Dân khi đó đã cố gắng nói tiếng Anh trong một số sự kiện công khai, thậm chí đọc những câu trích từ diễn văn Gettysburg của Tổng thống Abraham Lincoln, tạo nên ấn tượng về một lãnh đạo Trung Quốc cởi mở với phương Tây.
Trong chuyến thăm năm 1998 của Tổng thống Clinton, ông Giang bất ngờ thông báo cuộc họp báo chung sẽ được truyền hình trực tiếp. Khoảnh khắc này được nhiều người xem là đặc biệt, thể hiện bầu không khí cởi mở hiếm thấy giữa lãnh đạo hai nước, thắp lên kỳ vọng con đường hợp tác trước mắt đang rộng mở.
Đến thời của Tổng thống George W. Bush, ông thăm Trung Quốc 4 lần vào các năm 2001, 2002, 2005 và 2008. Lần xuất hiện mang tính biểu tượng nhất là khi ông có mặt tại lễ khai mạc Olympic Bắc Kinh 2008, sự kiện được nhiều người xem như màn khẳng định vị thế mới của Trung Quốc trên trường quốc tế. Đây là thời kỳ toàn cầu hóa tăng tốc, khi kinh tế Trung Quốc phát triển mạnh sau khi gia nhập WTO.
Tuy nhiên, chuyến đi năm 2008 của George W. Bush diễn ra ngay trước cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Cùng với tác động từ chiến tranh Iraq, biến cố này khiến nhiều quan chức Trung Quốc, trong đó có Chủ tịch Hồ Cẩm Đào, tin rằng Mỹ và các đồng minh đang mất phương hướng, mở ra cơ hội để Trung Quốc trỗi dậy mạnh mẽ hơn.
Cạnh tranh
Khi sức mạnh Trung Quốc gia tăng, cùng với sự tự tin ngày càng lớn trong cách tiếp cận với Washington, bản chất các cuộc gặp thượng đỉnh Mỹ - Trung cũng thay đổi. Nếu trước đây Mỹ thường giữ vai trò chủ động định hình quan hệ, về sau, nhiều quan chức và học giả Trung Quốc bắt đầu nhìn Mỹ như một cường quốc đang chật vật giữ vị thế.
Các chuyến thăm cấp cao của lãnh đạo Mỹ trong hai thập kỷ qua mang màu sắc "quản lý" những bất đồng giữa hai cường quốc nhiều hơn là thúc đẩy quan hệ song phương, khi vị thế của Trung Quốc ngày càng gia tăng và dần định hướng sang trật tự đa cực.
Tổng thống Barack Obama thăm Trung Quốc ba lần trong hai nhiệm kỳ, với lần đầu diễn ra vào năm 2009 trong bối cảnh Mỹ đang chật vật đối phó hậu quả khủng hoảng tài chính, còn kinh tế Trung Quốc tiếp tục tăng trưởng mạnh. Tại Bắc Kinh, ông Obama nêu các vấn đề như hội nghị khí hậu Copenhagen và nỗ lực ngoại giao nhằm ngăn chặn tham vọng hạt nhân của Iran.
Năm 2014, ông trở lại Trung Quốc dự hội nghị kinh tế khu vực và gặp song phương với Chủ tịch Tập Cận Bình. Đến lúc này, quan hệ hai nước đã xấu đi đáng kể. Trung Quốc gia tăng hoạt động quân sự ở các vùng biển lân cận, khiến nhiều nước châu Á phản ứng, đồng thời bị cáo buộc thường xuyên tiến hành hoạt động gián điệp mạng nhắm vào Mỹ và phương Tây.
Chuyến thăm cuối cùng của ông Obama năm 2016 gây chú ý khi chuyên cơ Không Lực Một hạ cánh tại Hàng Châu và Tổng thống Mỹ phải rời máy bay bằng cửa sau vì không có cầu thang được đưa tới cửa chính.
Dù nguyên nhân sự cố có thể chỉ là trục trặc kỹ thuật, nhiều người xem đây là dấu hiệu cho thấy thái độ của Trung Quốc với Mỹ "đã khác xưa".
Đến năm 2017, Tổng thống Donald Trump bước vào Nhà Trắng với những thông điệp chỉ trích mạnh mẽ Trung Quốc, đặc biệt về thương mại. Chuyến thăm Trung Quốc năm đó của ông Trump diễn ra trong bối cảnh ngày càng nhiều tiếng nói tại Mỹ hoài nghi về toàn cầu hóa và muốn giảm phụ thuộc kinh tế vào Bắc Kinh.
Tuy nhiên, khi đến thăm Bắc Kinh, ông Trump lại thể hiện một hình ảnh hòa dịu hơn hẳn. Ông dành nhiều lời khen cho Chủ tịch Tập Cận Bình, gọi ông là một người rất đặc biệt. Phía Trung Quốc cũng dành cho ông Trump những biệt lệ về đón tiếp, tiêu biểu là cuộc tham quan riêng ở Tử Cấm Thành giữa hai lãnh đạo cùng phu nhân.
Nhưng bầu không khí hòa thuận giữa hai cường quốc không kéo dài. Chỉ ít lâu sau chuyến thăm, tháng 1/2018, Tổng thống Trump khởi động "thương chiến" với Trung Quốc, cuộc đối đầu định hình phần lớn nhiệm kỳ đầu tiên của ông. Quan hệ Mỹ - Trung từ đó trở nên đối đầu rõ rệt.
Điều đáng chú ý là dù cứng rắn về thương mại và cạnh tranh chiến lược, ông Trump tránh nhấn mạnh các vấn đề dân chủ và nhân quyền, cách tiếp cận được giới lãnh đạo Trung Quốc hoan nghênh.
Quan hệ Mỹ - Trung tiếp tục căng thẳng trong nhiệm kỳ của Tổng thống Joe Biden, người không thực hiện bất cứ chuyến thăm chính thức nào tới Trung Quốc khi nắm quyền giai đoạn 2021-2025. Ông Biden và ông Tập chỉ gặp nhau tại các sự kiện đa phương trong giai đoạn này.
Sau khi trở lại Nhà Trắng nhiệm kỳ hai, Tổng thống Trump tiếp tục thể hiện sự cứng rắn với Trung Quốc thông qua các đòn áp thuế. Tuy nhiên, Trung Quốc không nhượng bộ và đáp trả "ăn miếng trả miếng" với đòn thuế của ông Trump, buộc Mỹ phải đối thoại và sau đó đi đến thỏa thuận đình chiến thương mại.
Ngay trước chuyến tới Bắc Kinh hôm 13/5, Tổng thống Trump viết trên mạng xã hội rằng ông dự định đề nghị Chủ tịch Tập Cận Bình, người ông gọi là "một nhà lãnh đạo xuất chúng", mở cửa hơn nữa. Điều này nối tiếp thông điệp cải thiện quan hệ chiến lược giữa hai cường quốc thông qua hợp tác kinh tế mà các đời tổng thống Mỹ từng thể hiện, song vị thế của hai nước giờ đây đã rất khác.
Các quan chức Mỹ giờ đây đã công khai thừa nhận Trung Quốc là đối thủ "gần ngang hàng", đồng thời mô tả Bắc Kinh là "đối thủ mạnh mẽ nhất từng đối đầu trong lịch sử".
"Trung Quốc đã dồn rất nhiều nỗ lực ngoại giao để tạo ấn tượng rằng Chủ tịch Tập Cận Bình ngang hàng với Tổng thống Donald Trump về vị thế địa chính trị", Ali Wyne, cố vấn cấp cao về quan hệ Mỹ - Trung tại Nhóm Khủng hoảng Quốc tế (ICG), nhận định. "Điều tôi thấy khá ấn tượng là lần này, phía Trung Quốc không còn cần nỗ lực khẳng định điều đó nữa".
Tin Gốc: Vnexpress

