Đại tướng Phan Văn Giang, Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, cho rằng tỉnh Đồng Nai có vị trí đắc địa về an ninh quốc phòng, gồm đường biên giới sau khi sáp nhập với tỉnh Bình Phước cũ, khu vực Lộc Ninh từng là nơi giải phóng đầu tiên ở miền Nam, cùng đó là sân bay Long Thành, sân bay Biên Hòa, hồ Trị An… tạo nên thế trận phòng thủ vững chắc. Đồng Nai còn có lợi thế rất lớn về kinh tế khi phát triển mạnh các khu công nghiệp, khu chế xuất, tạo công ăn việc làm cho người dân từ miền Tây vốn chỉ làm nông nghiệp di cư tới đây.
Với những yếu tố trên, tỉnh Đồng Nai đã đủ điều kiện trở thành thành phố, nhất là các chỉ tiêu về thu nhập, dân số, diện tích và vị trí địa lý. Nếu QH thông qua, Đồng Nai sẽ là thành phố thứ 7. Chưa kể mới đây, Bộ Chính trị đã đồng ý chủ trương thành lập TP.Quảng Ninh, vì vậy việc thành lập TP.Đồng Nai sẽ là động lực, kinh nghiệm cho sau này.
Cùng ý kiến, ĐB Trương Minh Huy Vũ (đoàn TP.HCM) phân tích: Sau sắp xếp bộ máy hành chính, vùng Đông Nam bộ còn 3 tỉnh là TP.HCM, Đồng Nai và Tây Ninh. Ông kỳ vọng khi Đồng Nai trở thành thành phố sẽ là cực tăng trưởng mới cho vùng Đông Nam bộ, tạo liên kết “vùng TP.HCM” với quy mô kinh tế gần 3 triệu tỉ đồng, “mạnh kinh khủng”.
ĐB Nguyễn Trung Kiên (đoàn Đồng Nai) đề nghị QH có nghị quyết giao cho Đồng Nai một số cơ chế đặc thù để có thể phát triển mạnh mẽ về KT-XH, KH-CN, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, văn hóa, môi trường, y tế, giáo dục, quy hoạch đô thị, thu hút đầu tư…
Đồng quan điểm, ĐB Trịnh Xuân An (đoàn Đồng Nai) nói việc thành lập TP.Đồng Nai là rất tốt, nhưng tương lai phát triển ra sao cũng là vấn đề rất quan trọng. Bên cạnh những chính sách hiện hành áp dụng với tỉnh Đồng Nai, thời gian tới cần xây dựng thêm các cơ chế đột phá, tạo “chiếc áo mới” đặc biệt hơn nữa cho thành phố.
Phát biểu tại tổ, Bí thư Tỉnh ủy Đồng Nai Vũ Hồng Văn khẳng định việc thành lập TP.Đồng Nai không đơn thuần dừng ở nâng cấp hành chính mà còn thiết lập nền quản trị tiên tiến. Tỉnh Đồng Nai hiện nay có vị thế cả về quy mô dân số, diện tích và kinh tế, cùng đó là rất nhiều di tích cách mạng; là miền đất của rất nhiều người đến từ nhiều tỉnh thành về đây sinh sống với số lượng rất lớn; hoàn toàn đủ điều kiện trở thành thành phố.
Ông Văn cũng nhấn mạnh, việc thành lập thành phố không chỉ dừng lại ở số lượng mà sẽ tập trung phát triển cả về năng lực thu ngân sách và năng suất lao động. Năm 2025, Nghị quyết của Chính phủ giao chỉ tiêu thu 70.000 tỉ đồng, nhưng tỉnh Đồng Nai đã vượt trên 100.000 tỉ đồng, thuộc nhóm tăng trưởng cao nhất cả nước. Năm nay, địa phương sẵn sàng đặt mục tiêu thu 150.000 tỉ đồng để nộp ngân sách nhà nước. “Chủ trương của Đảng đã chín muồi và chúng tôi đã rà soát kỹ lưỡng, nếu chậm trễ thực hiện sẽ bỏ lỡ cơ hội phát triển”, ông Văn nói.
Vẫn theo Bí thư Tỉnh ủy Đồng Nai, việc thành lập một đơn vị hành chính mới, chuyển từ mô hình quản trị nông thôn sang quản trị đô thị mà phát triển không hiệu quả, đời sống nhân dân chưa cao, chỉ mang tính hình thức thì sẽ không hoàn thành nhiệm vụ mà T.Ư và QH giao. Do đó, địa phương xác định sẽ phấn đấu trở thành một cực tăng trưởng, chung vai gánh vác nền kinh tế quốc gia.
Tin Gốc: Thanh Niên

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đặt ra yêu cầu nghị quyết không chỉ đúng mà phải được thực hiện bằng hành động quyết liệt, hiệu quả thực chất, kiên quyết chống hình thức, không để xảy ra "độ trễ" nghị quyết.
Trao đổi với Báo Quân đội nhân dân, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương, nhấn mạnh tinh thần phải đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, siết chặt kỷ luật thực thi, tăng cường công tác chính trị, tư tưởng, kiểm tra, giám sát và tổ chức hành động đến cùng để đưa Nghị quyết Đại hội XIV nhanh chóng đi vào cuộc sống.
Phóng viên: Thưa Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Bí thư Quân ủy Trung ương, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã xác lập một tầm nhìn lịch sử. Dư luận và nhân dân đang rất quan tâm đến việc làm thế nào để những quyết sách lớn sớm đi vào thực tiễn. Đồng chí đã nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu phải triệt tiêu "độ trễ" và chuyển mạnh từ "nói" sang "làm" và "làm hiệu quả". Xin đồng chí cho biết rõ hơn về tư duy hành động này trong bối cảnh hiện nay?
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng là kết tinh trí tuệ, ý chí và khát vọng vươn lên của toàn dân tộc; giá trị của nghị quyết chỉ được khẳng định đầy đủ khi được tổ chức thực hiện bằng hành động quyết liệt, đồng bộ và hiệu quả. Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy mọi thành tựu của đất nước đều gắn với những giai đoạn mà chủ trương đúng được chuyển hóa thành kết quả cụ thể, trong đó khâu tổ chức thực hiện giữ vai trò then chốt.
Chúng ta thẳng thắn nhìn nhận rằng điểm nghẽn lớn hiện nay không nằm ở chỗ thiếu đường lối, mà nằm ở năng lực biến đường lối thành chuyển biến phát triển cụ thể. Hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia, kỷ luật, kỷ cương hành chính và chất lượng thực thi chính sách ở một số nơi vẫn còn khoảng cách so với yêu cầu phát triển đất nước. Vì vậy, tinh thần xuyên suốt của nhiệm kỳ này là phải biến ý chí thành hành động, biến quyết sách thành kết quả; nói là làm, làm ngay, làm đúng, làm quyết liệt, làm đến cùng và làm có hiệu quả.
Giai đoạn 5 - 10 năm tới có ý nghĩa quyết định đối với các mục tiêu chiến lược của Đảng và đất nước. Nếu chúng ta để lãng phí dù chỉ một khoảng thời gian ngắn vì chần chừ, né tránh, làm việc theo lối cũ hoặc trông chờ, đùn đẩy trách nhiệm thì cái giá phải trả ít nhất là đánh mất cơ hội phát triển của cả dân tộc.
Vì vậy, mệnh lệnh hành động lúc này là phải chuyển thật mạnh từ "nhận thức đúng" sang "triển khai hiệu quả", từ "ban hành chủ trương" sang "tạo ra sản phẩm và kết quả thực tế". Mọi cấp ủy, tổ chức đảng, từng cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, phải gương mẫu đi đầu, làm đến nơi đến chốn, làm ra kết quả thực chất để nhân dân được thụ hưởng ngay từ những ngày đầu nhiệm kỳ.
* Thưa Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, trong nhiệm kỳ này, việc cải cách phương thức tổ chức thực hiện được đặt ra như thế nào để chuyển mạnh từ quản lý bằng mệnh lệnh hành chính sang quản trị dựa trên kết quả, nhằm triệt tiêu tình trạng "nghẽn" ở khâu thực thi?
- Đại hội XIV xác định thể chế là "đột phá của đột phá", đi trước mở đường. Thể chế không chỉ là công cụ quản lý nhà nước, mà phải trở thành động lực phát triển, giải phóng sức sản xuất, khơi thông các nguồn lực xã hội và tạo lập môi trường thuận lợi cho đổi mới sáng tạo. Muốn triệt tiêu tình trạng "nghẽn" thì trước hết phải đổi mới tư duy và phương thức tổ chức thực hiện.
Thứ nhất, phải quyết liệt rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, quy trình, thủ tục để tháo gỡ mọi điểm nghẽn. Tinh thần là vướng mắc ở cấp nào thì cấp đó phải chủ động sửa đổi, không trông chờ, không đùn đẩy trách nhiệm. Phải chuyển mạnh từ tư duy quản lý, cấp phép sang kiến tạo phát triển và phục vụ; từ nặng tiền kiểm sang tăng cường hậu kiểm ở những lĩnh vực đủ điều kiện; từ cách làm thiên về thủ tục sang cách làm thiên về kết quả.
Thứ hai, phải thay đổi thước đo đánh giá. Không thể tiếp tục lấy độ dày của báo cáo hay số lượng cuộc họp làm căn cứ chủ yếu để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ. Đánh giá một tổ chức, một cán bộ phải nhìn vào sản phẩm phát triển cụ thể, vào tiến độ công việc, vào hiệu quả xã hội, vào mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp. Mọi chương trình hành động đều phải được lượng hóa, đo lường được và có lộ trình rõ ràng.
Thứ ba, phải tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy theo hướng hiệu lực, hiệu quả, gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Việc Trung ương quyết định chuyển Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam từ cơ quan thuộc Chính phủ sang là đơn vị sự nghiệp của Ban Chấp hành Trung ương Đảng; đồng thời tiếp nhận các đảng bộ của 5 cơ quan này từ Đảng ủy Chính phủ sang Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, chính là một bước điều chỉnh tổ chức rất quan trọng. Đây không chỉ là sắp xếp đầu mối, mà còn là điều chỉnh phương thức lãnh đạo để tăng cường sự chỉ đạo trực tiếp, thường xuyên của Trung ương đối với những lĩnh vực đặc biệt quan trọng về tư tưởng, truyền thông và khoa học chiến lược.
Thứ tư, mọi chương trình, đề án, dự án lớn đều phải xác định rõ mục tiêu, tiến độ, người chịu trách nhiệm, nguồn lực thực hiện và cơ chế kiểm tra, giám sát. Có như vậy mới chấm dứt được tình trạng "trên nóng, dưới lạnh", "đúng về tinh thần nhưng tắc ở khâu thực hiện".
* Thưa Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, đồng chí đã chỉ rõ việc thực hiện Nghị quyết phải gắn liền với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, trong đó yếu tố con người và công tác chính trị, tư tưởng giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Vậy yêu cầu cốt lõi đặt ra hiện nay là gì?
- Trong giai đoạn mới, đổi mới phương thức lãnh đạo phải hướng tới xây dựng một nền quản trị quốc gia hiện đại, kỷ cương, minh bạch, hiệu quả và phục vụ nhân dân. Muốn vậy, yếu tố quyết định vẫn là con người - trước hết là đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ là có phẩm chất và năng lực chung, mà phải có bản lĩnh thực thi, có tư duy hành động thực chất, có khả năng tổ chức công việc đến cùng và dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Đi liền với đó, phải đặc biệt coi trọng công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng. Hội nghị Trung ương 2 vừa qua đã ban hành Quy định về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng. Đây là nội dung rất mới, rất cần trong giai đoạn hiện nay, bởi chúng ta đang triển khai nhiều chủ trương lớn cùng lúc, cải cách mạnh, đổi mới mạnh; nếu không giữ vững nền tảng chính trị, không tạo được sự thống nhất cao trong Đảng và đồng thuận trong xã hội thì chủ trương đúng cũng khó đi đến kết quả như mong muốn.
Công tác chính trị, tư tưởng phải thực sự đi trước, mở đường; không thể làm theo kiểu hình thức hay chỉ dừng ở khâu quán triệt, học tập nghị quyết cho đủ thủ tục. Điều cốt lõi là phải cụ thể hóa các yêu cầu về chính trị, tư tưởng thành trách nhiệm của từng cấp ủy, tổ chức đảng, từng cán bộ, đảng viên; giữ nghiêm kỷ luật phát ngôn, củng cố niềm tin, xây dựng bản lĩnh chính trị, nâng cao tính chiến đấu và tạo động lực để cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung.
Đối với đội ngũ cán bộ, phải kiên quyết khắc phục tình trạng giỏi tham mưu nhưng yếu tổ chức thực hiện. Trong tổ chức thực hiện, phải bảo đảm "6 rõ": rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền và rõ kết quả. Không để tình trạng lấy tập thể để che lấp trách nhiệm cá nhân; đồng thời phải có cơ chế bảo vệ những người dám đổi mới, dám chịu trách nhiệm. Đảng cầm quyền phải quán triệt sâu sắc quan điểm "dân là gốc", lấy hạnh phúc và sự hài lòng của nhân dân làm thước đo hiệu quả công tác của các tổ chức đảng và cả hệ thống chính trị.
* Để bảo đảm Nghị quyết Đại hội XIV và các nghị quyết mới của Trung ương được triển khai nghiêm túc, hiệu quả, công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng cần được đổi mới ra sao, thưa Tổng Bí thư, Chủ tịch nước?
- Kiểm tra, giám sát không phải là công việc làm sau cùng, càng không chỉ là xử lý sai phạm khi sự việc đã xảy ra. Đây là một phương thức lãnh đạo rất quan trọng của Đảng, là công cụ để kiểm soát quyền lực, giữ vững kỷ luật, kỷ cương, bảo đảm mọi chủ trương, nghị quyết được thực hiện nghiêm túc, đúng hướng.
Trước hết, phải quán triệt và tổ chức thực hiện thật tốt nghị quyết mới của Trung ương về đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng. Việc Trung ương ban hành nghị quyết mới trong lĩnh vực này cho thấy yêu cầu của giai đoạn phát triển hiện nay là rất cao: phát triển nhanh phải đi đôi với siết chặt kỷ luật, kỷ cương; cơ chế thông thoáng hơn thì kiểm soát quyền lực phải chặt chẽ hơn; phân cấp, phân quyền mạnh hơn thì trách nhiệm chính trị phải rõ hơn.
Thứ hai, phải chuyển mạnh công tác kiểm tra, giám sát sang phòng ngừa từ sớm, từ xa; phát hiện nguy cơ ngay trong quá trình vận hành, không để hạn chế, khuyết điểm tích tụ thành sai phạm lớn. Mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, từng chi bộ, từng đảng viên đều phải xác định đây là trách nhiệm chính trị của mình; không thể khoán trắng cho cơ quan kiểm tra. Kiểm tra phải gắn với từng chương trình hành động, từng nhiệm vụ trọng tâm, từng dự án, từng cam kết của người đứng đầu.
Thứ ba, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã thành lập các đoàn kiểm tra, giám sát do các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư trực tiếp làm trưởng đoàn để kiểm tra việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV, các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương tại toàn bộ các tổ chức đảng trực thuộc Trung ương, trong đó có các đảng ủy ở Trung ương, các tỉnh ủy, thành ủy. Tinh thần là vừa kiểm tra, giám sát, vừa đôn đốc, tháo gỡ khó khăn, vừa phát hiện cách làm mới để nhân rộng, chứ không làm theo kiểu hình thức, đối phó.
Bản thân tôi cũng đã trực tiếp làm việc, dự hội nghị triển khai với Quân ủy Trung ương, với Đảng ủy Công an Trung ương; đồng thời trực tiếp làm Trưởng đoàn kiểm tra, giám sát đối với Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội và Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội. Điều đó thể hiện rất rõ yêu cầu nêu gương trong lãnh đạo, chỉ đạo: đã xác định kiểm tra, giám sát là một phương thức lãnh đạo của Đảng thì lãnh đạo cấp cao phải trực tiếp làm, trực tiếp nghe, trực tiếp kiểm tra, trực tiếp chỉ đạo và trực tiếp chịu trách nhiệm về kết quả.
Mục tiêu cuối cùng là làm cho toàn hệ thống vận hành có kỷ luật hơn, minh bạch hơn, quyết liệt hơn và hiệu quả hơn. Kỷ luật phải để hành động tốt hơn; giám sát phải để kết quả rõ hơn; kiểm tra phải góp phần tháo gỡ khó khăn, siết chặt trách nhiệm, bảo đảm Nghị quyết Đại hội XIV và các nghị quyết của Trung ương được triển khai nghiêm túc, thống nhất, hiệu quả trong toàn Đảng.
* Năm 2026 là năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Bí thư Quân ủy Trung ương có điều gì căn dặn cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam?
- Quân đội nhân dân Việt Nam luôn là lực lượng tiên phong, gương mẫu, nói đi đôi với làm. Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, Quân đội càng phải phát huy tốt hơn truyền thống ấy, phải thật sự mẫu mực về bản lĩnh chính trị, tinh thần hành động, kỷ luật, hiệu quả công tác và chất lượng tổ chức thực hiện nghị quyết.
Trước hết, toàn quân phải quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII và các chương trình hành động của Quân ủy Trung ương; nhưng quán triệt không dừng ở nhận thức mà phải chuyển thành việc làm cụ thể ở từng cấp, từng ngành, từng đơn vị, từng cương vị công tác. Mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên phải xác định rõ việc gì cần làm ngay, việc gì là khâu đột phá, ai chịu trách nhiệm và kiểm tra bằng cách nào.
Toàn quân phải đặc biệt coi trọng công tác chính trị, tư tưởng, xây dựng Đảng bộ Quân đội thật sự trong sạch, vững mạnh; giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội; giữ vững phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ; xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, khả năng sẵn sàng chiến đấu, quản lý kỷ luật, xây dựng chính quy, đẩy mạnh chuyển đổi số và tiến lên hiện đại.
Tôi đặc biệt lưu ý vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ. Cán bộ càng ở cương vị cao càng phải mẫu mực về tác phong công tác, ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, nói đi đôi với làm. Mỗi cán bộ phải dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo vì lợi ích chung; phải được đào tạo, bồi dưỡng toàn diện, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội trong tình hình mới. Đồng thời, tăng cường kiểm tra, giám sát, giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương; bảo đảm mọi chủ trương, nghị quyết được thực hiện nghiêm túc, hiệu quả.
Kết quả thực hiện nghị quyết trong Quân đội phải được đo bằng chuyển biến thực chất trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng đơn vị, chấp hành kỷ luật và niềm tin của nhân dân đối với Quân đội. Quyết tâm cao phải biến thành kết quả rõ; hành động phải chắc, trúng và hiệu quả đến cùng. Quân đội phải tiếp tục là lực lượng đi đầu trong hành động, gương mẫu trong kỷ luật, nói đi đôi với làm, làm đến đâu chắc đến đó, "quyết tâm gấp mười lần, hành động gấp trăm lần", góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên phát triển mới.
* Trân trọng cảm ơn Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Bí thư Quân ủy Trung ương!
Tin Gốc: https://thanhnien.vn/hanh-dong-dot-pha-bien-quyet-sach-thanh-ket-qua-185260412141156974.htm

Tại phiên bế mạc Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ X, nhiệm kỳ 2026 - 2031, diễn ra sáng 13.5, ông Nguyễn Anh Tuấn, Ủy viên T.Ư Đảng, Phó chủ tịch Ủy ban T.Ư Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa XI, Chủ tịch Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, đã trình bày báo cáo tổng hợp ý kiến tham luận, thảo luận của các đại biểu dự đại hội.
Báo cáo cho thấy nhiều ý kiến tâm huyết, trách nhiệm, tập trung đề xuất các giải pháp nhằm phát huy vai trò của Mặt trận trong giai đoạn mới.
Theo ông Nguyễn Anh Tuấn, đại hội đã nhận được 106 tham luận, trong đó có 40 tham luận của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tỉnh, thành phố; 48 tham luận của các tổ chức thành viên và 18 tham luận của các cá nhân tiêu biểu. Bên cạnh đó, có 8 ý kiến phát biểu trực tiếp tại hội trường cùng 51 ý kiến thảo luận tại các trung tâm thảo luận và nhiều góp ý bằng văn bản.
Nhiều đại biểu bày tỏ phấn khởi trước những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới đất nước, khẳng định sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục là nhân tố quan trọng góp phần vào sự phát triển của đất nước.
Các ý kiến cũng đánh giá cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; đồng thời nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm "dân là gốc".
Một trong những nội dung được nhiều đại biểu quan tâm là tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt chính trị của Mặt trận và các tổ chức thành viên trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Các ý kiến đề nghị tăng cường công tác vận động, tập hợp đồng bào dân tộc thiểu số, phát huy vai trò của người có uy tín, cá nhân tiêu biểu trong cộng đồng dân cư, trong các dân tộc và tôn giáo.
Bên cạnh đó, các đại biểu đề xuất đổi mới mạnh mẽ công tác tuyên truyền, nắm bắt tình hình nhân dân, đa dạng hóa các kênh tiếp cận thông tin và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động của Mặt trận.
Nhiều ý kiến cho rằng cần xây dựng "Mặt trận số", hoàn thiện nền tảng số dùng chung toàn hệ thống để phục vụ công tác điều hành, giám sát, phản biện xã hội cũng như tiếp nhận ý kiến, kiến nghị của nhân dân.
Công tác giám sát và phản biện xã hội tiếp tục được các đại biểu đặc biệt quan tâm. Theo đó, nhiều ý kiến đề nghị hoàn thiện cơ chế giám sát việc giải quyết các kiến nghị sau giám sát; huy động chuyên gia, nhà khoa học, người có kinh nghiệm tham gia phản biện xã hội; đồng thời nghiên cứu quy định rõ trách nhiệm và chế tài đối với các cơ quan trong việc tiếp thu, phản hồi kiến nghị của Mặt trận.
Trong lĩnh vực an sinh xã hội, nhiều tham luận đề xuất tiếp tục đẩy mạnh các chương trình chăm lo cho người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và những địa bàn khó khăn.
Các đại biểu cũng nhấn mạnh yêu cầu phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; phát huy vai trò của đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, doanh nhân, chức sắc tôn giáo trong các phong trào thi đua yêu nước và hoạt động vì cộng đồng.
Đáng chú ý, nhiều ý kiến đề nghị Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cần tiếp tục thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ, phát huy vai trò của trí thức, chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài nước phục vụ phát triển đất nước. Đồng thời, cần hình thành mạng lưới tình nguyện viên số, phổ cập kỹ năng số tại cơ sở và tăng cường tập huấn cho đội ngũ cán bộ Mặt trận.
Liên quan đến tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ, nhiều đại biểu đề xuất tiếp tục hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các tổ chức thành viên, nâng cao vai trò Ban Công tác Mặt trận ở khu dân cư; đồng thời quan tâm cơ chế, chính sách cho cán bộ Mặt trận, đặc biệt là đội ngũ ở cơ sở và cán bộ không chuyên trách tại thôn, tổ dân phố.
Báo cáo cũng tổng hợp nhiều kiến nghị gửi tới Đảng, Nhà nước như thường xuyên tổ chức gặp mặt trí thức, chuyên gia đầu ngành để lắng nghe hiến kế; tiếp tục đầu tư hạ tầng thiết yếu ở khu vực biên giới; tạo cơ chế hỗ trợ các tổ chức xã hội và nâng cao chế độ đãi ngộ đối với cán bộ cơ sở trực tiếp tham gia các mô hình tự quản.
Thay mặt Đoàn Chủ tịch đại hội, ông Nguyễn Anh Tuấn khẳng định, các ý kiến đóng góp sẽ được tiếp thu đầy đủ để hoàn thiện văn kiện, chương trình hành động và các giải pháp triển khai trong nhiệm kỳ mới.
Tin Gốc: Thanh Niên

Tối 7.5, sau khi kết thúc tốt đẹp chuyến thăm Ấn Độ, chuyên cơ chở Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã hạ cánh xuống sân bay quốc tế Bandaranaike, thủ đô Colombo (Sri Lanka) bắt đầu thăm cấp nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa dân chủ Sri Lanka từ ngày 7 - 8.5, theo lời mời của Tổng thống Sri Lanka Anura Kumara Dissanayake.
Tham gia đoàn chính thức có: Trưởng ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Duy Ngọc; Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị; Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phan Văn Giang; Bộ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang; Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung; Bí thư Thành ủy TP.HCM Trần Lưu Quang; Chánh văn phòng Trung ương Đảng Nguyễn Hải Ninh; Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Doãn Anh; Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước Lê Khánh Hải; Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn; Bộ trưởng Bộ KH-CN Vũ Hải Quân; Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan; Bộ trưởng Bộ Công thương Lê Mạnh Hùng; Trợ lý Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, phụ trách Văn phòng Tổng Bí thư Tô Ân Xô; Đại sứ Việt Nam tại Sri Lanka Trịnh Thị Tâm.
Đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam tại sân bay có Thủ tướng Sri Lanka Harini Amarasuriya và một số thành viên Chính phủ Sri Lanka, Đại sứ Việt Nam tại Sri Lanka Trịnh Thị Tâm, cùng đông đảo cán bộ, nhân viên đại sứ quán và đại diện cộng đồng người Việt Nam tại Sri Lanka.
Tại sân bay, đội tiêu binh danh dự đứng dọc thảm đỏ và các nghệ sĩ Sri Lanka biểu diễn các điệu múa truyền thống chào mừng Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam. Thủ tướng Sri Lanka Harini Amarasuriya đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại chân cầu thang máy bay.
Hai thiếu nhi tặng Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm lá trầu thể hiện sự hiếu khách theo phong tục của Sri Lanka. Tiếp đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng Sri Lanka Harini Amarasuriya đi dọc thảm đỏ, duyệt đội tiêu binh danh dự.
Trong suốt 56 năm kể từ khi Việt Nam và Sri Lanka thiết lập quan hệ ngoại giao vào ngày 21.7.1970, quan hệ hữu nghị truyền thống giữa hai nước đã không ngừng được củng cố và phát triển trên nhiều lĩnh vực.
Chuyến thăm cấp nhà nước tới Sri Lanka của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm lần này góp phần củng cố mối quan hệ hữu nghị truyền thống, thắt chặt tình cảm hữu nghị chân thành giữa lãnh đạo và nhân dân hai nước đã được xây dựng trong suốt chiều dài lịch sử; sẽ trở thành dấu mốc chính trị quan trọng, tạo xung lực mới và mở ra giai đoạn phát triển mới cho quan hệ hai nước với tin cậy chính trị được tăng cường ở mức cao hơn, hợp tác trên phạm vi và tầm mức sâu rộng hơn, hiệu quả và thực chất hơn.
Tin Gốc: Thanh Niên

