Ngày 20.4, đại diện Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Cà Mau (CDC Cà Mau) xác nhận các ca viêm não mô cầu tại ấp 6 xã Khánh An đã được kiểm soát sau 10 ngày kể từ thời điểm phát hiện ca bệnh đầu tiên. Đến nay, ngành y tế không ghi nhận thêm trường hợp mắc mới liên quan, cho thấy chuỗi lây truyền đã được cắt đứt.
Diễn biến các ca bệnh được xác định bắt đầu từ ngày 10.4 khi CDC Cà Mau ghi nhận 3 trường hợp nghi mắc bệnh do não mô cầu. Qua điều tra dịch tễ và kết quả xét nghiệm của Viện Pasteur TP.HCM, có 2 ca được xác định dương tính, trong đó có 1 ca tử vong.
Ngành y tế tỉnh ngay lập tức điều tra dịch tễ, khoanh vùng và xử lý ổ dịch. Lực lượng chức năng yêu cầu những người tiếp xúc gần theo dõi sức khỏe trong 10 ngày; đồng thời khử khuẩn môi trường khu vực có yếu tố dịch tễ. Cơ quan chức năng cũng lập danh sách, quản lý, theo dõi sức khỏe và cho uống thuốc dự phòng Azithromycin 0,5 g liều duy nhất đối những người tiếp xúc gần và người có liên quan dịch tễ.
Như Thanh Niên đã thông tin, trước đó trên địa bàn ấp 6, xã Khánh An (Cà Mau) ghi nhận 3 trường hợp nghi mắc viêm não mô cầu, trong đó có 1 trường hợp đã tử vong.
Trường hợp đầu tiên nhập viện chiều 7.4 trong tình trạng lơ mơ, kích thích, xuất hiện chấm xuất huyết, nôn ói nhiều lần, được chẩn đoán ban đầu sốt chưa rõ nguyên nhân.
Trường hợp thứ 2 nhập viện tối 8.4 với biểu hiện sốt cao, lơ mơ, thở nhanh, nhanh chóng chuyển nặng, rơi vào hôn mê sâu và tử vong rạng sáng 9.4.
Trường hợp thứ 3 nhập viện ngày 9.4 sau nhiều ngày sốt cao kéo dài, kèm ho, đau cơ, tụt huyết áp, có dấu hiệu tràn dịch màng phổi, xuất huyết dưới da…
Tin Gốc: Thanh Niên

Tiến sĩ Lê Thị Hương Giang, trưởng khoa Tiết chế Dinh dưỡng, Bệnh viện 19-8 (Bộ công an), cho biết các món thịt ướp nhiều đường, mật ong rồi nướng hoặc chiên ở nhiệt độ cao dễ tạo ra HCA (Heterocyclic Amines) và PAH (Polycyclic Aromatic Hydrocarbons). Đây là các hợp chất có liên quan đến tăng nguy cơ ung thư nếu tiêu thụ thường xuyên trong thời gian dài.
Theo Viện Ung thư Quốc gia Mỹ, HCA hình thành khi protein động vật (thịt bò, thịt gà, thịt lợn...) nướng trực tiếp trên ngọn lửa ở nhiệt độ cao. Quá trình này xảy ra rõ khi thịt bị cháy xém. Các thí nghiệm trên động vật cho thấy hấp thụ lượng lớn HCAs có thể làm thay đổi ADN trong cơ thể, dẫn đến ung thư gan, dạ dày, đại trực tràng, phổi...
Trong khi đó, PAH là chất gây ung thư theo phân loại của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), có liên quan đến bệnh ung thư phổi. Hợp chất này cũng có thể làm giảm chức năng phổi, trầm trọng thêm bệnh hen suyễn, tăng tỷ lệ mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. PAH được sinh ra khi mỡ từ thịt nhỏ giọt xuống bếp than, tạo ra khói độc. Khói này bám lên bề mặt thịt, nhất là các phần cháy xém. Nếu thường xuyên ăn thịt nướng cháy, cơ thể hấp thụ đồng thời cả HCA và PAH, tăng nguy cơ mắc ung thư.
Bác sĩ Nguyễn Huy Hoàng, thành viên Hội Y học dưới nước và Oxy cao áp Việt Nam, cho biết trong khói nướng còn chứa bụi mịn, khí độc và nhiều hợp chất có khả năng gây hại. "Nguy cơ tăng khi mỡ nhỏ xuống than hoặc bề mặt nóng, mỡ cháy tạo ra khói đậm đặc, bám ngược lại vào miếng thịt, đồng thời lan ra môi trường xung quanh", bác sĩ nói.
Trong đó, bụi mịn PM2.5 là tác nhân nguy hiểm, đường kính không quá 2,5 micromet. Kích thước này nhỏ hơn nhiều so với sợi tóc người. Vì vậy, chúng có thể vượt qua lớp lọc tự nhiên ở mũi và họng, đi sâu xuống phế nang, gây hại sức khỏe.
Nướng bằng than, đặc biệt trong không gian kín còn làm tăng nguy cơ ngộ độc carbon monoxide. Khí này không màu, không mùi, nhưng rất nguy hiểm. Người tiếp xúc có thể đau đầu, chóng mặt, buồn nôn, ngất, thậm chí tử vong nếu nồng độ cao và kéo dài.
Theo bác sĩ, phổi là cơ quan chịu tác động đầu tiên. Khi hít khói nướng, niêm mạc đường hô hấp bị kích thích. Người khỏe mạnh có thể ho, cay mắt, rát họng, tức ngực. Người có viêm mũi dị ứng, hen suyễn hoặc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính dễ bị nặng hơn.
Khói nướng gây hại hệ tim mạch, hệ thần kinh. Thận cũng là cơ quan dễ bị ảnh hưởng vì phải lọc máu liên tục. Các hạt bụi mịn và chất độc trong khói nướng có thể góp phần làm tổn thương mạch máu nhỏ ở thận. Người đứng gần bếp còn hít trực tiếp khói thường có nguy cơ cao hơn.
Theo bác sĩ, nhóm cần chú ý đầu tiên là nhân viên quán nướng, đầu bếp và người phục vụ trong nhà hàng lẩu nướng, phải tiếp xúc với khói nhiều giờ mỗi ngày. Nhóm này nguy cơ gặp kích ứng mắt, mũi, họng, viêm phế quản, đau đầu, mệt mỏi và stress nhiệt, mất nước.
Người có bệnh hô hấp, trẻ em bị hen, người lớn có viêm mũi dị ứng, người mắc COPD hoặc từng bị viêm phổi nặng nên hạn chế ngồi trong môi trường nhiều khói. Người có bệnh tim mạch, tăng huyết áp, bệnh thận mạn, đái tháo đường hoặc người cao tuổi cũng nên cẩn thận.
Phụ nữ mang thai nên hạn chế ngồi trong môi trường nhiều khối bụi. Không chỉ vì nguy cơ từ thực phẩm chưa chín kỹ, mà còn vì khói, bụi mịn và khí CO có thể ảnh hưởng đến oxy cung cấp cho cơ thể. Nếu muốn ăn đồ nướng, nên chọn nơi thoáng, tránh ngồi gần bếp than và không ăn phần cháy.
Để an toàn, bạn nên giảm tần suất ăn nướng. Nếu ăn ở nhà hàng, nên ưu tiên nơi có hệ thống hút khói tốt. Không nên nướng than trong phòng kín, ban công kín. Nên chọn nguyên liệu ít mỡ hơn, cắt bớt mỡ, bỏ da, chọn phần thịt nạc hơn hoặc xen kẽ cá, rau củ, nấm.
Nên ướp thực phẩm đúng cách. Các loại gia vị như tỏi, hương thảo, húng tây, tiêu, nghệ, gừng, chanh hoặc giấm có thể góp phần giảm phản ứng oxy hóa trong quá trình nướng. Nước ướp có tính axit nhẹ cũng giúp hạn chế cháy bề mặt. Tuy nhiên, không nên ướp quá nhiều đường vì đường dễ cháy và làm miếng thịt nhanh đen.
Nướng ở nhiệt vừa. Không đặt thịt sát ngọn lửa. Không để lửa táp trực tiếp vào thực phẩm. Nên lật thường xuyên để thịt chín đều, tránh một mặt bị cháy. Miếng thịt nhỏ và mỏng sẽ chín nhanh hơn, cần ít thời gian tiếp xúc với nhiệt cao hơn. Sử dụng giấy bạc, khay nướng, không ăn phần cháy đen. Khi nướng, chỉ cần tạo màu và mùi thơm vừa phải. Không nên lạm dụng nhiệt quá cao hoặc nướng quá lâu. Sau khi ăn hoặc đứng bếp nướng, bạn nên thay quần áo và tắm nếu bị ám khói nhiều.
Tin Gốc: Vnexpress
Sức Khỏe
Bộ Y tế thúc đẩy phát triển công nghệ robot điều trị bệnh khó, ung thư

Thông tin được TS.BS Vương Ánh Dương - Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khám chữa bệnh (Bộ Y tế), chia sẻ trong Talkshow do báo Tuổi Trẻ phối hợp cùng Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh tổ chức, với chủ đề: "Trung tâm Robot" phẫu thuật thế hệ mới: Bước tiến điều trị bệnh khó và ung thư phức tạp, ngày 15-5 vừa qua.
Mở đầu buổi talkshow, TS.BS Vương Ánh Dương cho biết hệ thống y tế Việt Nam đang có bước phát triển mạnh mẽ trong ứng dụng công nghệ cao, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI) và phẫu thuật robot.
Có 200 kỹ thuật mới đã được cập nhật vào danh mục chuyên môn như robot phục hồi chức năng, robot phẫu thuật ngoại khoa, nội soi, chẩn đoán hình ảnh… Hiện còn hơn 500 danh mục kỹ thuật đang chờ bổ sung.
TS.BS Vương Ánh Dương, Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khám chữa bệnh - Bộ Y tế trong chương trình.
Theo TS Dương, trong số các kỹ thuật mới được cập nhật có nhiều công nghệ điển hình đang triển khai tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh như robot Da Vinci Xi trong điều trị ung thư và các bệnh phức tạp, robot CUVIS-Joint trong thay khớp và robot Modus V Synaptive phẫu thuật sọ não, cột sống và tủy sống...
Đây được xem là bước phát triển đồng bộ của ngành y tế trong xu hướng chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ cao vào khám chữa bệnh.
TTƯT.PGS.TS.BS Vũ Lê Chuyên, Giám đốc Trung tâm Tiết niệu - Thận học - Nam khoa, Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM, một trong những chuyên gia đầu tiên ứng dụng cả 2 dòng robot Da Vinci Si và Xi trong điều trị ung thư và các bệnh thận - tiết niệu phức tạp tại Việt Nam, cho rằng hành trình phát triển phẫu thuật robot trong nước là bước tiến đáng ghi nhận của ngành y tế.
Theo ông, tại Bệnh viện, phẫu thuật robot hiện được triển khai ở nhiều chuyên khoa như tiết niệu, tiêu hóa, gan mật tụy, lồng ngực, sản phụ khoa, thần kinh-sọ não, chấn thương chỉnh hình…
Riêng hệ thống robot Da Vinci Xi, sau hơn một năm triển khai êkíp đã thực hiện thành công hơn 340 ca mổ đa chuyên khoa.
Theo PGS Chuyên, hiệu quả điều trị ung thư tiết niệu và các bệnh hẹp khúc nối bể thận - niệu quản, u nang thận… bằng hệ thống robot này cũng được cải thiện rõ rệt so với nhiều phương pháp trước đây. Chẳng hạn, robot hỗ trợ bác sĩ thao tác chính xác hơn, bảo tồn mô lành tốt hơn, giảm mất máu, giảm đau sau mổ và rút ngắn thời gian hồi phục.
TTƯT.PGS.TS.BS Vũ Lê Chuyên.
"Nếu trước đây phẫu thuật robot từng bị xem là kỹ thuật "xa xỉ", khó triển khai tại Việt Nam, thì nay nhận thức của xã hội, người bệnh và cơ quan quản lý đã thay đổi đáng kể", PGS Chuyên nói, thêm rằng để vận hành hiệu quả một hệ thống robot không chỉ cần máy móc hiện đại mà còn đòi hỏi quy trình chuẩn hóa, hệ thống gây mê hồi sức, kỹ sư y sinh, kỹ thuật viên và phối hợp đa chuyên khoa.
TTƯT.ThS.BS.CKII Chu Tấn Sĩ, Trưởng khoa Ngoại Thần kinh - Cột sống, Trung tâm Khoa học Thần kinh, Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM, cho biết trong 10 năm qua, phẫu thuật thần kinh đã chuyển dịch từ mổ mở sang phẫu thuật xâm lấn tối thiểu bằng robot, hướng đến an toàn hơn, phục hồi nhanh hơn và cá thể hóa điều trị cho từng bệnh nhân.
TTƯT.ThS.BS.CKII Chu Tấn Sĩ.
Theo bác sĩ Tấn Sĩ, robot AI Modus V Synaptive và hệ thống định vị thần kinh tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh giúp phẫu thuật viên mô phỏng trước cuộc mổ, xác định "hành lang an toàn" để hạn chế tối đa tổn thương mô lành, tránh biến chứng thần kinh sau mổ.
Nhờ đó, nhiều trường hợp phức tạp, không thể mổ trước đây, nay đã được phẫu thuật thành công bằng robot với đường mổ nhỏ, độ chính xác cao, hồi phục ngoạn mục.
Ở lĩnh vực cơ xương khớp, ThS.BS.CKI Đặng Khoa Học, Trưởng khoa Chấn thương Chỉnh hình Tổng quát, Trung tâm Chấn thương Chỉnh hình, Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM, cho biết các công nghệ chẩn đoán hiện đại tại bệnh viện như MRI, CT ứng dụng AI cùng robot AI CUVIS-Joint và hệ thống định vị giúp bác sĩ cá thể hóa điều trị, phẫu thuật chính xác, giảm sai số do thao tác chủ quan, an toàn cho người bệnh.
ThS.BS.CKI Đặng Khoa Học.
Theo PGS Chuyên, để xây dựng "Trung tâm Robot" phẫu thuật đa chuyên khoa, Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh đã đầu tư đồng bộ từ trang thiết bị, nhân lực, hạ tầng đến quy trình chuyên môn, quản lý chất lượng theo chuẩn quốc tế.
Những năm gần đây, bệnh viện đón hàng chục ngàn kiều bào và khách quốc tế đến Việt Nam điều trị mỗi năm nhờ chất lượng chuyên môn ngày càng nâng cao cùng chi phí hợp lý hơn so với nhiều quốc gia khác.
"Mục tiêu cuối cùng vẫn là người bệnh được điều trị an toàn nhất và có chất lượng sống tốt nhất", PGS Chuyên nhấn mạnh.
Các chuyên gia cho rằng "nút thắt" lớn nhất trong phát triển các trung tâm phẫu thuật robot hiện nay không chỉ ở công nghệ mà còn phụ thuộc vào nhân lực, cơ chế vận hành và khả năng tiếp cận của người bệnh.
Để AI và robot phát huy hiệu quả, cần đồng bộ từ hành lang pháp lý, đào tạo nhân lực, đầu tư hạ tầng đến chuẩn hóa quy trình điều trị và thanh toán BHYT.
TS Dương nhận định AI và robot chủ yếu đóng vai trò hỗ trợ, còn quyết định điều trị vẫn thuộc về người thầy thuốc. Theo ông, thách thức lớn là xây dựng mô hình phù hợp với từng địa phương và đảm bảo người dân được tiếp cận công bằng với dịch vụ y tế công nghệ cao.
Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh ứng dụng robot phẫu thuật Da Vinci Xi điều trị ung thư và các bệnh lý phức tạp từ tiết niệu, tiêu hóa, lồng ngực đến sản phụ khoa…
Để phát triển hệ sinh thái phẫu thuật robot bền vững, theo PGS Chuyên cần giải quyết ba vấn đề cốt lõi gồm nhân lực, quy trình chuẩn hóa và tài chính y tế. Ông nhấn mạnh không phải bệnh lý nào cũng cần mổ robot, do đó cần hướng dẫn chuyên môn rõ ràng để tránh lạm dụng kỹ thuật.
Bác sĩ Tấn Sĩ cho rằng việc phát triển trung tâm robot cần đi cùng chiến lược dài hạn về con người, trang thiết bị và tính đồng bộ giữa các hệ thống công nghệ để phát huy tối đa hiệu quả điều trị.
Theo TS Dương, hiện đã có hơn 50 kỹ thuật phẫu thuật robot được cấp phép triển khai và tiếp tục cập nhật thêm các kỹ thuật ứng dụng trí tuệ nhân tạo.
Với AI trong y tế, Bộ Y tế đang tiếp tục xây dựng các quy định chuyên biệt để hoàn thiện hành lang pháp lý và thúc đẩy phát triển công nghệ an toàn, hiệu quả hơn.
TS Dương cho biết định hướng phát triển y tế giai đoạn 2026 - 2035 sẽ tập trung phát triển công nghệ cao, nâng năng lực hệ thống y tế và từng bước đưa chất lượng điều trị của Việt Nam tiệm cận các nước trong khu vực, qua đó giảm tình trạng người bệnh ra nước ngoài chữa trị.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Sức Khỏe
Nhiễm vi khuẩn H. pylori có thể gây ung thư dạ dày, phòng lây nhiễm thế nào?

Nỗi lo này càng tăng lên khi được giải thích rằng đây là các thương tổn tiền ung thư dạ dày.
Tuổi Trẻ Online xin giới thiệu ý kiến của GS.TS Trần Thiện Trung về mối liên quan và cách phòng bệnh.
Viêm dạ dày do nhiễm vi khuẩn H. pylori có thể đưa đến viêm teo niêm mạc, dị sản ruột, loạn sản.
Đây là yếu tố nguy cơ quan trọng của ung thư dạ dày, đặc biệt là ở những chủng H. pylori có biểu hiện với gene cagA và vacA-dương tính, trong đó gene vacA m1 có liên quan đến mức độ biệt hóa của ung thư, đến viêm teo niêm mạc và dị sản ruột trên người bệnh Việt Nam ở khu vực phía Nam và TP.HCM.
Vi khuẩn H. pylori được Robin Warren và Barry Marshall tìm ra tại Perth, phía Tây Úc vào tháng 4 năm 1982, kể từ đó đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vi khuẩn này gây bệnh trên người.
Ngày 3-10-2005, sau 23 năm phát hiện ra vi khuẩn H. pylori, hai GS người Úc là Robin Warren và Barry Marshall được trao giải Nobel Y học và Sinh lý học vì đã có những khám phá to lớn cho khoa học về vi khuẩn H. pylori gây bệnh viêm dạ dày, loét dạ dày - tá tràng và ung thư dạ dày.
Năm 1994, Tổ chức Quốc tế nghiên cứu về ung thư (IARC: International Agency for Research on Cancer), và Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã xếp H. pylori là nguyên nhân hàng đầu hay là nhóm 1 gây ung thư biểu mô tuyến dạ dày.
Theo phân loại viêm dạ dày của hệ thống Sydney (1990) và Sydney cập nhật (1994) tại Houston, Texas, Hoa Kỳ, cập nhật các tiêu chuẩn về sự phân chia các mức độ và các thương tổn của viêm dạ dày có hoặc không kèm theo viêm teo niêm mạc cũng như các thương tổn “tiền ung thư” khác như: dị sản ruột/chuyển sản ruột (intestinal metaplasia) và loạn sản/nghịch sản (dysplasia).
Các thương tổn trên được coi là tiền ung thư nhưng không phải tất cả đều gây bệnh ung thư dạ dày. Trên thế giới, liên quan giữa bệnh nhân có dị sản ruột hay chuyển sản thì nguy cơ ung thư dạ dày sẽ tăng lên gấp 6 -10 lần. Tại Việt Nam, tỉ lệ này là 5,3 lần.
Về chẩn đoán các thương tổn tiền ung thư dạ dày cần phải dựa trên mô bệnh học niêm mạc dạ dày (giải phẫu bệnh), nội soi chỉ có tính gợi ý quan sát. Vì vậy ghi chẩn đoán các thương tổn trên ở đơn thuốc ngay sau khi nội soi dạ dày là chưa chính xác, điều đó làm cho người bệnh thêm lo lắng, hoang mang.
Điều trị tiệt trừ H. pylori thành công có thể ngăn ngừa được sự tiến triển thành ung thư dạ dày, các thương tổn viêm teo niêm mạc, tiền ung thư đều giảm, và có khả năng phục hồi lại bình thường của niêm mạc dạ dày.
Tuy nhiên, đối với ung thư dạ dày, một vấn đề quan trọng đặt ra cho đến nay là còn chưa biết rõ tiến trình viêm teo niêm mạc - dị sản ruột - loạn sản - ung thư dạ dày xảy ra khi nào, vào thời điểm nào, và sau khi điều trị tiệt trừ H. pylori thì có thay đổi, đảo ngược được tiến trình này hay không? Có thể phòng ngừa hoàn toàn được ung thư dạ dày hay không?
Vì vậy, cần có những nghiên cứu tiếp tục theo nhiều hướng khác nhau, và người bệnh cần phải được theo dõi lâu dài để làm sáng tỏ thời điểm, nguồn gốc phát sinh cũng như các điều kiện để viêm dạ dày tiến triển thành các thương tổn tiền ung thư và ung thư dạ dày như đã được biết đến trong những nghiên cứu của các thập kỷ qua.
Cách ăn uống đúng cách có vai trò quan trọng trong phòng bệnh, vì phòng bệnh hiệu quả hơn chữa bệnh. Với các bệnh dạ dày, mục tiêu chữa trị không chỉ là hết triệu chứng mà còn giúp người bệnh ăn uống trở lại bình thường.
Để làm được điều này, mỗi gia đình từ ông bà, cha mẹ đến con cháu cần biết và quyết tâm thay đổi thói quen ăn uống. Vì dùng đũa, muỗng (thìa) của mình đang ăn để lấy/gắp thức ăn chung hoặc lấy thức ăn cho người khác, uống chung... là nguồn lây bệnh chủ yếu.
Tùy điều kiện sinh hoạt, có thể áp dụng cách ăn uống phù hợp nhằm hạn chế nguy cơ lây nhiễm và tái nhiễm vi khuẩn H. pylori.
- Cách thứ nhất: Dọn mỗi người một phần ăn riêng hoặc một khay ăn riêng như ở Pháp, Nhật Bản..., và gần đây đang được áp dụng tại Việt Nam.
- Cách thứ hai: Ngồi ăn chung, mỗi người một chén nước chấm riêng, mỗi món ăn có muỗng chung, đũa chung để lấy thức ăn, không dùng đũa/muỗng mình đang ăn gắp/lấy thức ăn.
- Cách thứ ba: Cách ăn ở một số nơi là dùng đũa gắp/lấy thức ăn chung, và dùng muỗng/thìa của mình để ăn.
- Cách thứ tư: Cách ăn dọn từng món của người Pháp và các nước tiên tiến gần đây được dùng trong các nhà hàng Việt Nam.
- Cách thứ năm: Khi ăn chung, gắp thức ăn chung, phải trở đầu đũa hay còn gọi là “ăn đũa hai đầu”.
Bên cạnh đó, sinh hoạt ăn uống điều độ, đúng giờ. Ăn uống đủ chất dinh dưỡng, thức ăn rau sống rửa không sạch, nên nấu chín. Ăn nhiều rau xanh, trái cây, hạn chế ăn mặn, thịt cá ướp muối, hun khói, thực phẩm được bảo quản bằng nitrat…
Trong khi điều trị ở giai đoạn viêm dạ dày cấp, có thể hạn chế các thức ăn cay, chua. Sau điều trị cần cho người bệnh ăn uống bình thường.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

