Ngân hàng Hàng hải Việt Nam (MSB) cho biết sẽ thu giữ tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp ký với Công ty cổ phần Hàng không Tre Việt (Bamboo Airways).
Danh mục tài sản gồm 387 quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại khu phức hợp Đak Đoa, khu đô thị du lịch sinh thái Nhơn Hội (Gia Lai) và khu đô thị du lịch sinh thái FLC Sầm Sơn (Thanh Hóa). Tất cả tài sản do Tập đoàn FLC đứng tên.
Đầu tháng này, Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) cũng thông báo thu giữ tài sản đảm bảo của khoản nợ xấu tại Bamboo Airways, sau khi bên vay lẫn bên bảo đảm không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo yêu cầu. Tài sản thu giữ là quyền sử dụng đất hơn 86.300 m2 tại Đak Đoa, Gia Lai.
Saombank cho biết đã gửi yêu cầu bên vay và bên bảo đảm tự nguyện bàn giao tài sản trước ngày 27/3, nhưng không được đáp ứng. Do đó, ngân hàng dự kiến thu giữ tài sản từ ngày 22/4 đến 22/6.
Bamboo Airways được FLC thành lập từ giữa năm 2017 và bay chuyến thương mại đầu tiên từ đầu năm 2019. Ở giai đoạn cao điểm, Bamboo Airways từng vận hành 30 tàu bay, trong đó có cả đội bay thân rộng xuyên lục địa.
Đến tháng 5/2023, hãng tách ra khỏi FLC sau khi tập đoàn này chuyển nhượng toàn bộ cổ phần sở hữu tại hãng bay cho nhóm cổ đông do ông Lê Thái Sâm đại diện. Cuối tháng 9/2025, ông Sâm khi đó trong vai trò Chủ tịch HĐQT Bamboo Airways cho biết kế hoạch tái cấu trúc hãng bay trong hơn 2 năm qua đã không thành công và đề nghị FLC tiếp nhận lại quyền sở hữu và điều hành.
FLC đang trong quá trình khôi phục hoạt động, quy mô cho hãng hàng không này. Tập đoàn này đặt mục tiêu đưa đội bay trở lại quy mô 30 tàu bay. Về trung hạn, hãng dự kiến bổ sung 8-10 chiếc mỗi năm cho nhu cầu tăng tốc phát triển mạng bay đến 2030.
Tin Gốc: Vnexpress
Kinh Doanh
Từ vụ 3.000 tấn mì tươi chứa chất cấm: Đừng chuộng ‘trắng, dai, để lâu’

Trao đổi với Tuổi Trẻ Online, TS Nguyễn Bảo Toàn - khoa công nghệ thực phẩm, Trường đại học Công Thương TP.HCM - cho biết việc kéo dài thời gian bảo quản đối với nhóm thực phẩm tươi giàu tinh bột, độ ẩm cao như bún, mì tươi, bánh phở… là hoàn toàn có thể thực hiện bằng các biện pháp hợp pháp.
Vấn đề cốt lõi là phải kiểm soát vi sinh vật, độ ẩm, nhiệt độ, bao gói và nguy cơ tái nhiễm, thay vì dùng hóa chất công nghiệp hoặc chất bị cấm.
Các nghiên cứu về mì tươi và mì gạo ướt đều chỉ ra rằng sản phẩm này nhanh hỏng chủ yếu do hàm lượng nước cao, giàu dinh dưỡng, dễ nhiễm vi sinh vật và xảy ra biến đổi tinh bột, dẫn đến chua, nhớt, mốc, giảm độ dai và giảm chất lượng cảm quan.
"Vấn đề là cơ sở sản xuất phải đầu tư vào quy trình hợp pháp: kiểm soát vệ sinh, xử lý nhiệt, làm nguội nhanh, bao gói sạch, bảo quản lạnh, duy trì chuỗi lạnh và chỉ sử dụng phụ gia được phép theo đúng giới hạn. Hàn the, natri silicat hoặc các hóa chất ngoài danh mục không phải là giải pháp công nghệ, mà là hành vi vi phạm pháp luật, đánh đổi sức khỏe cộng đồng để giảm chi phí", TS Nguyễn Bảo Toàn cho hay.
Cũng theo TS Nguyễn Bảo Toàn, có thể lý giải nguyên nhân nhiều cơ sở vẫn bất chấp sử dụng chất cấm vào sản xuất thực phẩm như:
Lợi nhuận và chi phí sản xuất: Sản xuất đúng chuẩn đòi hỏi chi phí lớn như nhà xưởng tách biệt, nền thoát nước, nước sạch, thiết bị inox, khâu làm nguội sạch, bao gói, kho lạnh, xe lạnh, kiểm nghiệm định kỳ, hồ sơ truy xuất nguồn gốc.
Trong khi đó chất cấm như hàn the hoặc natri silicat có thể tạo hiệu ứng nhanh, làm sợi dai, giòn, khó đứt, lâu chua, lâu nhớt và dễ bán hơn.
Sản xuất nhỏ lẻ dễ bỏ qua tiêu chuẩn kỹ thuật: Ở nhiều cơ sở nhỏ, sản xuất bún, mì, bánh phở… vẫn theo mô hình thủ công, bán nhanh trong ngày, ít nhãn mác, ít kiểm nghiệm.
Khi muốn mở rộng sản lượng nhưng không đầu tư tương ứng vào thiết bị, nhà xưởng và bảo quản lạnh, một số đối tượng chọn cách dùng hóa chất để "giữ hàng".
Về bản chất, đây không chỉ là lỗi dùng sai phụ gia, mà là một mô hình sản xuất không kiểm soát được nguy cơ an toàn thực phẩm. Chất cấm chỉ là phần nổi của vấn đề; phần chìm là điều kiện sản xuất, quản lý chất lượng và truy xuất nguồn gốc yếu.
Áp lực thị trường: giá rẻ, đẹp mắt, dai lâu. Theo đó, nếu người mua sỉ, quán ăn hoặc người tiêu dùng cuối cùng chỉ quan tâm sản phẩm "trắng, dai, rẻ, để lâu không chua", cơ sở làm đúng có thể sẽ gặp bất lợi.
Sản phẩm không dùng chất cấm thường có hạn dùng ngắn hơn, đòi hỏi bảo quản lạnh và chi phí cao hơn. Trong khi đó sản phẩm vi phạm có thể bán rẻ hơn, vận chuyển xa hơn, để ngoài môi trường lâu hơn. Đây là dạng cạnh tranh không lành mạnh, cơ sở vi phạm dùng hóa chất để giảm chi phí và tăng sức cạnh tranh, còn cơ sở tuân thủ phải chịu chi phí cao hơn.
Cuối cùng là nhận thức sai: Một số người sản xuất vẫn xem hàn the, natri silicat như "mẹo nghề", bí quyết giữ sợi, dùng ít không sao. Đây là nhận thức sai nghiêm trọng.
Hàn the không phải phụ gia được tự do dùng trong bún, mì; natri silicat cũng không phải chất được phép tùy tiện cho vào thực phẩm. Về pháp lý, việc dùng phụ gia, hóa chất ngoài danh mục hoặc chất cấm có thể bị xử phạt hành chính, thậm chí truy cứu trách nhiệm hình sự nếu đủ yếu tố cấu thành.
TS Nguyễn Bảo Toàn cho rằng thị hiếu người tiêu dùng là một yếu tố góp phần tạo nhu cầu cho sản phẩm vi phạm, tuy nhiên đây không phải nguyên nhân duy nhất và không làm giảm trách nhiệm pháp lý của người sản xuất.
Với bún, mì, bánh phở… nhiều người tiêu dùng vẫn có thói quen đánh giá sản phẩm bằng cảm quan càng trắng, càng dai, càng giòn, càng để lâu không chua thì càng được cho là ngon. Tuy nhiên dưới góc độ an toàn thực phẩm, các dấu hiệu "quá hoàn hảo" này đôi khi lại cần được đặt câu hỏi, nhất là khi sản phẩm tươi không được bảo quản lạnh, không nhãn mác, không ngày sản xuất nhưng vẫn để lâu bất thường.
Các nghiên cứu về mì tươi và bún gạo tươi đều cho thấy sản phẩm này dễ hư hỏng do vi sinh vật và biến đổi chất lượng nếu không có biện pháp bảo quản phù hợp. Vì vậy việc người tiêu dùng kỳ vọng sản phẩm tươi nhưng để lâu có thể vô tình khuyến khích cơ sở sản xuất tìm cách kéo dài hạn dùng bằng biện pháp sai.
Tuy nhiên trách nhiệm chính vẫn thuộc về cơ sở sản xuất, kinh doanh vì cơ sở sản xuất có nghĩa vụ biết và tuân thủ quy định pháp luật. Ngoài ra người tiêu dùng không có điều kiện kiểm nghiệm hàn the, natri silicat hay các chất không được phép bằng mắt thường, vì vậy không thể đẩy trách nhiệm chính sang người mua.
Do đó người tiêu dùng nên chuyển từ tiêu chí "đẹp, dai, rẻ" sang tiêu chí "an toàn, rõ nguồn gốc, bảo quản đúng".
Tóm lại, các vụ việc phát hiện cơ sở sản xuất bún, mì tươi không đạt yêu cầu hiện nay cho thấy cần nhìn an toàn thực phẩm như một chuỗi trách nhiệm: nhà sản xuất cần phải tuân thủ pháp luật; cơ quan chức năng phải tăng kiểm tra, truy xuất và xử lý nghiêm; còn người tiêu dùng cần từ bỏ thói quen chuộng thực phẩm trắng bất thường, dai bất thường, rẻ bất thường, để lâu bất thường.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Người Mỹ đang tốn tiền nhiều hơn để mua bít tết hay hamburger, do giá thịt bò cao gần mức kỷ lục. Số liệu thống kê liên bang cho biết giá thịt bò xay trung bình chưa chế biến vào tháng 3 là 6,86 USD mỗi pound, tương đương 15,12 USD mỗi kg.
Giá này giảm 3 cent so với mức đỉnh thiết lập vào tháng 2 nhưng tăng gần 48% so với tháng 3/2021. Cơ quan chức năng và chuyên gia thừa nhận giá khó giảm trong ngắm hạn. "Không có dấu hiệu nào cho thấy giá thịt bò sẽ giảm", Derrell Peel, Giáo sư kinh tế nông nghiệp tại Đại học bang Oklahoma, nhận định.
Trong dự báo mới nhất, Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) ước tính giá thịt bò sẽ tăng hơn 10% trong năm 2026 và thậm chí có thể lên tới 18%.
Các giải pháp có thể giúp hạ nhiệt giá thịt bò đến nay đều gặp khó. Theo AP, dù không phải là yếu tố duy nhất khiến giá tăng cao nhưng số lượng đàn bò ngày càng giảm là lý do chính.
USDA cho biết đàn bò đạt đỉnh 132 triệu con vào năm 1975 và giảm dần xuống còn 86 triệu con năm nay. Nhờ những thay đổi di truyền học và kỹ thuật chăn nuôi, trọng lượng thịt trên mỗi con bò ngày càng tăng, giúp sản lượng cả nước đạt kỷ lục 28,4 tỷ pound (gần 13 triệu tấn) vào năm 2022. Năm nay, sản lượng dự báo khoảng 26 tỷ pound (gần 12 triệu tấn).
Song cải thiện năng suất vẫn không đủ để bù đắp tổng đàn bò suy giảm trong lúc nhu cầu thị trường tăng mạnh. Các chủ trang trại cho biết việc tăng đàn hiện không dễ. Thách thức hàng đầu là thời tiết, với khoảng 63% đàn gia súc của Mỹ nằm trong các khu vực hạn hán, theo USDA.
Một số khu vực không còn cỏ vì những vụ cháy rừng. Tim Petry, chuyên gia tiếp thị chăn nuôi của Đại học Bắc Dakota, nói nông dân cần mưa. "Phải có cỏ để nuôi bò vì chúng được chăn thả trên đồng hơn nửa năm và đó là vấn đề nan giải, buộc phải thanh lý bớt bò", ông nói.
Vào thời điểm này trong năm, các chủ trang trại sẽ quyết định có giữ lại bê cái để nhân giống hay không. Một yếu tố quan trọng là điều kiện đồng cỏ, theo Bernt Nelson, nhà kinh tế của Liên đoàn Nông trại Mỹ.
Thức ăn là chi phí cao nhất và do hạn hán ở Texas, Oklahoma, người nuôi phải vận chuyển từ nơi khác, khiến việc tăng đàn trở nên khó khăn. "Khi điều kiện đồng cỏ xấu đi và thiếu nước, một số bang thậm chí phải vận chuyển chúng từ các vùng khác, làm tăng chi phí đáng kể", ông nói.
Sở hữu trang trại hơn 2.000 mẫu đất (hơn 809 ha) gần Mandan, Bắc Dakota, bà Hatzenbuhler cho biết một số trang trại còn đang vật lộn để duy trì đàn bò hiện có. Theo bà, tình hình hiện tại là kết hợp cả thuận lợi của giá thịt lên cao nhưng cũng khó khăn về điều kiện tăng đàn.
Yếu tố khác khiến giá thịt bò tăng là Mỹ dừng nhập khẩu gia súc từ Mexico từ cuối 2024, để ngăn ký sinh trùng New World Screwworm lây lan. Việc này ảnh hưởng lớn đến các trại chuyên mua bò về nuôi vỗ béo rồi bán lại, với khoảng một triệu con bò từ Mexico đã không thể đến Mỹ.
Tổng thống Donald Trump kêu gọi tăng nhập khẩu thịt bò Argentina, nhưng theo ông Rusche, hạn ngạch mở rộng của nước này vẫn chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng sản lượng tiêu thụ của Mỹ.
Ngoài ra, các chủ trang trại thường đổ lỗi cho hệ thống chế biến thịt tập trung, chủ yếu do bốn công ty lớn chi phối, là nguyên nhân khiến giá tăng. Nhưng Viện Thịt - đại diện của các nhà chế biến, bác bỏ.
Họ cho rằng chính các nhà bán lẻ và doanh nghiệp dịch vụ ăn uống quyết định giá thịt bò đến tay người tiêu dùng, chứ không phải các lò mổ. Viện Thịt đồng thời khẳng định các nhà chăn nuôi gia súc đang "đạt lợi nhuận kỷ lục" trong khi các doanh nghiệp chế biến lại thua lỗ.
John Robinson, người phát ngôn của Hiệp hội Chăn nuôi bò quốc gia, nói có nhiều nguyên nhân khiến giá thịt bò cao. Theo ông, trong vài trường hợp, doanh nghiệp chế biến cũng có trách nhiệm, nhưng "mọi thứ phức tạp hơn nhiều so với cách mà đa số mọi người vẫn nghĩ".
Tin Gốc: Vnexpress
Kinh Doanh
Công ty chứng khoán khát vốn, nhiều nơi gần như đã sử dụng hết dư địa cho vay

Quý 1-2026 tiếp tục ghi nhận dư nợ margin toàn thị trường chứng khoán Việt Nam lập kỷ lục, đồng thời đánh dấu quý thứ 12 liên tiếp tăng trưởng. Nhu cầu vay ký quỹ tăng mạnh buộc các công ty chứng khoán phải liên tục tìm cách bổ sung vốn.
Nhờ các đợt tăng vốn, dư địa cho vay (tối đa gấp 2 lần vốn chủ sở hữu) của ngành vẫn được cải thiện. Theo thống kê tại hơn 40 công ty chứng khoán, dư địa cho vay bình quân đã nâng lên gần 46%.
Tuy nhiên, bức tranh không đồng đều khi vẫn có gần một nửa số công ty có dư địa thấp hơn mặt bằng chung. Đáng chú ý, nhiều trường hợp chỉ còn room cho vay dưới 10% như Mirae Asset Vietnam (MAS), MBS, VBSE (CTS), KB Securities Vietnam (KBSV), Chứng khoán HSC (HCM), Chứng khoán Phú Hưng (PHS) và Chứng khoán Dầu khí (PSI).
Trong đó, một số công ty như PHS hay PSI gần như đã sử dụng hết dư địa cho vay. Với Chứng khoán HSC, dù liên tục tăng vốn trong nhiều năm, công ty vẫn thường xuyên nằm trong nhóm "căng" margin, cho thấy nhu cầu vốn luôn ở mức cao.
Tương tự, CTS và MBS cũng cho thấy áp lực cần sớm được bổ sung vốn từ cổ đông để duy trì khả năng cho vay.
Nhìn chung, dù dư địa cho vay toàn ngành đang được cải thiện, hiện tượng "khát vốn" vẫn diễn ra ở nhiều công ty. Quan trọng hơn, không phải doanh nghiệp nào cũng có cùng khả năng để giải bài toán này.
Hầu hết các công ty chứng khoán đều phải đối mặt với áp lực chứng minh hiệu quả với cổ đông trong bối cảnh thị trường đặt nhiều kỳ vọng như nâng hạng, triển khai giao dịch T0 hay cơ chế bán chứng khoán chờ về.
Tuy nhiên, để thuyết phục cổ đông thì các bài toán hiệu quả từ tự doanh và cho vay margin đang là những nút thắt chưa dễ giải.
Quý gần nhất cho thấy hoạt động tự doanh đã ảnh hưởng đáng kể đến kết quả kinh doanh của nhiều công ty.
Còn lãi suất cho vay ký quỹ có xu hướng tăng, gây áp lực lên biên lợi nhuận - vốn là trụ cột của ngành.
Một chuyên gia chứng khoán cho biết chi phí vốn đang tăng nhanh hơn lãi suất cho vay ở một số công ty chứng khoán lớn khiến biên lợi nhuận mảng cho vay ký quỹ bị thu hẹp. Nếu xu hướng này kéo dài, việc mở rộng dư nợ có thể không còn mang lại hiệu quả như trước.
Ông Nguyễn Thế Minh - Giám đốc Khối Ngân hàng đầu tư của Chứng khoán An Bình - nhận định các công ty cần phải tăng vốn để giảm chi phí vốn, dù có thể dẫn đến pha loãng cổ phiếu trong ngắn hạn. Theo ông, lợi thế đang nghiêng về nhóm có cổ đông là tổ chức tài chính hoặc ngân hàng.
Tại ĐHĐCĐ thường niên 2026, Chứng khoán HSC đang quyết tâm trở lại đường đua sau khi nhận được cam kết đồng hành từ HFIC. Công ty dự kiến nâng vốn từ 10.808 tỉ đồng lên khoảng 15.800 tỉ đồng.
Ở nhóm dẫn đầu, SSI đặt mục tiêu đạt 30.000 tỉ đồng vốn điều lệ, trong khi TCBS có thể tạm thời trở lại vị trí dẫn đầu trong quý 2-2026.
Đáng chú ý, nhóm công ty chứng khoán có ngân hàng nhà nước hậu thuẫn đang tỏ ra chủ động hơn.
Chứng khoán BIDV (BSI) đặt mục tiêu nâng vốn lên 11.000 tỉ đồng và chỉ chờ sự chấp thuận chính thức từ cổ đông Hana Securities.
Trước đó, VCBS dự kiến tăng vốn gấp 5 lần lên 12.500 tỉ đồng sau khi được Vietcombank thông qua.
Trong khi đó, CTS cũng đã "úp mở" kế hoạch tăng vốn và có thể trình cổ đông trong năm 2026.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

