Nhiều vụ bạo lực gia đình gần đây gây bức xúc dư luận khi người chồng đánh vợ tàn bạo giữa ban ngày.
Đây không phải là chuyện mới vì đã có rất nhiều vụ tương tự xảy ra. Có nhiều vụ nạn nhân im lặng chịu đựng. Nhiều vụ đã thành án nhưng những anh chồng vẫn “thoát án” vì chính nạn nhân bãi nại.
Và bạo lực tái diễn từ sự im lặng, xuê xoa cho nhau. Làm gì để hạn chế tình trạng bạo lực gia đình? Tuổi Trẻ giới thiệu ý kiến của bạn đọc về vấn đề này.
Thẩm phán Lê Thiết Hùng (Quảng Trị):
Đã có không ít vụ bạo lực gia đình hành vi rõ ràng, hậu quả có thật nhưng cuối cùng chỉ dừng lại ở mức xử phạt hành chính hoặc hòa giải, bởi nạn nhân không yêu cầu hoặc rút đơn yêu cầu khởi tố.
Thực trạng này đặt ra vấn đề đáng suy ngẫm: sự im lặng, cam chịu hoặc rút lui của nạn nhân có vô tình trở thành “lá chắn” cho hành vi bạo lực tiếp diễn?
Trong một số trường hợp nhất định, việc xử lý hình sự phụ thuộc vào yêu cầu của bị hại. Quy định này nhằm tôn trọng quyền tự định đoạt của cá nhân. Tuy nhiên sự lựa chọn của nạn nhân không phải lúc nào cũng xuất phát từ ý chí của họ.
Nhiều phụ nữ phụ thuộc kinh tế, chịu áp lực từ con cái, gia đình hai bên hoặc tâm lý “giữ gìn tổ ấm”. Nỗi sợ bị trả thù, bị kỳ thị hoặc mất đi chỗ dựa khiến họ chọn cách im lặng, thậm chí rút đơn sau khi đã tố cáo.
Không ít người tin rằng “nhịn một lần cho yên chuyện” nhưng sự nhượng bộ này hiếm khi chấm dứt bạo lực. Trái lại, nó có thể khiến hành vi bạo hành lặp lại với mức độ nghiêm trọng hơn.
Bạo lực gia đình thường diễn ra theo chu kỳ: căng thẳng – bùng phát – hối lỗi rồi lại tái diễn. Sự im lặng của nạn nhân, dù xuất phát từ thiện chí hay bất lực, có thể vô tình củng cố chu kỳ đó.
Không ít vụ án cố ý gây thương tích được khởi tố, điều tra, truy tố và đưa ra xét xử. Nhưng đến giai đoạn phúc thẩm, bị hại lại rút đơn yêu cầu khởi tố.
Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, tòa án buộc phải đình chỉ vụ án. Dù ở thời điểm đó hành vi vi phạm đã được làm rõ qua chứng cứ, lời khai, kết luận giám định; các cơ quan tiến hành tố tụng đã dành nhiều thời gian, công sức để giải quyết vụ án.
Nhưng chỉ với việc rút đơn, toàn bộ quá trình xử lý hình sự phải dừng lại. Tòa án, dù nhận thấy tính chất nguy hiểm của hành vi, cũng không thể tiếp tục xét xử.
Việc rút đơn ở giai đoạn này thường không đơn thuần là sự thay đổi ý chí tự nguyện. Nhiều trường hợp bị chi phối bởi sức ép gia đình, mong muốn hàn gắn, sự phụ thuộc kinh tế hoặc lo lắng cho con cái. Hành vi bạo lực đáng lẽ phải bị xử lý nghiêm minh lại không đi đến cùng. Điều này vô hình trung tạo ra một “khoảng lặng pháp lý”.
Người gây bạo lực có thể nhận thức rằng hậu quả pháp lý không nghiêm khắc nếu nạn nhân rút lui. Sự răn đe của pháp luật vì thế bị suy giảm.
Bạo lực gia đình không chỉ là vấn đề của riêng một cá nhân hay một gia đình. Mỗi hành vi đánh đập, chửi bới hay hành hạ không chỉ gây tổn thương trực tiếp cho nạn nhân mà còn để lại hệ lụy lâu dài cho những người xung quanh, đặc biệt là trẻ em.
Những đứa trẻ lớn lên trong môi trường có bạo lực dễ bị ảnh hưởng tâm lý, mất cảm giác an toàn, thậm chí hình thành nhận thức sai lệch về cách giải quyết mâu thuẫn.
Ở góc độ xã hội, việc dung thứ hoặc bỏ qua bạo lực gia đình góp phần duy trì một vòng luẩn quẩn: người bị hại hôm nay có thể trở thành người gây bạo lực trong tương lai. Cần nhìn nhận rằng bạo lực không chỉ là vấn đề thương tích mà còn là sự xâm phạm nhân phẩm, danh dự và quyền được an toàn của con người.
Những hành vi tưởng như nhẹ nhưng lặp đi lặp lại có thể gây tổn thương tâm lý sâu sắc và dễ leo thang thành hậu quả nghiêm trọng.
Một rào cản khác trong phòng, chống bạo lực gia đình là tâm lý “chuyện nhà người ta”. Sự thờ ơ của cộng đồng vô hình trung tạo điều kiện để hành vi bạo lực tiếp diễn. Nếu có sự can thiệp kịp thời từ hàng xóm, tổ dân phố hoặc các tổ chức địa phương, hậu quả có thể đã được hạn chế.
Ngược lại, sự im lặng kéo dài khiến nạn nhân ngày càng bị cô lập, mất niềm tin vào khả năng được bảo vệ.
Luật sư Nguyễn Thị Thu Tâm (Đoàn luật sư TP.HCM):
Theo quy định của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2022, tùy thuộc vào mức độ, tính chất, hậu quả của hành vi, người có hành vi bạo lực gia đình (chồng đánh vợ hoặc ngược lại) có thể bị phạt tiền, buộc xin lỗi công khai hoặc nặng hơn là bị phạt tù theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Theo điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025), hành vi đánh vợ của người chồng có thể bị xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự về “tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác”.
Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỉ lệ tổn thương cơ thể từ 11-30% hoặc dưới 11% thuộc một trong các trường hợp quy định thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.
Đó là dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người; dùng a xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm; đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ; có tính chất côn đồ…
Trường hợp gây tổn thương cơ thể từ 31-60% thì bị phạt tù từ 2-6 năm. Nếu phạm tội như gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỉ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên thì bị phạt tù từ 5-10 năm…
Với trường hợp xem xét xử lý hình sự là trường hợp khởi tố theo yêu cầu của người bị hại. Nếu hành vi đánh vợ của người chồng nhưng bị hại (người vợ) không có yêu cầu thì cơ qun chức năng không khởi tố vụ án hình sự.
Nếu việc chồng đánh vợ diễn ra thường xuyên khiến nạn nhân bị đau đớn về thể xác, tinh thần… người chồng có thể bị xem xét xử lý về “tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình” theo điều 185 Bộ luật Hình sự.
Tội này không thuộc trường hợp chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi có yêu cầu của bị hại.
Ngày 13-4, mạng xã hội lan truyền một đoạn clip ghi lại cảnh bạo lực gia đình khiến nhiều người bức xúc. Theo nội dung clip, một người đàn ông, được xác định là người chồng, liên tục túm tóc, đánh đập người vợ.
Sau khi nạn nhân ngã xuống sân, người vợ vẫn tiếp tục bị đánh, không thể chống cự.
Không dừng lại, người đàn ông trên túm tóc kéo vợ vào trong nhà và tiếp tục đánh, đấm. Đáng chú ý, toàn bộ hành vi bạo lực diễn ra trước sự chứng kiến của một em bé.
Được biết, clip hơn một phút được camera ghi lại trong một gia đình ở phường Phù Khê, tỉnh Bắc Ninh.
Nhiều ý kiến bày tỏ phẫn nộ, lên án gay gắt hành vi đánh vợ của người đàn ông trên và đề nghị cơ quan chức năng sớm vào cuộc xác minh, xử lý.
Ngày 13-4, thông tin từ Công an phường Phù Khê (tỉnh Bắc Ninh) cho biết sau sự việc, lực lượng chức năng đã xác minh, mời hai vợ chồng liên quan đến trụ sở công an làm rõ vụ việc.
Tại đây, người vợ trình bày vụ việc xuất phát từ mâu thuẫn trong gia đình và bản thân không có thương tích nghiêm trọng, đồng thời không đề nghị xử lý người chồng. Video xuất hiện trên mạng xã hội được người vợ cho biết "đăng tải trong lúc bức xúc".
Sau khi hỏi ý kiến hai bên, lực lượng chức năng cho hay đã phối hợp với địa phương "nhắc nhở, giáo dục người chồng nhằm phòng ngừa tái diễn hành vi bạo lực gia đình tương tự".
Theo hồ sơ vụ án xảy ra tại Viện Pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa, ngày 22/10/2020, Lê Vũ Hồng Sơn (44 tuổi, ngụ TP Cần Thơ) bị TAND tỉnh Bình Dương (cũ) tuyên phạt 3 năm tù về tội Đánh bạc và ủy thác thi hành án cho TAND TP Biên Hòa (cũ).
Ngày 26/11/2020, TAND TP Biên Hòa ban hành quyết định thi hành án phạt tù đối với Sơn. Để trốn tránh việc chấp hành án, Sơn bàn bạc với vợ nhờ người quen đang công tác tại Viện Pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa can thiệp, giúp làm hồ sơ kết luận giám định tâm thần nhằm được áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh và được trừ thời gian chữa bệnh vào thời gian chấp hành án phạt tù.
Thông qua các mối quan hệ quen biết, vợ Sơn đã chi 190 triệu đồng để chồng mình được kết luận mắc bệnh tâm thần.
Ngày 14/12/2020, Bệnh viện Tâm thần Trung ương 2 ban hành Công văn số 246/BVTW2 xác nhận Sơn đang điều trị tâm thần nội trú. Tiếp đó, ngày 28/12/2020, Viện trưởng Viện Pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa quyết định thành lập Hội đồng giám định pháp y tâm thần đối với Sơn.
Mặc dù biết rõ Sơn không bị bệnh tâm thần, nhưng nhằm giúp người này đủ điều kiện được áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh, ngày 27/1/2021, Hội đồng giám định đã ban hành Kết luận giám định pháp y tâm thần số 84/KL-VPYTW, kết luận: “Lê Vũ Hồng Sơn hiện nay mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”.
Căn cứ kết luận giám định trên, ngày 17/2/2021, TAND TP Biên Hòa (cũ) quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với Lê Vũ Hồng Sơn.
Đến ngày 8/9/2023, cơ quan chức năng đình chỉ việc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với Sơn với lý do đã khỏi bệnh.
Ngày 12/9/2023, Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh Đồng Nai (nay là TP Đồng Nai) xác nhận Sơn đã chấp hành xong án phạt tù do được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam và thời gian bắt buộc chữa bệnh vào thời hạn chấp hành án.
Tuy nhiên, đến ngày 1/11/2023, TAND TP Biên Hòa ban hành thông báo đính chính, xác định thời gian bắt buộc chữa bệnh của Sơn không được tính trừ vào thời gian chấp hành án phạt tù.
Sau đó, ngày 16/11/2023, Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh Đồng Nai ban hành công văn thu hồi giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù đã cấp cho Lê Vũ Hồng Sơn.
Trong thời gian bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh tại Viện Pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa, Sơn được cho ra ngoài trái phép. Ngày 27/3/2021, Sơn tham gia đánh bạc và bị Công an huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai (cũ) bắt quả tang.
Ngày 2/4/2021, Cơ quan điều tra trưng cầu giám định tâm thần đối với Sơn tại Viện Pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa.
Đến ngày 27/4/2021, Viện trưởng Viện Pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa tiếp tục quyết định thành lập Hội đồng giám định pháp y tâm thần.
Dù biết rõ Sơn không mắc bệnh tâm thần, nhưng do trong thời gian điều trị bắt buộc chữa bệnh, Viện Pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa đã để Sơn ra ngoài xã hội trái quy định pháp luật, nên ngày 31/5/2021, Hội đồng giám định ban hành Kết luận giám định pháp y tâm thần số 389/KL-VPYTW với nội dung: “Lê Vũ Hồng Sơn hạn chế khả năng nhận thức, mất khả năng điều khiển hành vi tại thời điểm gây án; mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi tại thời điểm giám định”.
Căn cứ kết luận này, Công an huyện Vĩnh Cửu đã tách hành vi đánh bạc của Sơn để thụ lý, giải quyết theo thủ tục tin báo về tội phạm, sau đó ra quyết định tạm đình chỉ.
Đến ngày 17/7/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai phục hồi việc giải quyết nguồn tin về tội phạm đối với hành vi đánh bạc của Lê Vũ Hồng Sơn để tiếp tục xử lý theo quy định pháp luật.
Chiều 6/4, Công an TP Hà Nội thông tin quá trình điều tra mở rộng vụ án xảy ra tại Viện Pháp y tâm thần Trung ương và một số địa phương.
Theo đó, Công an Hà Nội đã khởi tố bổ sung thêm 26 bị can về các tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, Đưa hối lộ, Nhận hối lộ, Môi giới hối lộ, Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ, Làm sai lệch hồ sơ vụ án, Đánh bạc.
Trong số đó có ông Ngô Văn Vinh, nguyên Viện trưởng Viện Pháp y tâm thần Trung ương.
Đến nay, vụ án này đã có 66 bị can.
Đại tá Trần Thanh Tùng, Chánh văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Hà Nội, cho biết quá trình điều tra, qua việc rà soát gần 1.300 hồ sơ giám định tâm thần có dấu hiệu nghi vấn trên toàn quốc (tại Viện Pháp y Tâm thần Trung ương, Trung tâm miền núi phía Bắc và Trung ương Biên Hòa), cơ quan điều tra đã phát hiện nhiều trường hợp được kết luận giám định sai lệch, không khách quan.
Trong số những đối tượng này, cá biệt có Bùi Thị Thanh Thủy, Nguyễn Hồng Vân - bị can phạm tội đặc biệt nghiêm trọng nhưng trong quá trình chữa bệnh bắt buộc vẫn tiếp tục mua bán trái phép chất ma túy với số lượng lớn.
Quá trình điều tra, Công an Hà Nội đã thu hồi hơn 10 tỷ đồng tiền mặt, gần 60.000 USD cùng nhiều bất động sản và phương tiện giá trị.
Về tính chất vụ án, nhà chức trách cho biết các bị can đã lợi dụng chính sách miễn, giảm trách nhiệm hình sự đối với những người có bệnh tâm thần.
Trong đó, các đối tượng vi phạm pháp luật đã móc nối với một số đối tượng là lãnh đạo, bác sĩ công tác tại Viện pháp y tâm thần Trung ương, Trung tâm giám định pháp y tâm thần Khu vực miền núi phía Bắc để làm kết luận giám định pháp y bị tâm thần sai sự thật để không bị xử lý hình sự và không phải thi hành án.
Các đối tượng có sự bàn bạc, thống nhất với nhau cùng thực hiện hành vi để phạm tội.
Công an Hà Nội đánh giá, đây là vụ án tổng hợp có nhiều hành vi phạm tội với nhiều chủ thể vi phạm thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó nổi lên nhất là tội phạm tham nhũng, chức vụ liên quan lĩnh vực quản lý, giám định tâm thần và chữa bệnh tâm thần bắt buộc có tính chất đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp.
"Hành vi vi phạm pháp luật, buông lỏng quản lý của các công chức, lãnh đạo tại Viện pháp y tâm thần Trung ương, Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc trong công tác khám chữa bệnh tâm thần là một trong những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc các đối tượng lợi dụng để làm giả hồ sơ bệnh án tâm thần, làm sai lệch kết luận giám định tâm thần cho các bị can, bị cáo, bị án với quy mô, tính chất đặc biệt nghiêm trọng", cơ quan điều tra nhấn mạnh.
Vụ án đã làm suy giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước trong lĩnh vực Giám định pháp y tâm thần, ảnh hưởng trực tiếp đến trật tự nhà nước trong công tác quản lý, khám và chữa bệnh tâm thần và công tác điều trị tâm thần bắt buộc, gây bức xúc trong dư luận xã hội; tác động tiêu cực đến niềm tin của người dân đối với các cơ quan tư pháp trực tiếp liên quan đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.
Trong 66 bị can có 43 người thuộc Viện Pháp y tâm thần Trung ương, gồm 4 nguyên lãnh đạo Viện; 6 người là lãnh đạo cấp Phòng và tương đương; 29 cán bộ, điều dưỡng; 4 bảo vệ.
2 bị can thuộc Viện Pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa; 3 bị can thuộc Trung tâm Giám định pháp y tâm thần miền núi phía Bắc; 4 bị can là cán bộ công an, VKSND; 1 bị can là lãnh đạo khoa Bệnh viện tâm thần Hà Nội.
4 bị can là đối tượng chữa bệnh bắt buộc tâm thần; 9 người là lao động tự do.