Giữa thập niên 1990, Chiến tranh Bosnia bước vào thời kỳ căng thẳng nhất. Đây là cuộc xung đột nổ ra sau khi Nam Tư tan rã, với sự đối đầu giữa các cộng đồng sắc tộc tại Bosnia và Herzegovina, khiến đất nước này bị chia cắt và chìm trong bạo lực kéo dài. Phương Tây ban đầu can thiệp thông qua lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc. Chiến sự sau đó leo thang, NATO bắt đầu áp đặt vùng cấm bay trên không phận Bosnia nhằm ngăn các bên sử dụng máy bay quân sự.
Tuy nhiên, vùng cấm bay không đồng nghĩa kiểm soát hoàn toàn bầu trời. Lực lượng Serb ở Bosnia vẫn duy trì hệ thống radar và tên lửa phòng không từ mặt đất, đủ khả năng phát hiện và bắn hạ máy bay bay qua khu vực. Vì vậy, các chuyến tuần tra của NATO vẫn hoạt động trong môi trường rủi ro cao.
Ngày 2/6/1995, đại úy Scott O’Grady, phi công F-16 của Không quân Mỹ, đang thực hiện nhiệm vụ tuần tra trên không phận Bosnia thì tiêm kích trúng tên lửa đất đối không. Máy bay nhanh chóng bị phá hủy, buộc anh phải kích hoạt ghế phóng để thoát hiểm.
Anh bung dù và tiếp đất trong khu vực rừng núi do lực lượng Serb kiểm soát, nơi nguy cơ bị phát hiện và bắt giữ luôn thường trực.
6 ngày sinh tồn trong im lặng
Sau khi O’Grady chạm đất, những gì anh có là một bản đồ dành cho vùng tây bắc Bosnia có ảnh các loài thực vật ăn được, radio PRC-112 nặng gần 800 gr, bộ dụng cụ sinh tồn gắn dưới ghế chiếc F-16, gồm túi sơ cứu, vài quả pháo sáng, một súng ngắn 9 mm, pin.
Trong suốt gần một tuần, O’Grady áp dụng kỹ năng sinh tồn được huấn luyện. Ban ngày, nam phi công nằm im trong bụi rậm hoặc dưới tán cây, tránh mọi chuyển động có thể bị phát hiện. Ban đêm, anh di chuyển thận trọng để tìm nơi trú ẩn mới.
O’Grady phải ăn côn trùng, cây dại và tận dụng khẩu phần khẩn cấp mang theo. Khi nước dự trữ cạn, anh hứng nước mưa từ lá cây để duy trì sự sống. Anh không sử dụng radio trong nhiều ngày vì lo ngại bị phát hiện.
“Sử dụng thiết bị liên lạc có thể đồng nghĩa với việc tự lộ vị trí”, một quan chức quân sự Mỹ cho biết.
Trong thời gian đó, lực lượng Serb liên tục rà soát khu vực. Có thời điểm, trực thăng tìm kiếm bay rất thấp, đến mức O’Grady có thể nhìn thấy rõ phi hành đoàn. Đến ngày thứ 6, khi thể lực suy giảm và nguy cơ bị phát hiện gia tăng, O’Grady quyết định bật radio trong thời gian ngắn.
“Đây là Basher-52. Tôi còn sống và cần trợ giúp”, anh nói qua radio 2h08 CET ngày 8/6/1995, sử dụng mật danh cá nhân.
Thông tin này được phi cơ tuần tra của NATO thu thập, lập tức kích hoạt một chuỗi quyết định khẩn cấp. Các chỉ huy nhận định rằng cơ hội cứu hộ có thể biến mất nhanh chóng nếu chậm trễ. O’Grady đang ở sâu trong vùng kiểm soát của đối phương, và việc kéo dài thời gian chỉ làm tăng rủi ro.
Chiến dịch 5 giờ
7 phút sau khi thu được tín hiệu, chiến đấu cơ AC-130 mật danh Ghost 45 xác nhận người cầu cứu là O’Grady. Các sĩ quan trên một máy bay cảnh báo sớm (AWACS) báo tin về sở chỉ huy rằng O’Grady vẫn ổn, nhưng thêm rằng “cậu ấy thực sự cần được giải cứu trong đêm nay và tín hiệu radio ngày càng yếu”.
Thông tin về O’Grady được chuyển tới Đô đốc Leighton Smith tại Anh, chỉ huy lực lượng NATO ở miền nam châu Âu.
“Basher-52 vừa liên lạc”, một quan chức thuật lại nội dung tin nhắn. “Đô đốc Smith bật dậy, dồn toàn bộ tập trung vào tình huống”. Các phương án hành động nhanh chóng được cân nhắc. Lệnh TRAP (triển khai chiến dịch thu hồi máy bay hoặc nhân sự) được ban hành.
Tại Washington lúc này là khoảng 21h30 ngày 7/6/1995. Cố vấn an ninh quốc gia Anthony Lake báo tin cho tổng thống Bill Clinton.
Kế hoạch được xây dựng theo mô hình nhiều lớp. Trực thăng đưa lực lượng đổ bộ vào điểm tiếp cận. Tiêm kích và trực thăng tấn công yểm trợ trên không, sẵn sàng phản ứng nếu bị tấn công. Máy bay tác chiến điện tử gây nhiễu radar nhằm giảm khả năng phát hiện.
Lực lượng đặc nhiệm được huy động từ tàu tấn công đổ bộ USS Kearsarge, đang hoạt động ngoài khơi biển Adriatic. Đây là căn cứ gần nhất có đủ trực thăng và lính thủy đánh bộ để thực hiện nhiệm vụ.
Khoảng 40 lính thủy đánh bộ trên tàu Kearsarge lập tức chuẩn bị cho đợt triển khai lúc rạng sáng vào khu vực sâu gần 100 km trong đất liền. Mục tiêu của chiến dịch rất rõ ràng: tiếp cận nhanh, cứu phi công và rút lui trước khi đối phương kịp phản ứng mạnh.
Các lính thủy đánh bộ lên hai trực thăng CH-53E Super Stallion. Hộ tống các trực thăng Stallion là hai trực thăng tấn công AH-1W SuperCobra cùng cặp tiêm kích cất hạ cánh thẳng đứng AV-8B Harrier. Đội bay này còn được yểm trợ bởi các biên đội trực thăng và tiêm kích dự bị cùng loại. Toàn bộ “hạm đội trên không” gồm khoảng 40 phi cơ, được điều phối từ một máy bay AWACS.
“Chúng tôi đã huy động toàn bộ hỏa lực cần thiết”, ông Smith nói.
6h07 ngày 8/6/1995, các máy bay gây nhiễu EA-6B và EF-111 được thiết kế cho tác chiến điện tử bắt đầu chế áp mạnh hệ thống radar và liên lạc trong khu vực, nhằm làm tê liệt khả năng theo dõi của lực lượng Serb. 6 phút sau, một máy bay báo đã bắt được liên lạc với O’Grady.
Ở bên kia biên giới, trong khu vực Croatia do người Serb kiểm soát, một hệ thống radar bắt đầu theo dõi hoạt động trên không phận Bosnia. Trạm radar tại Knin, mật danh Giraffe, được kích hoạt lúc 6h21, cho thấy nếu ban đầu lực lượng Serb còn bất ngờ, thì lúc này họ không còn “mù thông tin” nữa.
Khoảng 6h35, lực lượng Mỹ tiếp cận khu vực thu được tín hiệu từ O’Grady. Các phi công phát hiện một vệt khói màu vàng bốc lên từ tán cây gần một bãi đất đá. O’Grady đã bắn pháo hiệu.
Chiếc CH-53E đầu tiên, do thiếu tá William Tarbutton điều khiển, tránh những cọc hàng rào gỗ có dây thép gai và hạ cánh. Khoảng 20 lính thủy đánh bộ nhanh chóng lao ra, thiết lập vành đai an ninh.
Chiếc CH-53E thứ hai, do đại tá Martin Berndt chỉ huy, vô tình đáp xuống một đoạn hàng rào, buộc phi công phải đưa máy bay lên rồi hạ xuống lại. Phía trên, hai trực thăng tấn công AH-1W lơ lửng yểm trợ, sẵn sàng khai hỏa. Cao hơn nữa, hai tiêm kích AV-8B sẵn sàng cung cấp hỏa lực mạnh hơn nếu cần.
Berndt nhìn qua buồng lái và bất ngờ thấy một người chạy về phía trực thăng, tay cầm súng ngắn vào lúc 6h44. Sương mù khá dày, nên ban đầu Berndt chưa thể biết đó là ai.
“Nhưng tôi nhanh chóng nhận ra chỉ có thể là anh ấy”, Berndt nhớ lại.
Cửa bên của trực thăng vừa mở được khoảng ba giây thì O’Grady lao thẳng vào khoang. Anh trao khẩu súng cho phi hành đoàn, nhanh chóng khoác áo và đội mũ bảo hiểm bay.
“Thậm chí không ai trong chúng tôi phải rời khỏi trực thăng”, Berndt nói thêm.
Ngay sau đó, trực thăng cất cánh. O’Grady được phủ chăn, nhanh chóng ăn khẩu phần khẩn cấp. 0h49 ngày 8/6/1995 tại Washington (6h49 CET), ngay khi trực thăng CH-35E cất cánh, tổng thống Clinton nhận cuộc gọi báo tin từ cố vấn an ninh quốc gia Lake.
“Đã cứu được cậu ấy”, Lake nói.
“Tuyệt vời! Đây là một chàng trai phi thường”, ông Clinton đáp lại.
Chiến dịch thu hồi, xét về mặt kỹ thuật, diễn ra gần như hoàn hảo trong giai đoạn tiếp cận. Thách thức lớn nhất đến trong giai đoạn rút lui.
Khi đội hình trực thăng rời khỏi khu vực, họ đối mặt với hỏa lực từ mặt đất, bao gồm súng máy và tên lửa vác vai. Một số viên đạn trúng vào thân và cánh quạt trực thăng, nhưng không gây thiệt hại nghiêm trọng.
Lúc 6h58, một sĩ quan trên máy bay gây nhiễu EA-6B đã đề xuất phá hủy trạm radar tại Knin. Tuy nhiên, đề xuất bị bác bỏ do lo ngại leo thang xung đột, bởi khi đó lực lượng Serb đang giữ một số binh sĩ Liên Hợp Quốc làm con tin.
7h07, một trong hai trực thăng cho biết họ bị nhắm bắn bằng tên lửa vác vai nhưng không trúng. Đội hình rút lui an toàn và đưa O’Grady trở lại tàu Kearsarge ngoài khơi.
O’Grady được mọi người chào đón khi trở về Mỹ. Phi công này còn đến thăm Nhà Trắng, được tổng thống Clinton gọi là “một anh hùng nước Mỹ”.
Bộ Tổng tham mưu Các lực lượng vũ trang Ukraine ngày 20.4 thông báo quân đội đã tấn công nhà máy lọc dầu Tuapse tại tỉnh Krasnodar, miền nam Nga vào rạng sáng cùng ngày. Hôm 16.4, Ukraine cũng tấn công cơ sở này gây ra đám cháy lớn, theo trang The Kyiv Independent.
Tuapse là nhà máy lọc dầu của tập đoàn Rosneft và là một trong 10 cơ sở lọc dầu lớn nhất tại Nga. Nhà máy này có thể lọc xấp xỉ 12 triệu tấn dầu thô mỗi năm.
Vụ tấn công vào rạng sáng 20.4 đã gây thiệt hại các bể chứa và tạo ra đám cháy lớn.
Tỉnh trưởng Krasnodar Veniamin Kondratyev xác nhận có vụ tấn công tại cảng Tuapse nhưng không nêu rõ mục tiêu. Vị quan chức cho biết có một người thiệt mạng và một người bị thương trong vụ tấn công.
Văn phòng công tố viên tỉnh thông báo rằng cơ sở hạ tầng giao thông tại cảng đã bị thiệt hại. Lãnh đạo chính quyền Tuapse Sergey Boyko cho hay các đơn vị cứu hỏa và dịch vụ khẩn cấp đang làm việc tại các đám cháy.
Ukraine chưa bình luận về thông tin thiệt hại do các quan chức Nga đưa ra.
Trước đó, vụ tấn công bằng máy bay không người lái (UAV) của Ukraine hôm 16.4 đã gây cháy tại Tuapse và khiến dầu tràn ra biển Đen. Vệt dầu có thể được nhìn thấy trong ảnh vệ tinh chụp ngày 19.4, cách cảng vài km. Đám cháy được dập tắt vào ngày 19.4.
TASS dẫn thông tin từ cơ quan chức năng Krasnodar cho biết khu vực bị ô nhiễm lên tới 10.000 m2. Các chuyên gia cũng đã ngăn chặn sự cố tràn dầu trên sông Tuapse sau vụ tấn công. Tổng cộng 750 m phao ngăn dầu loang và 5 thiết bị hút dầu chuyên dụng đã được triển khai.
Asal, nhà thiết kế tự do ngoài 30 tuổi sống tại Tehran, từng liên tục nhận được các dự án từ nước ngoài. Nhưng sau gần hai tháng mất kết nối Internet do chiến sự, cô cho biết hiện không có bất kỳ dự án mới nào và cũng không có ai phản hồi. "Thế giới như dừng lại", cô nói.
Gần như bật khóc, Asal cho hay thu nhập hiện tại thậm chí không còn đủ trang trải các chi phí cơ bản.
Asal là một trong số hàng triệu người Iran đang chịu tác động trực tiếp từ cuộc chiến giữa nước này với Mỹ và Israel nổ ra từ hôm 28/2. Xung đột khiến họ lâm vào cảnh mất việc làm và đang đối mặt nguy cơ nghèo đói.
Hầu như không lĩnh vực kinh tế, xã hội nào của Iran tránh khỏi vòng xoáy này. Nhóm lao động thất nghiệp đang ngày một đông thêm với đủ mọi thành phần, từ công nhân nhà máy lọc dầu, dệt may cho đến tài xế xe tải, tiếp viên hàng không và cả nhà báo.
Nền kinh tế Iran vốn đã khó khăn từ trước khi xung đột nổ ra. Theo Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP), thu nhập bình quân đầu người của Iran đã giảm từ khoảng 8.000 USD năm 2012 xuống còn 5.000 USD vào năm 2024 do kinh tế bị tàn phá bởi lạm phát cũng như các lệnh trừng phạt từ phương Tây.
Triển vọng kinh tế thậm chí còn tồi tệ hơn. UNDP dự báo thêm 4,1 triệu người Iran đứng trước nguy cơ rơi vào nghèo đói do tác động từ chiến sự.
Theo tổ chức này, người dân Iran đang phải di tản trên diện rộng do thiệt hại vật chất từ hàng nghìn cuộc không kích. Kênh truyền thông EcoIran đưa tin hơn 23.000 nhà máy và doanh nghiệp nước này đã bị hư hại vì đòn tấn công từ Mỹ - Israel.
Thứ trưởng Bộ Lao động và An sinh Xã hội Iran Gholamhossein Mohammadi cho biết những thiệt hại này đã trực tiếp xóa sổ một triệu việc làm. Trang Etemad Online của Iran ước tính những tác động dây chuyền cũng đẩy thêm một triệu người nữa vào cảnh thất nghiệp.
Lệnh phong tỏa cảng biển của Mỹ từ ngày 13/4 đã làm gián đoạn xuất nhập khẩu bằng đường biển, giáng thêm đòn chí mạng vào nền kinh tế vốn đã mong manh của Iran. Theo Hadi Kahalzadeh, chuyên gia từ Viện Quincy, cơ quan nghiên cứu chính sách đối ngoại có trụ sở tại Washington, tình trạng trên đang "đe dọa 50% việc làm tại Iran và đẩy thêm 5% dân số vào cảnh nghèo đói".
"Nhiều doanh nghiệp đã phải ngừng hoạt động dưới áp lực chồng chất từ chiến sự, lạm phát, suy thoái và nhu cầu tiêu dùng sụt giảm nghiêm trọng", Kahalzadeh nói.
Theo số liệu từ Iran, tỷ lệ lạm phát hàng năm tính đến tháng 3 đã chạm mốc 72%, nhưng tỷ lệ này đối với các mặt hàng thiết yếu còn cao hơn rất nhiều.
Các cuộc tập kích của Israel vào những tổ hợp hóa dầu khổng lồ tại Iran hồi tháng trước đã khiến hàng nghìn công nhân phải nghỉ việc không lương. Những nhà máy thép lớn nhất Iran cũng không nằm ngoài mục tiêu bị tấn công, song hai công ty Mobarakeh và Khuzestan đều nói rằng chưa có tình trạng sa thải hàng loạt nhân viên.
Mặc dù vậy, những tổn thất nặng nề trong ngành công nghiệp nặng vẫn tác động nghiêm trọng tới toàn bộ nền kinh tế. Hãng sản xuất rơ-moóc Maral Sanat, trụ sở gần biên giới Azerbaijan, đã phải sa thải 1.500 công nhân do thiếu hụt nguồn cung thép. Một trong những doanh nghiệp dệt may lớn nhất Iran là Borujerd cũng đã phải cho 700 công nhân nghỉ việc.
Bên cạnh đó, hàng loạt nhà máy sữa cũng phải ngừng sản xuất do thiếu hụt vật liệu đóng gói thiết yếu, ông Kahalzadeh từ Viện Quincy cho biết.
Soheila, tiếp viên hàng không kỳ cựu của một hãng hàng không Iran, kể với trang tin độc lập Fararu rằng cô đang chuẩn bị bay vào ngày 28/2 thì đồng nghiệp gọi điện báo mọi chuyến bay đã bị hủy do chiến sự nổ ra.
"Hợp đồng của chúng tôi hết hạn vào tháng 3, nên chừng nào các chuyến bay chưa hoạt động trở lại, chúng tôi sẽ không được trả lương", cô nói.
Tình trạng này đang diễn ra trên khắp Iran và ở mọi ngành nghề. Số liệu cho thấy lượng người nộp đơn xin trợ cấp thất nghiệp tăng đột biến, với 147.000 hồ sơ trong hai tháng qua, cao gấp khoảng ba lần so với năm ngoái.
"Gánh nặng đổ dồn lên vai những người lao động tự do và nhóm lao động có tay nghề thấp đến trung bình, vốn là những người ít được bảo vệ nhất", ông Kahalzadeh nhận xét.
Truyền thông Iran đưa tin Digikala, công ty thương mại điện tử lớn nhất nước này, đã bắt đầu sa thải nhân viên ở nhiều bộ phận. Theo hãng thông tấn nhà nước ILNA, các doanh nghiệp và người lao động phụ thuộc vào Internet, những đối tượng vốn có thể trở thành điểm tựa chiến lược để kiểm soát cuộc khủng hoảng thất nghiệp thời hậu chiến, hiện cũng rơi vào tình trạng kiệt quệ.
Jafar, chuyên viên phân tích dữ liệu, cho hay công ty của anh đã đóng cửa hoàn toàn, khiến hơn 50 nhân viên mất việc. "Giờ tôi tính đi chạy xe công nghệ để đắp đổi qua ngày. Tôi còn tiền thuê nhà, nợ nần phải trả mà không biết tương lai rồi sẽ ra sao", anh nói.
Chính phủ Iran cũng đã ngắt phần lớn kết nối Internet trong chiến sự để bảo vệ an ninh quốc gia. Việc không thể truy cập Internet đang gây ra những khó khăn đặc biệt đối với phụ nữ làm việc tại nhà.
Bà Somayeh, ngoài 50 tuổi, sống ở Isfahan, đã dạy tiếng Đức trực tuyến nhiều năm nay. Các lớp học của bà từng luôn kín chỗ, nhưng do mất kết nối mạng, bà buộc phải chuyển sang dùng các ứng dụng nội địa vốn hoạt động kém ổn định.
"Không còn thứ gì hoạt động ra hồn nữa", bà nói với CNN qua điện thoại. "Học sinh không thể cùng lúc vào học, các nền tảng lại liên tục bị sập".
Kể từ khi xung đột nổ ra, phụ nữ chiếm tới 1/3 tổng số đơn xin trợ cấp thất nghiệp. Lượng người mất việc làm tăng cao đã gây thêm áp lực lên hệ thống an sinh xã hội vốn đã căng thẳng, ngay tại thời điểm nguồn thu ngân sách nhà nước đang cạn kiệt.
Nhưng nếu không có hỗ trợ kịp thời từ chính phủ, như hoãn nộp thuế và bảo hiểm, các khoản vay lãi suất thấp và hỗ trợ đặc biệt cho các doanh nghiệp, một làn sóng thất nghiệp quy mô lớn hơn nhiều có khả năng sẽ xảy ra, theo tờ Etemad.
Cuộc khủng hoảng tiếp tục làm dấy lên những tiếng nói phản đối nhằm vào chính sách kinh tế của chính phủ.
"Chính phủ ra lệnh tăng lương 60% cho công chức, trong khi vẫn cho phép nhiều người trong số họ làm việc từ xa và nhận đủ lương. Còn các doanh nghiệp kinh tế không đủ khả năng chi trả tiền lương đang phải sa thải công nhân của mình", Saeed Tajik, thành viên Phòng Thương mại Tehran, cho biết trong một cuộc phỏng vấn.
Phòng Thương mại Iran tuyên bố bảo toàn việc làm phải là ưu tiên kinh tế hàng đầu của đất nước, đồng thời kêu gọi các công ty sát cánh cùng người lao động bằng "tinh thần thấu cảm và hy sinh" trong cuộc khủng hoảng đang diễn ra.
"Lạm phát, thất nghiệp và tình trạng khan hiếm hàng hóa đã tạo ra tình cảnh thảm khốc và phức tạp", báo Ettelaat của Iran viết hôm 27/4. "Những vấn đề này không thể bị gạt sang một bên bằng những lời lẽ lịch thiệp hay các tuyên bố chung chung. Chính phủ có thể sớm cần đến những chương trình đặc biệt dành cho nền kinh tế thời chiến".
Kênh PressTV của Iran thừa nhận các cuộc không kích của Mỹ - Israel đã "gây ra những vết thương sâu" với các tổ hợp hóa dầu và thép ở Asaluyeh, Isfahan, nhưng tuyên bố rằng "cấu trúc nền tảng của kinh tế Iran bền vững hơn những gì đối phương dự liệu".
Theo đài này, Iran đã chuẩn bị cho kịch bản này trong nhiều thập kỷ qua, bằng cách áp dụng học thuyết "kinh tế kháng chiến", đề cao khả năng tự lực tự cường giữa chiến sự.
Tuy nhiên, khi xung đột kéo dài và triển vọng đàm phán bế tắc, ngày càng nhiều người Iran tỏ ra bất an về tương lai. "Thu nhập sụt giảm đã là một điều tồi tệ, nhưng điều kinh khủng hơn chính là tình trạng bất định thường trực này. Bạn chẳng bao giờ biết được chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo", bà Somayeh tại Isfahan nói.
Theo Hãng tin AFP ngày 22-4, Trung tâm Điều phối Thương mại Hàng hải Anh (UKMTO) cho biết một tàu container đã báo cáo bị tàu pháo của Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) áp sát và khai hỏa.
UKMTO cho hay sự việc diễn ra lúc 7h55 sáng, tại vị trí cách bờ biển Oman khoảng 15 hải lý về phía đông bắc. Tàu pháo của IRGC bị cáo buộc khai hỏa mà không phát cảnh báo trước.
Vụ tấn công khiến khu vực buồng lái của tàu container hư hại nặng, song không xảy ra cháy nổ và không tác động đến môi trường. Toàn bộ thủy thủ đoàn cũng được xác nhận an toàn.
Theo công ty an ninh hàng hải Vanguard Tech của Anh, con tàu này treo cờ Liberia và trước đó đã được xác nhận có quyền đi qua eo biển Hormuz.
Tuy nhiên các hãng tin Iran như Tasnim và Nour News khẳng định tàu đã "phớt lờ cảnh báo của lực lượng vũ trang Iran". Hãng tin Fars mô tả hành động của IRGC là đang "thực thi quyền kiểm soát hợp pháp" của Tehran tại eo biển Hormuz, theo Hãng tin AP.
IRGC sau đó cũng ra tuyên bố, cho biết họ sẵn sàng đối phó với bất kỳ hành động gây hấn mới nào tại eo biển này.
Eo biển Hormuz là tuyến hàng hải chiến lược, vận chuyển khoảng 20% nguồn cung dầu khí toàn cầu. Eo biển đang chịu ảnh hưởng nặng nề từ sau các cuộc tấn công của Mỹ và Israel nhằm vào Iran hôm 28-2.
Tehran ngay lập tức siết chặt kiểm soát tuyến đường này, đẩy giá dầu tăng mạnh và gây sức ép lên kinh tế toàn cầu. Phía Mỹ sau đó cũng đã triển khai phong tỏa các cảng của Iran.
Tuần trước Iran thông báo mở lại eo biển Hormuz, nhưng chưa đầy một ngày sau, Tehran thông báo đóng cửa trở lại.
IRGC cho biết sẽ đóng cửa eo biển cho đến khi lệnh phong tỏa của Mỹ được dỡ bỏ. Trong khi đó, Tổng thống Trump khẳng định Hải quân Mỹ sẽ tiếp tục thực thi lệnh phong tỏa cho đến khi Iran mở lại tuyến đường thủy chiến lược này.