NHNN chi nhánh khu vực 2 cho biết, dòng kiều hối có xu hướng giảm từ quý 4/2025 sang đầu năm 2026. Cụ thể, quý 4/2025, lượng kiều hối chuyển về qua các tổ chức tín dụng và tổ chức kinh tế trên địa bàn TP.HCM đạt gần 2,38 tỉ USD, giảm 13,3% so với quý liền kề. Bước sang quý 1/2026, lượng kiều hối giảm xuống còn trên 2 tỉ USD, tương ứng mức giảm 15,6% so với quý trước đó. Riêng lượng kiều hối tại Đồng Nai tính đến 31.3 đạt hơn 36,4 triệu USD, giảm 15,7% so với quý cuối năm 2025.
Nguyên nhân khiến kiều hối giảm, theo bà Trần Thị Ngọc Liên, Phó giám đốc NHNN chi nhánh khu vực 2, đến từ tác động bởi những yếu tố kinh tế quốc tế. Theo đó, kinh tế thế giới phục hồi chậm và chưa ổn định đã ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của người Việt Nam ở nước ngoài. Lạm phát tại nhiều quốc gia vẫn ở mức cao, chi phí sinh hoạt gia tăng. Thêm vào đó, chính sách tiền tệ thắt chặt kéo dài của các nền kinh tế lớn tiếp tục tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, qua đó ảnh hưởng gián tiếp đến thu nhập và dòng tiền chuyển về Việt Nam. Đáng chú ý, xung đột địa chính trị tại khu vực Trung Đông cũng góp phần tác động đến dòng kiều hối. Xung đột này làm gia tăng biến động giá năng lượng, gây áp lực lạm phát trên phạm vi toàn cầu, từ đó ảnh hưởng đến thu nhập thực tế của người lao động.
Bà Trần Thị Ngọc Liên cho rằng, lao động Việt Nam ở những nước thuộc Trung Đông làm việc, kinh doanh bị gián đoạn cục bộ, ảnh hưởng đến thu nhập, qua đó làm giảm khả năng chuyển tiền về nước. Tuy nhiên, do tỷ trọng kiều hối từ khu vực này không lớn nên tác động chủ yếu mang tính gián tiếp và bổ trợ, không phải là nguyên nhân chính. Một nguyên nhân khách, theo bà Liên là yếu tố mùa vụ. Sau cao điểm chuyển tiền vào giai đoạn cuối năm phục vụ nhu cầu chi tiêu dịp lễ, tết cũng khiến lượng kiều hối trong quý đầu năm thường có xu hướng giảm, làm mức giảm so với cùng kỳ trở nên rõ nét hơn.
Trong giai đoạn tới, đại diện NHNN chi nhánh khu vực 2 nhận định, “dòng kiều hối có thể chưa có xu hướng tăng rõ rệt, do còn phụ thuộc vào diễn biến kinh tế thế giới và trong nước”. Thông thường, sau giai đoạn thấp điểm đầu năm, kiều hối có xu hướng phục hồi nhẹ trong các quý tiếp theo, khi hoạt động kinh tế và việc làm của người lao động ở nước ngoài dần ổn định trở lại sau kỳ nghỉ lễ, tết. Tuy nhiên, diễn biến xung đột tại Trung Đông và các khu vực khác vẫn tiềm ẩn phức tạp, tiếp tục tác động đến giá năng lượng, lạm phát và tâm lý thị trường. Từ đó ảnh hưởng chung đến kinh tế thế giới, thu nhập và khả năng tích lũy của kiều bào có thể bị ảnh hưởng, khiến dòng kiều hối tiếp tục giảm.
Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí – PVFCCo (Đạm Phú Mỹ, HoSE: DPM) vừa công bố báo cáo tài chính hợp nhất quý I/2026 với kết quả kinh doanh tăng trưởng mạnh trong bối cảnh giá phân bón thế giới đi lên.
Trong 3 tháng đầu năm, doanh thu thuần của doanh nghiệp đạt hơn 5.623 tỷ đồng, tăng 36,4% so với cùng kỳ năm trước. Giá vốn hàng bán tăng 35% lên 4.682 tỷ đồng, tuy nhiên tốc độ tăng doanh thu cao hơn giúp lợi nhuận gộp đạt hơn 941 tỷ đồng, tăng mạnh so với mức 654 tỷ đồng của quý I/2025. Biên lợi nhuận gộp cũng được cải thiện từ 15,8% lên khoảng 16,7%.
Theo doanh nghiệp, kết quả tích cực đến từ việc sản lượng tiêu thụ phân bón và hóa chất tăng mạnh, cùng với giá bán bình quân các mặt hàng chủ lực cải thiện so với cùng kỳ. DPM đồng thời đẩy mạnh xuất khẩu urê kỹ thuật trong bối cảnh mặt bằng giá phân bón thế giới tăng cao do ảnh hưởng từ căng thẳng địa chính trị tại khu vực Trung Đông.
Đại diện doanh nghiệp cho biết, nhờ chiến lược điều hành linh hoạt và tối ưu hệ thống phân phối, sản lượng sản xuất và tiêu thụ các mặt hàng phân bón, hóa chất đều vượt kế hoạch đề ra.
Trong kỳ, doanh thu hoạt động tài chính đạt 82,3 tỷ đồng, tăng gấp 2,5 lần cùng kỳ. Ngược lại, chi phí tài chính tăng mạnh lên gần 45 tỷ đồng, chủ yếu do chi phí lãi vay tăng hơn 73% lên 43,5 tỷ đồng.
Áp lực chi phí vận hành cũng gia tăng khi chi phí bán hàng tăng 12% lên 281 tỷ đồng, còn chi phí quản lý doanh nghiệp tăng 15% lên gần 183 tỷ đồng.
Sau khi khấu trừ các chi phí, DPM ghi nhận lợi nhuận sau thuế hơn 410 tỷ đồng, tăng gần 95% so với cùng kỳ năm trước. Với kết quả này, doanh nghiệp đã hoàn thành khoảng 60% kế hoạch lợi nhuận cả năm chỉ sau quý đầu tiên.
Năm 2026, Đạm Phú Mỹ đặt mục tiêu doanh thu hợp nhất 17.600 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế 680 tỷ đồng. Doanh nghiệp cũng dự kiến duy trì tỉ lệ cổ tức 12% vốn điều lệ.
Bên cạnh hoạt động cốt lõi là sản xuất kinh doanh phân bón, DPM đang đẩy mạnh mở rộng sang lĩnh vực hóa chất. Trong năm nay, doanh nghiệp dự kiến chi hơn 1.164 tỷ đồng cho đầu tư, tập trung thúc đẩy các dự án hóa chất mới, đáng chú ý là dự án H2O2 (oxy già).
Tại thời điểm ngày 31/3/2026, tổng tài sản của DPM đạt hơn 18.156 tỷ đồng, tăng nhẹ so với đầu năm. Doanh nghiệp đang nắm giữ hơn 9.045 tỷ đồng tiền mặt, tiền gửi và đầu tư tài chính ngắn hạn, chiếm khoảng một nửa tổng tài sản.
Hàng tồn kho giảm hơn 10% xuống còn 3.064 tỷ đồng. Trong khi đó, tổng nợ phải trả ở mức 6.340 tỷ đồng, chủ yếu là nợ ngắn hạn. Đáng chú ý, dư nợ vay và nợ thuê tài chính ngắn hạn đã giảm từ 4.164 tỷ đồng đầu năm xuống còn 3.167 tỷ đồng vào cuối quý I.
Theo ông Hoàng Minh Hiếu, điều này cho thấy Chính phủ đã nhận diện đúng điểm nghẽn trong phát triển hiện nay không chỉ nằm ở nguồn lực, mà nằm ở cách thức vận hành của bộ máy và chất lượng thể chế; qua đó khẳng định đây là một trong những vấn đề được ưu tiên, do người đứng đầu Chính phủ trực tiếp dẫn dắt.
Theo ông Hiếu, về mặt tâm lý xã hội, quyết tâm của Thủ tướng tạo ra hiệu ứng "phát súng lệnh" trong toàn bộ bộ máy. Khi cấp trên cao nhất đã hành động, các bộ, ngành, địa phương không còn lý do để chần chừ. Tốc độ thực thi từ đó sẽ khác hoàn toàn. Cải cách thủ tục hành chính (TTHC) là việc khó vì đụng chạm trực tiếp đến lợi ích cục bộ và thói quen của một bộ phận cán bộ. Việc chọn vấn đề này để làm đầu tiên chính là cách người đứng đầu Chính phủ thiết lập kỷ cương, buộc cả bộ máy phải chuyển động.
Về mặt kinh tế, đây là phép tính rất thực dụng. Trong khi các giải pháp kích cầu, đầu tư công hay chính sách tiền tệ đều cần thời gian chuẩn bị và nguồn lực lớn, thì cắt giảm TTHC là biện pháp gần như không tốn chi phí ngân sách nhưng mang lại hiệu quả tức thì. Chẳng hạn như doanh nghiệp (DN) được thông quan nhanh hơn, nhà đầu tư được cấp phép sớm hơn, người dân được giải quyết giấy tờ thuận tiện hơn. Đó là những tác động lan tỏa vào tăng trưởng ngay trong ngắn hạn.
Quan trọng nhất, hành động này phát đi tín hiệu tạo niềm tin đến cộng đồng DN và nhà đầu tư nước ngoài. Trong một thời điểm mà các tập đoàn quốc tế đang cân nhắc, so sánh VN với các nước cạnh tranh trong khu vực, việc chứng kiến người đứng đầu Chính phủ đích thân chỉ đạo tháo gỡ rào cản ngay từ những ngày đầu sẽ nói lên rất nhiều về cam kết thực chất. Điều này khẳng định VN đang thực sự xây dựng một môi trường đầu tư mà ở đó chi phí thời gian và các rủi ro pháp lý được giảm thiểu tối đa.
"Lịch sử phát triển kinh tế ở nhiều quốc gia cho thấy những cải cách để lại dấu ấn lâu dài thường bắt đầu bằng quyết tâm chính trị mạnh mẽ từ cấp cao nhất. Vấn đề còn lại là thực thi phải có hiệu quả thực sự, phải tác động thực sự đến đời sống của người dân và hoạt động của DN, không dừng lại ở văn bản hay nghị quyết", ông Hiếu nói.
TS Nguyễn Quốc Việt, Trưởng nhóm nghiên cứu chính sách kinh tế vĩ mô, Trường ĐH Kinh tế (ĐH Quốc gia Hà Nội), cũng phân tích: Việc xây dựng, hoàn thiện thể chế và chính sách đề cao sự liêm chính, tinh thần sáng tạo và trách nhiệm xã hội sẽ tạo ra môi trường kinh doanh minh bạch, giảm thiểu chi phí giao dịch và thúc đẩy niềm tin - vốn là loại vốn xã hội quý giá nhất. Chính phủ kiến tạo không có nghĩa là làm thay DN, mà là tạo ra luật chơi công bằng, minh bạch và cung cấp hạ tầng chiến lược để DN có thể tự do sáng tạo và cạnh tranh.
TS Việt nhấn mạnh: "Trong bối cảnh tình hình thế giới diễn biến nhanh chóng, phức tạp, cùng với yêu cầu đặt ra về tăng trưởng cao và bền vững của VN, các ưu tiên nêu trên đồng thời thể hiện cam kết hành động nhất quán của Chính phủ. Đây cũng chính là các yếu tố cốt lõi của một Chính phủ kiến tạo: chủ động tạo lập môi trường thuận lợi để thúc đẩy phát triển KT-XH. Việc tinh gọn TTHC là điều cần thiết và bắt buộc phải thực hiện để VN thực hiện mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân trên 10%/năm giai đoạn 2026 - 2031, tiếp tục hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước. Với một Chính phủ hiện đại, kiến tạo và phục vụ nhân dân, tôi tin tưởng rằng đây sẽ là mục tiêu khả thi trong kỷ nguyên mới".
CTCP FECON (HoSE: FCN) vừa thông qua phương án phát hành riêng lẻ 1.250 trái phiếu mã FCN12601, mệnh giá 100 triệu đồng/trái phiếu, tương ứng tổng giá trị huy động tối đa 125 tỷ đồng. Lô trái phiếu dự kiến phát hành ngày 15/5/2026, kỳ hạn 18 tháng và đáo hạn vào ngày 15/11/2027.
Theo nghị quyết HĐQT, trái phiếu được chào bán riêng lẻ tại thị trường trong nước. Doanh nghiệp cam kết thực hiện mua lại trước hạn theo các điều khoản quy định tại phương án phát hành.
Để bảo đảm nghĩa vụ thanh toán cho lô trái phiếu, FECON sử dụng cổ phần thuộc sở hữu của công ty và CTCP Đầu tư FECON - công ty con do FECON nắm 90,52% vốn làm tài sản bảo đảm.
Ngoài số cổ phần thế chấp, toàn bộ quyền, lợi ích phát sinh từ các cổ phần này như cổ tức, khoản phân chia, khoản bồi hoàn hoặc thanh toán thay thế cũng thuộc phạm vi bảo đảm cho trái phiếu.
Tỉ lệ bảo đảm ban đầu được xác định ở mức 201%. FECON và các bên bảo đảm cam kết duy trì Tỉ lệ này không thấp hơn 200% trong suốt thời gian trái phiếu lưu hành.
Tính đến ngày 31/3/2026, dư nợ trái phiếu của doanh nghiệp còn hơn 200 tỷ đồng. Trước đó, ngày 21/4/2026, FECON đã thanh toán 100 tỷ đồng tiền gốc và hơn 2,7 tỷ đồng tiền lãi cho lô trái phiếu FCNH2426001, qua đó tất toán lô trái phiếu này đúng hạn.
Lô trái phiếu FCNH2426001 được phát hành từ tháng 10/2024 với tổng giá trị 120 tỷ đồng, kỳ hạn 18 tháng. Trong năm 2025, doanh nghiệp đã hai lần mua lại trước hạn tổng cộng 20 tỷ đồng, đưa giá trị lưu hành còn 100 tỷ đồng tại thời điểm đáo hạn.
Động thái huy động vốn diễn ra trong bối cảnh FECON mở rộng hoạt động ở cả mảng hạ tầng và năng lượng tái tạo.
Mới đây, doanh nghiệp tham gia thi công dự án tuyến đường sắt đô thị số 5 Văn Cao - Hòa Lạc tại Hà Nội với giá trị hợp đồng khoảng 3.000 tỷ đồng.
Theo công bố, FECON tham gia với vai trò nhà thầu trong gói EPC thuộc dự án thành phần 2, đảm nhận các hạng mục đào hầm bằng công nghệ TBM, xử lý nền móng, lắp đặt vỏ hầm, chống thấm và hệ thống công trình phụ trợ.
Bên cạnh đó, tháng 4/2026, UBND tỉnh Gia Lai đã chấp thuận CTCP Điện gió An Thành Gia Lai - đơn vị thuộc hệ sinh thái FECON Power làm nhà đầu tư dự án Nhà máy điện gió An Thành Gia Lai giai đoạn 1. Dự án có công suất 40MW, tổng vốn đầu tư khoảng 1.586 tỷ đồng, dự kiến khởi công vào tháng 11/2026 và vận hành từ tháng 2/2028.
Về kết quả kinh doanh, quý I/2026, FECON ghi nhận doanh thu thuần hơn 1.300 tỷ đồng, tăng 59% so với cùng kỳ năm trước. Lợi nhuận sau thuế đạt gần 44 tỷ đồng, gấp gần 42 lần cùng kỳ, chủ yếu nhờ nguồn thu từ hoạt động xây dựng tăng mạnh.