Liên quan tới tranh cãi về vấn đề hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh (hộ kinh doanh) có doanh thu năm từ 500 triệu đồng trở xuống có được sử dụng hóa đơn điện tử hay không, chiều nay 17.4, Cục Thuế (Bộ Tài chính) chính thức đưa ra hướng dẫn.
Đơn vị này cho biết, theo quy định tại Nghị định 70/2025/NĐ-CP và Nghị định 68/2026/NĐ-CP, chính sách hóa đơn điện tử đối với hộ kinh doanh được thiết kế theo ngưỡng doanh thu nhằm bảo đảm phù hợp với quy mô hoạt động và mức độ tuân thủ của người nộp thuế.
Hộ kinh doanh có doanh thu từ 1 tỉ đồng/năm trở lên thuộc diện bắt buộc áp dụng hóa đơn điện tử.
Đối với hộ kinh doanh có quy mô nhỏ, doanh thu thấp (bao gồm nhóm có doanh thu từ 500 triệu đồng/năm trở xuống), pháp luật không quy định thuộc diện bắt buộc sử dụng hóa đơn điện tử.
Thời gian qua, triển khai hóa đơn điện tử đã mang lại nhiều lợi ích thiết thực khi nhiều hộ kinh doanh dù doanh thu từ 500 triệu đồng/năm trở xuống vẫn có nhu cầu sử dụng hóa đơn điện tử, nhằm chuyên nghiệp trong giao dịch với người tiêu dùng, khách hàng là doanh nghiệp tổ chức.
Thực tế, các hộ kinh doanh này đã đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử theo quy định tại Nghị định 70/2025/NĐ-CP và đã được cơ quan thuế chấp thuận sử dụng hóa đơn theo đúng quy định.
Cục Thuế không hạn chế các nhu cầu hợp pháp này, đồng thời đang tổng hợp vướng mắc từ thực tiễn để báo cáo cấp có thẩm quyền hoàn thiện quy định, bảo đảm thuận lợi cho hộ kinh doanh và thống nhất trong tổ chức thực hiện.
Để bảo đảm thống nhất trong triển khai thực hiện, tránh gây hiểu nhầm cho người nộp thuế, trong ngày 17.4, Cục Thuế đã có văn bản chỉ đạo các cơ quan thuế địa phương không yêu cầu hộ kinh doanh có doanh thu từ 500 triệu đồng/năm trở xuống ngừng sử dụng hóa đơn điện tử nếu hộ có nhu cầu và đang sử dụng hợp pháp.
Các hộ kinh doanh đang sử dụng hóa đơn điện tử được tiếp tục sử dụng, không phải thực hiện thủ tục thông báo bổ sung với cơ quan thuế.
Đối với các văn bản, thông báo, quyết định xử phạt hoặc nội dung hướng dẫn đã ban hành tại một số thuế cơ sở có liên quan đến việc sử dụng hóa đơn điện tử của hộ kinh doanh có doanh thu từ 500 triệu đồng/năm trở xuống, Cục Thuế yêu cầu cơ quan thuế địa phương khẩn trương rà soát, đối chiếu với quy định hiện hành và hướng dẫn của Cục Thuế để xử lý theo đúng thẩm quyền.
Trường hợp phát hiện nội dung chưa phù hợp thì kịp thời thu hồi, hủy bỏ, thay thế theo quy định, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế.
Trước đó, một số cơ quan thuế địa phương đã thông báo hoặc hướng dẫn hộ kinh doanh có doanh thu từ 500 triệu đồng/năm trở xuống dừng sử dụng hóa đơn điện tử; đồng thời cho rằng trường hợp tiếp tục sử dụng hóa đơn sẽ bị xác định là hành vi sử dụng hóa đơn không hợp pháp và bị xử phạt.
Nhiều chuyên gia về thuế, kế toán phân tích, đến hiện tại, chưa có bất kỳ văn bản pháp lý nào quy định hộ kinh doanh thuộc diện miễn thuế không được sử dụng hóa đơn điện tử. Bởi vậy, việc cơ quan thuế địa phương đề cập hành vi và mức phạt thuộc trường hợp này là không phù hợp, gây phát sinh nhiều vướng mắc.
Theo ông Lê Văn Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Kế toán thuế Keytas, cuối năm 2025 và đầu năm 2026, hộ kinh doanh còn đang được khuyến khích sử dụng hóa đơn điện tử. Thay đổi đột ngột chính sách sẽ gây khó khăn cho môi trường pháp lý, môi trường kinh doanh, gián tiếp làm tăng chi phí tuân thủ của người kinh doanh.
“Trong giai đoạn giao thời giữa chính sách thuế cũ và mới (chuyển từ khoán thuế sang kê khai thuế), Cục Thuế từng nhiều lần khẳng định tinh thần, thời gian đầu, ưu tiên hướng dẫn và hỗ trợ hộ kinh doanh không xử phạt.
Do đó, không chỉ trong việc sử dụng hóa đơn điện tử này mà cả những vấn đề phát sinh liên quan khác, cơ quan thuế cần có cách làm thống nhất, làm rõ quan điểm không xử phạt hành chính với những vi phạm của hộ kinh doanh trong giai đoạn đầu, trừ khi đó là hành vi trốn thuế có chủ đích”, ông Tuấn đề xuất.
Đó là chỉ đạo nóng trong văn bản được Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Công Thành ký ngày 28.4, gửi các tập đoàn: Điện lực Việt Nam (EVN); Công nghiệp năng lượng quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) và Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) và 32 nhà máy nhiệt điện.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị các chủ đầu tư, đơn vị vận hành nhà máy nhiệt điện rà soát toàn diện hiện trạng thiết bị, hiệu quả vận hành của các công trình xử lý chất thải; chủ động rà soát hệ thống xử lý khí thải nhằm phòng ngừa, giảm thiểu sự cố môi trường có thể dẫn tới nguy cơ xả khí thải vượt quy chuẩn kỹ thuật.
Các nhà máy nhiệt điện bảo đảm vận hành ổn định, hiệu quả hệ thống thu gom, xử lý khí thải và hệ thống quan trắc khí thải tự động, liên tục; ưu tiên rà soát, sửa chữa, thay thế, bổ sung vật tư tiêu hao, định kỳ bảo trì, bảo dưỡng thiết bị để bảo đảm điều kiện vận hành ổn định, đặc biệt là trong các tháng cao điểm mùa khô.
Khi phát hiện hệ thống xử lý khí thải xuống cấp, hư hỏng, các nhà máy phải kịp thời khắc phục, sửa chữa và có kế hoạch định kỳ bảo dưỡng, sửa chữa, thay thế vật tư, hóa chất, thiết bị theo hướng chủ động, ưu tiên thực hiện trước mùa khô hoặc bố trí trong các thời điểm phụ tải thấp; không làm gián đoạn vận hành các tổ máy phát điện.
Trường hợp bảo dưỡng, sửa chữa, cải tạo thiết bị có khả năng ảnh hưởng đến công tác huy động công suất phát điện, các nhà máy cần lập kế hoạch cụ thể, phối hợp với đơn vị điều độ hệ thống điện để bố trí thời gian thực hiện phù hợp với kế hoạch huy động điện trong mùa khô theo chỉ đạo, hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng đề nghị chủ đầu tư, đơn vị vận hành nhà máy nhiệt điện xem xét, lựa chọn, kết hợp thực hiện một số biện pháp cụ thể đối với công tác vận hành tổ máy phát điện và hệ thống xử lý bụi, khí thải.
Các nhà máy nhiệt điện tăng cường kiểm soát chặt chẽ chất lượng nhiên liệu đầu vào, đặc biệt là các chỉ tiêu kỹ thuật về hàm lượng lưu huỳnh, tro, độ ẩm trong than. Trên cơ sở đó, các nhà máy dự báo nồng độ phát thải đối với các thông số ô nhiễm cơ bản trong khí thải (SO2, NOx và bụi tổng) để điều chỉnh tỷ lệ phối trộn nhiên liệu phù hợp; không tiếp nhận than không bảo đảm chất lượng theo thiết kế công nghệ của tổ máy.
Các nhà máy nhiệt điện duy trì và tăng cường bề mặt trao đổi nhiệt (thông qua cơ chế nghiền than, chế độ cấp gió, xử lý xỉ lò), bảo đảm hiệu suất cháy ổn định, hạn chế dao động tải nhằm vận hành tổ máy ở chế độ tối ưu đồng thời hạn chế tối đa việc thay đổi đột biến về nồng độ của các thông số ô nhiễm trong khí thải.
Để tăng cường khả năng vận hành hiệu quả hệ thống xử lý khí thải, giảm thiểu nguy cơ xả khí thải vượt quy chuẩn kỹ thuật môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường khuyến nghị thiết lập ngưỡng cảnh báo nội bộ về các thông số ô nhiễm trong khí thải (như CO, NOx, SO2, bụi tổng) phù hợp để chủ động điều chỉnh tỷ lệ thành phần nhiên liệu, chế độ vận hành của tổ máy.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng lưu ý các đơn vị về lộ trình áp dụng Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia mới về khí thải công nghiệp (QCVN 19:2024/BTNMT) có hiệu lực từ ngày 1.7.2025. Các nhà máy vận hành trước ngày 1.7.2025 tiếp tục áp dụng quy chuẩn cũ (QCVN 22:2009/BTNMT) đến hết ngày 31.12.2031.
Ngay từ bây giờ, các chủ đầu tư nhà máy nhiệt điện khẩn trương nghiên cứu chuyển đổi công nghệ sản xuất và xử lý chất thải ngay để đáp ứng các quy định nghiêm ngặt tại quy chuẩn QCVN 19:2024/BTNMT từ ngày 1.1.2032.
Trong đó nguồn thu từ tiền sử dụng đất (xác định giá đất cụ thể tại 304 khu đất) dự kiến là 236.311 tỉ đồng.
Nguồn thu từ bán đấu giá là 54.549 tỉ đồng, trong đó có chín khu đất trong Khu đô thị mới Thủ Thiêm dự kiến số thu là 31.054 tỉ đồng, một khu đất ngoài Khu đô thị mới Thủ Thiêm dự kiến số thu là 23.495 tỉ đồng.
Nguồn thu từ 11 dự án dự kiến thanh toán hợp đồng BT dự kiến số thu là 325.850 tỉ đồng. Nguồn thu từ tiền thuê đất hàng năm dự kiến số thu là 169,5 tỉ đồng.
Như vậy, tổng nguồn thu từ đất dự kiến giai đoạn 2026 - 2030 là 616.879,5 tỉ đồng.
Cũng theo Sở Nông nghiệp và Môi trường TP.HCM, trong năm 2026 Sở đã ban hành kế hoạch triển khai Nghị quyết số 214 của Chính phủ, về thúc đẩy tạo lập dữ liệu phục vụ chuyển đổi số toàn diện.
Theo đó, xây dựng và triển khai đồng bộ kiến trúc hệ thống, nền tảng dùng chung các đơn vị thuộc sở, bảo đảm kết nối, liên thông, chia sẻ dữ liệu thông suốt, liên tục nhằm phục vụ chuyển đổi số toàn diện.
Đồng thời phấn đấu 100% các cơ sở dữ liệu chuyên ngành được tiếp tục xây dựng, bổ sung và chuẩn hóa toàn diện theo tiêu chuẩn chung. Điều này cũng nhằm nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công trực tuyến, phục vụ hiệu quả công tác chỉ đạo, điều hành và cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu, đáp ứng yêu cầu thiết thực của người dân, doanh nghiệp trên địa bàn TP.HCM.
Dữ liệu này cũng là thông tin đảm bảo đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung; được kết nối, chia sẻ, thông suốt giữa các cơ quan nhà nước. Bảo đảm tuyệt đối an toàn thông tin và an ninh mạng trong suốt quá trình tổ chức triển khai và đưa vào vận hành các cơ sở dữ liệu thuộc thẩm quyền quản lý của Sở.
Cụ thể, theo PGS-TS Nguyễn Hữu Huân, bài toán khơi thông dòng vốn cho nền kinh tế, đặc biệt là bất động sản tiếp tục lặp lại trong bối cảnh áp lực lãi suất, tỷ giá và lạm phát gia tăng, đòi hỏi giải pháp dài hạn như phát triển thị trường vốn và mở rộng các kênh huy động mới.
Theo ông, câu chuyện khơi thông dòng vốn không phải vấn đề mới. Cách đây 4 năm, tại cùng hội trường này, Báo Thanh Niên từng tổ chức hội thảo với chủ đề tương tự, sau đó nhiều diễn đàn khác cũng xoay quanh bài toán này.
Bối cảnh hiện nay có nhiều điểm tương đồng với giai đoạn năm 2022, khi lãi suất tăng cao và tín dụng bị siết chặt, dù mức độ chưa căng thẳng bằng. Các yếu tố bên ngoài đã khiến cho giá xăng dầu biến động mạnh từ đó làm cho chi phí đầu vào tăng, kéo theo nguy cơ lạm phát quay trở lại. Đồng thời, áp lực tỷ giá cũng khiến chính sách tiền tệ khó nới lỏng, buộc mặt bằng lãi suất duy trì ở mức cao hơn, tác động đến tăng trưởng.
Trong bối cảnh đó, Ngân hàng Nhà nước đứng trước bài toán khó khi vừa phải ổn định kinh tế vĩ mô, vừa hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng hai con số. Đây là thách thức lớn trong điều hành thời gian tới.
Dù vậy, theo PGS-TS Nguyễn Hữu Huân, lãi suất tăng, siết tín dụng nhưng doanh nghiệp đã phần nào quen với các chu kỳ biến động và không còn quá bất ngờ như trước. Thanh khoản có thể suy giảm nhưng nhiều đơn vị đã chủ động xây dựng kịch bản ứng phó khả thi.
Tuy nhiên, điểm yếu lớn vẫn là sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng. Nếu không thay đổi cấu trúc vốn, doanh nghiệp sẽ khó phát triển bền vững do chu kỳ thắt chặt, nới lỏng tín dụng có xu hướng lặp lại sau mỗi 4 - 5 năm.
"Bài học từ giai đoạn trước cho thấy rủi ro của việc lệ thuộc vào một kênh vốn. Trước năm 2022, thị trường chứng kiến làn sóng phát hành trái phiếu doanh nghiệp ồ ạt, nhưng khi kênh này bị siết lại đã tạo cú sốc kép, ảnh hưởng mạnh đến bất động sản", ông Huân dẫn chứng.
Theo ông Huân, áp lực hiện tại chưa quá lớn nhưng vẫn tiềm ẩn rủi ro, do đó cần các giải pháp dài hạn. Trọng tâm là phát triển thị trường vốn, đặc biệt là trái phiếu doanh nghiệp, không chỉ cho bất động sản mà cho toàn bộ nền kinh tế. Nên đa dạng hóa kênh huy động vốn là nhu cầu cấp thiết trong thời gian tới.
Ngoài các kênh truyền thống, ông cho biết Trung tâm Tài chính quốc tế TP.HCM đang được kỳ vọng trở thành một kênh dẫn vốn mới cho nền kinh tế và cộng đồng doanh nghiệp trong lĩnh vực bất động sản. Tại đây, các mô hình huy động vốn hiện đại như token hóa tài sản bất động sản hay NFT có thể được triển khai, mở ra hướng tiếp cận mới cho dòng vốn.
Đáng chú ý, Trung tâm còn có lợi thế trong việc huy động nguồn vốn quốc tế, khi có thể cho giao dịch bằng đồng USD, cũng như thu hút nguồn lực từ kiều hối. Bên cạnh đó, cơ chế cho phép nhà đầu tư nước ngoài tham gia tối đa 30% trong một dự án đang được nghiên cứu, nhằm tạo thêm nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế, phù hợp với đặc thù của thị trường bất động sản.