Gia đình bà Nguyễn Thị Hoa (58 tuổi, trú xã Hòa Tiến, thành phố Đà Nẵng) thuộc diện giải tỏa trắng tại dự án tuyến đường Vành đai phía tây đoạn từ vị trí giao với quốc lộ 14B (trước đây thuộc địa bàn xã Hòa Khương, huyện Hòa Vang cũ). Trao đổi với PV Thanh Niên, bà Nguyễn Thị Hoa cho biết tháng 5.2025 gia đình bà đã chấp hành chủ trương, bàn giao mặt bằng sớm để phục vụ thi công và đã được bố trí đất tái định cư.
Theo Quyết định số 1674/QĐ-UBND ngày 8.5.2025 của UBND huyện Hòa Vang (cũ), gia đình bà Hoa được bố trí 2 lô đất đường 10,5 m tái định cư tại Khu tái định cư phục vụ giải tỏa tuyến đường Vành đai phía tây. Khu tái định cư này được bố trí ở địa bàn xã Hòa Phong, cùng huyện Hòa Vang cũ (nay là xã Hòa Vang mới, thành phố Đà Nẵng).
Sau khi nhận phiếu bố trí, gia đình bà Hoa tiến hành các thủ tục nhận đất thực tế và thực hiện nghĩa vụ tài chính để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, sau gần 1 năm, các thủ tục này vẫn chưa thể hoàn tất.
Giữa khu tái định cư, 2 lô đất của gia đình ông Hoàng, gia đình bà Hoa cỏ mọc um tùm, bỏ hoang suốt nhiều tháng. Đây lẽ ra phải là nơi an cư mới của các gia đình sau khi chấp hành chủ trương bàn giao mặt bằng phục vụ thi công dự án.
Không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đồng nghĩa với việc gia đình bà Hoa không thể xin giấy phép xây dựng. “Chúng tôi được UBND xã Hòa Vang trả lời là khu tái định cư chưa có giá đất nên chưa có cơ sở tính thuế. Lỗi ở khâu này (chưa có giá đất nên chưa có cơ sở tính thuế – PV) nhưng người chịu thiệt lại là người dân. Chúng tôi đã chờ đợi xây nhà hơn 11 tháng rồi”, bà Hoa bức xúc.
Không chỉ riêng gia đình bà Hoa, hàng trăm hộ dân khác thuộc diện di dời, giải tỏa trong dự án này cũng rơi vào tình cảnh tương tự.
Ông Nguyễn Đức Toàn (trú xã Hòa Vang), chủ một lô đất tại khu tái định cư xã Hòa Phong (phục vụ dự án tuyến đường Vành đai phía tây) cho biết từ năm 2025 đến nay vẫn chưa nhận được thông báo nghĩa vụ tài chính để hoàn tất thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
“Tôi có nhu cầu xây nhà nhưng không thể làm thủ tục vì chưa có giấy tờ. Chúng tôi chỉ mong được đóng thuế để hoàn thiện hồ sơ, xây dựng nhà trên đất đã được bố trí”, ông Toàn nói.
Trong khi đó, hoàn cảnh của bà Nguyễn Thị Cúc (thôn Hương Lam, xã Hòa Tiến) càng khó khăn hơn. Là mẹ đơn thân, con bị khuyết tật, từ tháng 2.2025 sau khi bàn giao nhà cho dự án, mẹ con bà Cúc phải sống nhờ trong căn nhà tạm bằng tôn của người thân.
“Mùa nắng thì nóng, mùa mưa thì ngập, rất khổ. Tôi chỉ mong sớm được giải quyết để có thể xây dựng một căn nhà ổn định”, bà Cúc chia sẻ.
Thực tế, trong thời gian chờ đợi, nhiều hộ dân phải đi thuê trọ, ở nhờ hoặc sống trong những căn nhà tạm không đảm bảo an toàn, phát sinh chi phí và ảnh hưởng lớn đến đời sống.
“Gia đình tôi chỉ được hỗ trợ 6 tháng tiền thuê nhà với tổng số 30 triệu đồng, nhưng đến nay đã phải tự bỏ thêm chi phí để tiếp tục thuê chỗ ở. Việc chờ đợi hoàn tất thủ tục xây nhà kéo dài khiến chúng tôi rất bức xúc, trong khi câu trả lời từ chính quyền cấp xã vẫn chưa thỏa đáng”, bà Hoa nói.
Trả lời PV Thanh Niên, ông Lê Phú Nguyện, Chủ tịch UBND xã Hòa Vang, cho biết địa phương đã nắm được tình trạng này và đã có báo cáo UBND thành phố Đà Nẵng để xem xét, giải quyết.
Theo ông Nguyện, nguyên nhân chính là do chưa xác định được giá đất cụ thể tại các khu tái định cư, dẫn đến chưa có cơ sở để tính nghĩa vụ tài chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân.
“Đây là vấn đề ảnh hưởng lớn đến đời sống người dân nên xã đang tích cực làm việc với các sở, ngành liên quan để tháo gỡ”, ông Nguyện nói.
Theo Chủ tịch UBND xã Hòa Vang, đầu tháng 4.2026, UBND thành phố Đà Nẵng đã họp và có kết luận về việc xác định giá đất tại các khu tái định cư trên địa bàn xã Hòa Vang. Đối với các tuyến đường 5,5 m và 7,5 m, hiện địa phương đang khẩn trương thực hiện các thủ tục để xác định nghĩa vụ tài chính và giải quyết hồ sơ cấp giấy chứng nhận cho người dân ở các khu vực này.
Riêng các trường hợp trên tuyến đường 10,5 m, xã đã có báo cáo đề xuất phương án và đang chờ ý kiến chỉ đạo tiếp theo của thành phố.
Theo Chủ tịch UBND xã Hòa Vang, khi có giá đất cụ thể, địa phương sẽ tập trung xử lý hồ sơ trong khoảng 1 – 2 tháng để người dân sớm hoàn tất thủ tục.
“Nếu trong tháng 4 có kết luận của thành phố, xã sẽ cố gắng hoàn thiện trong tháng 5 để người dân có thể xây dựng nhà trước mùa mưa bão”, ông Nguyện thông tin.
Đêm TP.HCM hầu như không bao giờ ngủ. Ngành điện TP.HCM chính là hệ mạch máu cung cấp năng lượng cho từng nhịp đập để thức. Từ những trạm phát điện lẻ, cũ kỹ năm 1967 cho đến một hệ thống điện thông minh vươn tầm khu vực hiện nay, Tổng công ty đã đi qua một hành trình 50 năm thắp sáng - nơi mỗi cột đèn, mỗi mét cáp ngầm đều in dấu sự chuyển mình của một đô thị rực rỡ nhất miền Nam.
Sau ngày thống nhất đất nước, Sở Quản lý và phân phối điện thành phố (tiền thân của EVNHCMC) được thành lập. Thiết bị thiếu đồng bộ, linh kiện thay thế khan hiếm do bị bao vây cấm vận. Năm 1994, đường dây 500 kV Bắc - Nam mạch 1 đi vào vận hành, đây là "cú hích" lịch sử giúp giải quyết cơn khát điện tại TP.HCM lúc bấy giờ, đồng thời kết nối hệ thống điện thành phố vào mạng lưới quốc gia.
Giai đoạn chứng kiến sự chuyển dịch từ việc "chạy ăn từng bữa" sang phát triển bền vững và mở rộng quy mô. Mạng lưới phát triển đầu tư mạnh vào các trạm biến áp 110 kV và 220 kV, bắt đầu quá trình ngầm hóa dây điện và cáp viễn thông tại các quận trung tâm để đảm bảo an toàn mỹ quan đô thị. Năm 2010, EVNHCMC chính thức được thành lập, hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con.
Đây là giai đoạn bứt phá mạnh mẽ nhất, đưa ngành điện thành phố tiếp cận trình độ các nước phát triển trong khu vực. EVNHCMC là đơn vị đầu tiên tại Việt Nam triển khai thành công hệ thống tự động hóa lưới điện phân phối (DAS/DA) giúp tự động phát hiện và xử lý sự cố trong vài giây. Thay thế hoàn toàn điện kế cơ bằng điện kế điện tử thông minh, cho phép người dân theo dõi chỉ sơ điện qua ứng dụng di động hằng ngày, 100% dịch vụ điện được thực hiện trực tiếp (cấp độ 4), thanh toán không dùng tiền mặt đạt tỷ lệ gần như tuyệt đối.
Tính đến hiện nay, hầu hết các tuyến đường chính và khu vực trung tâm TP.HCM đã hoàn tất ngầm hóa, góp phần xây dựng đô thị thông minh mang tên Bác.
Chặng đường từ năm 1967 đến nay không chỉ được đo bằng những km đường dây hay sản lượng điện năng, mà còn được đo bằng mồ hôi, trí tuệ và cả sự hy sinh thầm lặng của các thế hệ của ngành điện thành phố mang tên Bác. Nhìn lại quá khứ để thêm trân trọng hiện tại, từ nền tảng vững chắc ấy, EVNHCMC cam kết sẽ tiếp tục là người bạn đồng hành tin cậy, thắp sáng mọi ước mơ và khát vọng của người dân. Ánh sáng ấy sẽ mãi tận tụy, mãi vươn xa.
Khi bước chân vào một đơn vị có bề dày thành tích, tôi từng lo sợ mình sẽ bị ngợp trước cái bóng quá lớn của các bậc tiền bối. Nhưng không, một năm qua tôi nhận ra rằng lịch sử không phải để nhìn lại với vẻ xa xăm mà là điểm tựa để những người trẻ như chúng tôi bứt phá. Tôi may mắn được bắt đầu ở giai đoạn mà ngành điện không còn chỉ là "trèo trụ, nối dây" thủ công mà là điều hành bằng dữ liệu số, vận hành lưới điện thông minh.
Một năm qua, tôi học được rằng tại đây, mỗi con số không chỉ là tài chính đơn thuần mà là nguồn lực để duy trì ánh sáng cho thành phố. Từ việc cân đối ngân sách cho các dự án ngầm hóa lưới điện đến việc đảm bảo dòng vốn cho các công trình trạm biến áp thông minh, mỗi bảng tính tôi thực hiện điều đóng góp một phần nhỏ vào sự vững mạnh của Tổng công ty. Tôi thấm thía cái "chất" của người ngành điện: Quyết liệt nhưng phải tỉ mỉ.
Những bảng cân đối kế toán giúp tôi hoài niệm về quá khứ cả một hành trình chuyển mình của ngành điện thành phố - từ những năm tháng khôi phục sau chiến tranh cho đến khi trở thành doanh nghiệp số hàng đầu. Một năm là thời gian đủ để tôi từ một người ngoài cuộc trở thành một phần của "đại gia đình" này, tự hào không chỉ vì mình được làm việc trong môi trường chuyên nghiệp, mà còn vì biết rằng những con số mình đang quản lý góp phần giữ cho dòng điện luôn thông suốt và bền vững.
Và tôi luôn sẵn sàng cho những hành trình dài phía trước với những "cú chạm" mới để cùng EVNHCMC viết tiếp thêm những trang sử vàng trong kỷ nguyên số.
Những năm xưa cũ, điện là thứ phải chờ. Thành phố từng quen với những buổi tối chập chờn, khi ánh đèn vừa kịp sáng thì đã lo tắt. Cúp điện luân phiên không phải là chuyện hiếm thời ấy. Người lớn nhìn đồng hồ để canh giờ nấu cơm, trẻ con thì học bài dưới ánh đèn dầu dự trữ trong nhà, còn những con đường chỉ sáng lẻ loi vài điểm lờ mờ nhỏ.
Cô Loan chủ nhà trọ chỗ tôi, đã ở TP.HCM từ "hồi não hồi nào" thủ thỉ kể trong một chiều nhạt nắng, rằng hồi đó cô bán hàng dưới một trụ đèn duy nhất trong ngõ. Bọn trẻ con túm tụm cạnh đó chơi đùa, nương ánh đèn để nhảy dây, đuổi bắt. Ánh đèn ấy trở thành điểm tựa duy nhất cho cả xóm khi đêm xuống. Những ký ức đó giờ chắc xa lạ với bọn trẻ ngày nay, nhưng lại là một phần cuộc sống của cả một thế hệ mới vừa "rũ bùn đứng dậy".
Ngày nay, TP.HCM gần như không còn những đêm tối chập chờn như trước. Thành phố sáng lên, không chỉ ở trung tâm, mà ở cả những con hẻm nhỏ, những khu dân cư mới. Ánh sáng len vào từng góc đời sống, làm thay đổi cách người ta làm việc, học tập, nghỉ ngơi.
Những quán cà phê mở xuyên đêm với bảng hiệu 24/7. Những ca làm việc kéo dài. Những chuyến xe vẫn chạy khi đồng hồ đã qua nửa đêm. Để giữ cho ánh sáng ấy không tắt, là cả một hệ thống vận hành liên tục phía sau. Những con người làm việc khi người khác nghỉ ngơi, những ca trực đêm, những lần xử lý sự cố trong mưa gió. Họ luôn thầm lặng, nhưng lại là phần không thể thiếu để ánh sáng được duy trì. Có thể chúng ta không nhìn thấy họ mỗi ngày, nhưng mỗi lần bật công tắc, ánh sáng soi rọi, là một lần công việc của họ đã được hoàn thành.
Nửa thế kỷ trôi qua, ngành điện TP.HCM đã đi một chặng đường dài, từ những ngày thiếu thốn đến một hệ thống vận hành ổn định, hiện đại, đủ sức cung ứng cho một đô thị lớn. Điện không chỉ còn là ánh sáng cho từng ngôi nhà, mà đã trở thành "mạch máu" của cả thành phố.
Những khu công nghiệp hoạt động xuyên đêm, những tòa nhà văn phòng sáng đèn, những tuyến phố không ngủ... Tất cả đều cần đến dòng điện vận hành liên tục. Ở một đô thị năng động như TP.HCM, điện không chỉ phục vụ đời sống, mà còn thúc đẩy kinh tế, mở rộng không gian phát triển, tạo nên nhịp sống đặc trưng: nhanh, sáng và không ngừng nghỉ.
Nếu chỉ nhìn vào những con số tăng trưởng hay những công trình hạ tầng, có lẽ vẫn chưa đủ để kể hết câu chuyện của ngành điện TPHCM. Bởi bên cạnh việc thắp sáng, họ còn âm thầm góp phần thay đổi cách người dân sử dụng ánh sáng, và xem đó như một sứ mệnh của mình. Thế là, bằng tất cả sự nhiệt thành, điện lực TP.HCM đã phối hợp Báo Thanh Niên để tạo nên cuộc thi Tiết kiệm điện thành thói quen. Đến nay, cuộc thi đã trải qua 3 mùa thành công rực rỡ.
Sống dưới ánh sáng của ngành điện thành phố, ban đầu tôi tham gia cuộc thi chỉ vì tò mò. Điện với tôi khi đó là một điều hiển nhiên, bật là có, dùng là xong. Tôi chưa từng nghĩ nhiều về việc mình sử dụng điện như thế nào, có lãng phí hay không, có an toàn hay không. Cuộc thi mà ngành điện TP.HCM mang đến đã thúc giục tôi bắt đầu tìm hiểu, tiếp thu rồi nhận ra những điều trước giờ mình từng sơ suất. Hóa ra, một chiếc máy lạnh nếu để sai nhiệt độ có thể tiêu tốn điện năng gấp nhiều lần.
Một chiếc tủ lạnh đặt không đúng vị trí cũng làm hao phí điện. Những thiết bị để ở chế độ chờ tưởng chừng vô hại, nhưng cộng lại tiêu tốn một lượng điện không nhỏ. Cuộc thi giống như một cách để người tham gia nhìn lại thói quen của mình. Tôi bắt đầu thay đổi từng chút một, tắt bớt thiết bị khi không dùng, điều chỉnh lại cách sử dụng, chú ý hơn đến an toàn điện trong nhà. Từ một người sử dụng đơn thuần, tôi trở thành một người sử dụng "có ý thức".
Và có lẽ, đó cũng là một phần trong cách ngành điện TPHCM đóng góp cho thành phố này, không chỉ bằng cơ sở hạ tầng, mà còn bằng việc thay đổi nhận thức.
Những chương trình, cuộc thi như vậy, nghe có vẻ nhỏ, nhưng lại tạo ra những thay đổi lớn. Khi mỗi người tiết kiệm một chút, cả thành phố sẽ giảm đi một áp lực về năng lượng. Khi mỗi người cẩn trọng hơn trong sử dụng, những rủi ro, tai nạn cũng được hạn chế.
Điện, vì thế, không chỉ là dòng chảy từ nhà máy đến từng công tắc, mà còn là một mối liên kết giữa hệ thống và con người.
50 năm, từ ánh sáng mờ đến một đô thị không ngủ, là một hành trình không chỉ của kỹ thuật, mà còn của con người: những người làm điện, và cả những người sử dụng điện.
Ông Peter và bà Colleen, hiện sống tại Nam Phi, đã cùng nhau rong ruổi suốt gần 10 năm trên những cung đường đạp xe, đi qua nhiều quốc gia châu Phi và châu Âu. Việt Nam là điểm dừng chân đầu tiên của hai người tại châu Á.
Ông Peter và bà Colleen có tình yêu rất lớn với bộ môn xe đạp. Họ không chỉ là bạn đời mà còn là những người bạn đồng hành trên nhiều chặng đường. Trong suốt hành trình đó, cả hai đã đi qua hơn 30 quốc gia và vùng lãnh thổ với tổng quãng đường gần 20.000 km.
Chuyến du lịch Việt Nam lần này mang ý nghĩa đặc biệt, bởi đây là quốc gia châu Á đầu tiên mà họ đặt chân tới. Kế hoạch đã được hai người ấp ủ từ 8 năm trước, nhưng phải tạm hoãn vì dịch Covid-19.
Hành trình tại Việt Nam kéo dài 66 ngày, men theo bờ biển để khám phá cảnh sắc, con người và văn hóa địa phương. Với ông bà, đạp xe trên những con đường làng nhỏ, gặp gỡ người dân bản địa và cảm nhận nhịp sống thường ngày chính là điều đáng mong chờ nhất.
"Mỗi ngày chúng tôi dậy sớm và bắt đầu hành trình lúc 5 giờ 30. Trung bình một ngày, chúng tôi đạp từ 50 - 70 km, có những ngày còn dài hơn. Đến giữa trưa, chúng tôi dừng lại nghỉ ngơi, buổi chiều và tối dành để khám phá nơi mình dừng chân", ông Peter chia sẻ.
Xuất phát từ Hà Nội, họ đi qua Ninh Bình rồi men theo những cung đường ven biển, ghé thăm nhiều địa danh nổi tiếng như động Phong Nha và đèo Hải Vân. Hành trình không đi theo tuyến cố định, mà ưu tiên những cung đường yên bình, hạn chế ghé các điểm quá đông khách du lịch.
Khi đến Đà Lạt, hai người tiếp tục sang Phnom Penh (Campuchia) để khám phá trong khoảng 2 tuần. Sau đó, họ quay trở lại Việt Nam, với điểm dừng chân cuối cùng của hành trình là TP.HCM.
Mỗi ngày, bà Colleen đều dành thời gian ghi lại nhật ký chuyến đi và đăng tải lên mạng xã hội. "Mỗi nơi tôi đi qua, mỗi người tôi gặp đều được lưu lại như một cách để giữ gìn ký ức, đồng thời giúp bạn bè theo dõi hành trình đặc biệt này", bà chia sẻ.
Ở độ tuổi này, ông Peter và bà Colleen không tránh khỏi những khó khăn về sức khỏe, thậm chí có lúc nghĩ đến việc dừng lại. Trước đây, bà Colleen từng gặp tai nạn và phải phẫu thuật, khiến thể lực không còn như trước.
Chính vì vậy, hành trình tại Việt Nam trở thành một trong những kỷ niệm đáng nhớ nhất của cả hai. Họ đặc biệt ấn tượng với sự thân thiện, cởi mở của người Việt. Trong suốt hành trình, họ gặp gỡ, trò chuyện với nhiều người dọc đường, khiến chuyến đi không còn là câu chuyện của riêng hai người.
Ông Peter và bà Colleen đã có những trải nghiệm khó quên như chinh phục cung đường đèo Hải Vân hay khám phá không gian kỳ vĩ của động Phong Nha. "Phong cảnh Việt Nam thật sự rất đẹp. Đặc biệt là động Phong Nha, nơi chúng tôi đi vòng quanh và cảm nhận không gian mở ra một cách ngoạn mục", ông Peter chia sẻ.
Cả hai còn ấn tượng với nhịp sống giao thông. Theo ông Peter, dù xe cộ đông đúc nhưng mọi người vẫn giữ được sự bình tĩnh, xử lý khéo léo. Khi đã quen, việc đạp xe giữa dòng người lại trở thành một trải nghiệm thú vị.
Anh Lê Luận (48 tuổi), người có kinh nghiệm đạp xe đường dài, quen vợ chồng ông Peter vài tháng trước chuyến đi khi họ liên hệ để tìm hiểu về hành trình tại Việt Nam. Anh đặc biệt ấn tượng khi đây là cặp đôi lớn tuổi nhất mà anh từng biết có thể chinh phục những cung đường dài.
Qua trò chuyện và theo dõi trên mạng xã hội, anh Luận nhận thấy hành trình của hai vợ chồng rất thú vị. Dù chưa thể hoàn thành chuyến xuyên Việt trọn vẹn, nhưng mỗi chặng đường đều mang lại những trải nghiệm đáng nhớ, để lại dấu ấn riêng.
Sau tất cả, điều quan trọng không phải là họ đã đi được bao xa, mà là những con người gặp trên đường và những trải nghiệm riêng biệt ở mỗi vùng đất.
Trong tương lai, ông Peter mong có dịp quay lại Việt Nam để chinh phục đường mòn Hồ Chí Minh và đến Sa Pa. Tuy nhiên, kế hoạch còn phụ thuộc nhiều vào sức khỏe của bà Colleen.