Tại sao môn Toán ở bậc phổ thông lại hay bị chê? Theo tôi là vì chúng ta bắt học sinh học quá nặng ở bậc học quá thấp, với cách giảng dạy có phần qua loa. Lấy ví dụ như kiến thức tích phân, đạo hàm, đối với một học sinh THPT, tính ứng dụng của nó rất thấp. Trong khi đó, việc giảng dạy của thầy cô trên lớp lại chủ yếu là nhớ công thức rồi áp dụng vào bài tính toán. Vì thế, học sinh có cảm giác mình như một con vẹt, chỉ sao làm vậy.
Thực tế, chúng ta rất thiếu các buổi giảng dạy cho học sinh hiểu tại sao phải học tích phân, nguồn gốc tích phân đến từ đâu, lý do gì mà các nhà Toán học phát triển ra tích phân, ứng dụng của nó vào đời sống thế nào…? Vì rõ ràng là tích phân ra đời từ thế kỷ 17, nhưng ứng dụng của nó trong cuộc sống suốt bao năm qua như thế nào thì chẳng bao giờ thấy ai đề cập.
Lý do mà Toán ở cấp ba bị chê vô dụng, vì nó quá hàn lâm và ít tính ứng dụng trong thực tiễn cho đa số. Phần lớn thầy cô dạy cấp ba đều lo chạy cho kịp giáo án, thậm chí sách giáo khoa Toán cũng chỉ giải thích bằng một đoạn văn bản ngắn ngủn là “dùng để tính diện tích, thể tích”, rồi phía dưới là một dãy công thức khó hiểu và bắt học sinh ghi nhớ.
>> Trả giá vì chê học Toán vô dụng
Khi tôi lên đại học, vì học ngành Kinh tế, nên các kiến thức tích phân tôi học ở phổ thông xem như “vứt thẳng ra sọt rác” sau khi ra trường. Sau này, khi đã lớn dần và bắt đầu nghiên cứu sâu hơn kiến thức sách vở để mở mang đầu óc, tôi mới biết được tại sao tích phân lại được phát triển, ứng dụng của nó trong thực tiễn như thế nào, lý do tại sao người ta sáng tạo ra tích phân (để giải bài toán diện tích hình thang cong, ứng dụng vào nghiên cứu khí hậu, xây dựng…)? Từ đó tôi mới hiểu tại sao tích phân lại quan trọng, ứng dụng của nó sau này là gì?
Tôi tin, nếu thay đổi cách giảng dạy ở bậc phổ thông thì việc học Toán sẽ không bị chê vô dụng nhiều đến thế.
Tin Gốc: Vnexpress
Ý Kiến
Tôi không còn 'kiếm tiền là duy nhất' sau hai năm sống chậm tuổi trung niên

Tôi bước sang tuổi 40 trong một trạng thái mà nhiều người có thể gọi là ổn định. Công việc đều, thu nhập đủ, có nguồn thu cho thuê, gia đình không có biến động lớn. Nếu nhìn từ bên ngoài, tôi không có lý do gì để dừng lại.
Nhưng chỉ có tôi mới cảm nhận rõ một điều là mình đang chậm lại. Không phải là thất bại, cũng không phải một cú sốc nào rõ rệt. Tôi vẫn đi làm, vẫn hoàn thành công việc, vẫn đạt những mục tiêu quen thuộc.
Nhưng cảm giác hứng thú gần như biến mất. Những thứ trước đây từng khiến tôi có động lực, giờ chỉ còn là trách nhiệm. Tôi bắt đầu sống theo quán tính, và điều đó khiến tôi thấy bất an hơn cả áp lực.
Có một câu hỏi cứ lặp lại trong đầu tôi thời điểm đó: Nếu cứ tiếp tục như vậy, 5 hay 10 năm nữa, mình sẽ trở thành phiên bản nào của chính mình?
Tôi không tìm được câu trả lời khi vẫn đang quay trong guồng công việc. Vì thế, ở tuổi từ 40 đến 42, tôi quyết định cho mình một khoảng nghỉ. Không phải nghỉ hẳn, cũng không buông bỏ tất cả, mà là một bước lùi có chủ đích để không tiếp tục đi trong trạng thái mơ hồ.
Đó là lần đầu tiên sau nhiều năm, công việc không còn là trung tâm của mọi quyết định. Tôi bắt đầu dành thời gian cho những thứ trước đây luôn bị xếp sau. Tôi đi nhiều hơn. Tôi gặp gỡ bạn bè một cách thoải mái, không cần gắn với lợi ích nào. Tôi cho phép mình có những khoảng thời gian không làm gì cả, điều mà trước đây gần như không tồn tại.
Và tôi bắt đầu tập thể thao đều đặn, ba đến bốn buổi mỗi tuần. Tôi bắt đầu trồng cây cảnh, nuôi cá, đọc sách, viết lách, đi du lịch thường xuyên
Ban đầu, cảm giác không dễ chịu. Tôi quen với việc luôn phải bận rộn, luôn phải tạo ra kết quả. Khi nhịp độ chậm lại, tôi có cảm giác như mình đang tụt lại phía sau. Nhưng càng đi qua giai đoạn đó, tôi càng nhận ra dừng lại không phải là thụt lùi. Có những lúc, đó là cách duy nhất để không đi sai đường quá xa.
Khoảng thời gian đó cho tôi một quãng thời gian để nhìn lại, thứ mà trước đây tôi gần như không có.
Tôi nhận ra suốt nhiều năm, mình sống rất nhanh. Luôn đặt mục tiêu tiếp theo ngay khi vừa đạt được mục tiêu hiện tại. Luôn cố gắng làm nhiều hơn, tốt hơn, nhanh hơn. Nhưng lại rất ít khi tự hỏi mình có thực sự muốn điều đó hay không.
Ở tuổi 20-30, cách sống đó giúp tôi tiến lên. Nhưng đến tuổi 40, nếu vẫn tiếp tục như vậy, cảm giác trống rỗng bắt đầu xuất hiện. Không phải vì thiếu thành tựu, mà vì thiếu hiểu biết với chính mình.
Hai năm chậm lại không mang đến cho tôi tất cả câu trả lời, nhưng nó giúp tôi đặt lại những câu hỏi đúng.
Khi quay lại công việc, tôi không còn là người trước đó nữa. Tôi không đặt mục tiêu duy nhất là kiếm tiền, cũng không cố làm nhiều nhất có thể. Tôi bắt đầu chọn cách làm việc phù hợp với trạng thái của mình hơn.
Khi còn năng lượng, tôi làm việc tập trung và hiệu quả. Khi mệt, tôi nghỉ mà không còn cảm thấy áy náy. Khi có thời gian rảnh, tôi đi chơi, tận hưởng hoặc đơn giản là ở yên trên sân thượng cho cá ăn, dọn bể, cắt tỉa cành. Những điều trước đây từng khiến tôi thấy không hiệu quả, giờ lại trở thành một phần cần thiết.
Việc tập thể thao vẫn được duy trì đều đặn. Không phải để đạt thành tích gì, mà để giữ cho cơ thể đủ khỏe và đầu óc đủ rõ ràng hoặc rủ bỏ stress của ngày đó. Sau một thời gian, tôi nhận ra năng lượng của mình không còn bùng nổ như trước, nhưng lại bền và ổn định hơn.
Đi qua giai đoạn đó, tôi hiểu rõ hơn về cái gọi là khủng hoảng tuổi trung niên. Thực ra, đó không hẳn là khủng hoảng. Đó là lúc con người bắt đầu nhìn lại và nhận ra những gì từng phù hợp trước đây có thể không còn phù hợp nữa.
Vấn đề không nằm ở việc chững lại, mà nằm ở cách mình phản ứng với nó.
Nhiều người tiếp tục chạy, dù không còn động lực. Nhiều người khác chọn dừng hẳn và thu mình lại. Cả hai đều dễ dẫn đến một trạng thái chung: Sống theo quán tính.
Trong khi đó, tuổi 40-60 vẫn là một quãng thời gian rất dài. Nếu không có sự điều chỉnh, rất dễ rơi vào việc làm cầm chừng, ngại thay đổi, tự hài lòng với những gì đang có. Và theo thời gian, cả thể chất lẫn tinh thần đều đi xuống.
Tôi không nghĩ ai cũng cần phải có một khoảng nghỉ như tôi. Nhưng tôi nghĩ ai bước vào tuổi 40 cũng sẽ có lúc phải đối diện với câu hỏi mình muốn sống phần đời còn lại như thế nào?
Với tôi, khoảng nghỉ đó không làm tôi mất đi điều gì quá lớn. Ngược lại, nó giúp tôi hiểu rõ hơn về bản thân, biết điều gì thực sự quan trọng, và học cách cân bằng giữa làm việc và sống.
Tôi không làm ít đi mà chỉ làm việc có chọn lọc hơn. Nếu nhìn lại, tôi không hối tiếc vì đã chững lại ở tuổi 40. Không phải vì đó là một quyết định hoàn hảo, mà vì đó là một quyết định cần thiết.
Ở thời điểm đó, tôi nhận ra mình không còn nhiều thời gian để thử sai một cách vô thức. Nhưng mình vẫn còn đủ thời gian để sống một cách có ý thức. Và đôi khi, để làm được điều đó, mình cần đủ dũng cảm để chậm lại và đủ mạnh mẽ để khởi động lại bản thân sau thời kỳ tạm ngủ đông.
Nguyen Thanh Phat

Đến Huế du lịch những ngày này, quả đúng với câu nói vui "cả nước đang ở Huế" theo trend của các bạn trẻ trên TikTok, Facebook... Huế từ lâu được biết đến là vùng đất di sản với quần thể lăng tẩm triều Nguyễn, Đại Nội và nét văn hóa trầm mặc đặc trưng. Mỗi năm, nơi đây đón hàng triệu lượt du khách trong và ngoài nước đến tham quan. Dịp nghỉ lễ giỗ Tổ năm nay cũng chứng kiến lượng du khách rất lớn chọn Huế làm điểm dừng chân.
Tuy nhiên, bên cạnh vẻ đẹp cổ kính, tình trạng chèo kéo khách du lịch tại các điểm tham quan nổi tiếng như Đại Nội, lăng Khải Định, lăng Minh Mạng, lăng Tự Đức... vẫn là vấn đề gây ảnh hưởng không nhỏ đến hình ảnh du lịch cố đô.
Tại khu vực cổng vào Đại Nội Huế, đường Lê Huân, cửa Ngăn hay tuyến đường 23/8 thường xuất hiện tình trạng một số người bán hàng rong, "cò mồi" dịch vụ, lái xích lô tự phát liên tục bám theo khách để mời chào mua hàng, thuê xe hoặc sử dụng dịch vụ. Không ít trường hợp khách vừa xuống xe đã bị nhiều người vây quanh mời mọc khiến du khách cảm thấy khó chịu, mất thiện cảm ngay từ những phút đầu tiên.
>> Đĩa tôm sú Phú Quốc 6 con giá 300.000 đồng đắt hay rẻ?
Là người dân Huế nhưng tôi thấy rất bức xúc khi trình trạng các xe ôm, xích lô, cò dịch vụ... đeo bám khách để chèo kéo. Một ví dụ cụ thể là trước khu vực Đại Nội, có người chèo kéo khách bằng cách khuyên du khách không cần mua vé vào tham quan, chỉ đứng ngoài cổng Ngọ Môn chụp hình là đủ, sau đó dẫn dụ khách sang mua đồ lưu niệm hoặc thuê dịch vụ khác.
Hành vi này không chỉ làm ảnh hưởng đến doanh thu du lịch chính thống mà còn tạo hình ảnh thiếu văn minh tại điểm di sản quốc gia đặc biệt. Đáng lo ngại hơn, đã có trường hợp các nhóm "cò mồi" tranh giành khách dẫn đến xô xát, mất an ninh trật tự. Cơ quan chức năng TP Huế từng phải rà soát, lập danh sách nhiều đối tượng hoạt động "cò mồi" quanh các điểm du lịch nhưng dường như đến nay vẫn chưa xử lý được dứt điểm.
Có thể nói, Huế sở hữu tiềm năng du lịch rất lớn, nhưng để phát triển bền vững thì việc xử lý triệt để nạn chèo kéo khách là điều bắt buộc. Một điểm đến đẹp không chỉ nằm ở cảnh quan hay di sản, mà còn nằm ở cách ứng xử văn minh của con người. Khi du khách đến Huế và ra về với cảm giác thoải mái, được tôn trọng, đó mới là thành công thật sự của ngành du lịch cố đô.
Tin Gốc: Vnexpress

Tôi là thành viên của một nhóm học thuật trên mạng xã hội từ lâu. Thành viên của nhóm là người Việt Nam trên toàn thế giới đã, đang và sẽ có ý định đi theo con đường học thuật.
Đến nay, số thành viên đã hơn trăm nghìn và tôi tin trong đó rất nhiều đã tốt nghiệp tiến sĩ. Đây là tín hiệu tích cực. Phần nhiều trong số đó đang định cư tại nước ngoài và có ý định trở về Việt Nam sinh sống, làm việc.
Cũng nhiều trong số đó đã lập gia đình, có con cái. Trong khuôn khổ bài viết này, tôi đưa ra quan sát cá nhân về nhưng bài viết và bình luận trên nhóm kết hợp với những trường hợp mình quan sát ngoài đời thực.
Việc ở lại làm đúng chuyên ngành, có vị trí ổn định nói chung, đặc biệt trong môi trường học thuật là điều khó vô cùng. Khi một vị trí đưa ra là có tới hàng trăm, hàng nghìn hồ sơ xuất sắc trên thế giới ứng nộp chưa kể xác suất cao là hội đồng đã có ứng viên sáng giá được đề cử trước dựa trên năng lực và mạng lưới quen biết.
Tôi sống ở Đức và làm việc trong ngành Y sinh. Tôi biết không ít người làm xong tiến sĩ nhưng rồi để đi tới đích là một vị trí vĩnh viễn trong ngành học thuật chỉ đếm đầu ngón tay.
Có nhiều người cố gắng làm sau tiến sĩ (Postdoc) đến khi nào hết quy định thì thôi (thường là 12 năm làm nghiên cứu và không tìm được vị trí vĩnh viễn). Lúc này bài toán đặt ra và vô cũng nan giải. Làm gì tiếp theo khi mà con cái đã lớn đều đã hòa nhập tốt vào môi trường bên này? Ở lại thì không có việc phù hợp.
Nhiều người đi làm việc bình thường trong siêu thị, bệnh viện, nhà máy với mức thu nhập tối thiểu theo quy định như những người không được đào tạo. Nếu ai hài lòng thì tốt, cả gia đình tổng hòa sẽ vui vẻ.
Nhưng nếu không chấp nhận, cơn bão ngầm bắt đầu nổi lên khi họ muốn về nước để tìm được công việc phù hợp, được tôn trọng và còn một lý do khác nữa là gần cha mẹ già.
Mọi thứ sẽ thực sự không dễ thở với những ai có gia đình, con cái. Ở bên này, anh em có dịp nói chuyện với nhau đều thống nhất rằng nếu hai vợ chồng đi làm mức lương tối thiểu thì cơ bản sẽ đủ tiêu và dư chút. Hàng năm vẫn đi chơi thoải mái và vài năm về nước một lần.
Ba vấn đề tôi mạn phép chia sẻ ở đây là nhà ở, y tế và môi trường nghiên cứu.
Đầu tiên là nhà ở, nước Đức có tỷ lệ sở hữu nhà riêng là khoảng 50%. Tức là 50% số người như tôi vẫn đang đi thuê mà rất yên tâm. Luật của Đức bảo vệ quyền lợi người thuê bằng quy định.
Chủ cho thuê không đuổi vô tội vạ trừ khi người thuê làm hỏng nhà đến mức tệ hoặc chủ muốn lấy lại nhà để ở hoặc cho con. Giá cho thuê chỉ được tăng vài phần trăm sau vài năm.
Tuy có một số mặt trái nhưng đa phần người thuê sẽ yên tâm khi ở nhà thuê trong khoảng thời gian dài. Nếu mua nhà sở hữu thì sẽ phải tuân thủ quy định về thời gian sau ở bao lâu mới được bán cũng như đóng thuế phần chênh lệch.
Có lẽ đó là hai yếu tố chính khiến thị trường mua và thuê ở đây có sự ổn định, không tăng giảm quá sốc.
Tôi nghĩ nếu cơ quan chức năng vào cuộc và đưa các quy định rõ ràng hơn và ràng buộc pháp lý khi thuê nhà cũng như mua nhà thì đại đa số người dân trong đó có những người muốn trở về sẽ không phải quá trăn trở về chỗ ở, một khoản chi tiêu lớn hàng tháng cho hộ gia đình.
Về y tế, Đức thực hiện chính sách y tế toàn dân. Tức là ai cũng có bảo hiểm và được chữa trị giá hợp lí, không phát sinh nhiều chi phí y tế ngoài bảo hiểm. Đặc biệt Đức chịu chi rất nhiều cho khám sàng lọc ở mọi lứa tuổi.
Họ biết rằng nếu chi cho sàng lọc tốt thì chữa sẽ giảm chi phí nhiều. Bên cạnh việc chi thường xuyên cho nhiều xét nghiệm sàng lọc thường niên, một sáng kiến rất hay đưa ra là một năm một người sẽ được bảo hiểm công chi tới 500 Euro cho sàng lọc phụ thêm như sàng lọc ung thư da, làm sạch răng, tiêm phòng ra nước ngoài...
Chúng ta có thể bắt đầu bằng những gói phụ sàng lọc hỗ trợ từ năm trăm nghìn đến vài triệu đồng một năm tùy đối tượng. Làm được tốt từ khâu khám sàng lọc thì khâu chữa chúng ta sẽ tiết kiệm được chi phí y tế rất nhiều, một cấu thành lớn trong chi tiêu mà những người đang ở bên nước phát triển có nền y tế toàn dân rất quan tâm khi trở về.
Việc xin dự án nghiên cứu ở Đức là tương đối cạnh tranh và minh bạch. Nhà khoa học được dành nhiều thời gian cho nghiên cứu và có thời gian không quá nhiều cho giảng dạy.
Việt Nam vẫn nên duy trì các quỹ nghiên cứu, đó là mạch máu nuôi dưỡng sức sống của người làm khoa học.
Về phía mỗi cá nhân, khi trở về đều nên hiểu và chuẩn bị cho một kịch bản sống mang nhiều khác biệt. Lấy việc ở gần cha mẹ, họ hàng, được nói ngôn ngữ của mình là điểm cộng để tự động viên bản thân cho hành trình trở về.
Ngay cả tại Trung Quốc, một nước đi trước chúng ta nhiều năm, quá trình đi và trở về cũng đang diễn ra và như những đồng nghiệp, hàng xóm tôi biết người Trung Quốc ở bên Đức, việc đi hay ở cũng không thuận lợi với bất kỳ ai.
Quyết định cuối cùng là của mỗi cá nhân và xin chúc mọi người đều vui vẻ với quyết định của mình.
Dương Vũ Huy Hoàng

