Ngày 15-4, chia sẻ với Tuổi Trẻ Online, bác sĩ Cao Hoài Tuấn Anh – Phó giám đốc Bệnh viện Nhân dân 115 (TP.HCM) – cho hay 3 bệnh nhân trong vụ cháy nhà tại phường Tân Thới Hiệp có tiên lượng nặng, dưới sự điều trị tích cực của bệnh viện đã hồi phục sớm hơn dự kiến.
Bác sĩ Tuấn Anh chia sẻ thêm, trước đó có 4 bệnh nhân đều nhập viện trong tình trạng nặng, phải thở máy, có dấu hiệu suy đa cơ quan.
Trong nhiều ngày, các bác sĩ đã tích cực điều trị cho các bệnh nhân hồi sức toàn diện.
“Trong các trường hợp tổn thương đường hô hấp do hít phải khói, bác sĩ có thể phải nội soi phế quản nhiều lần để hút bỏ muội than và dịch tiết bám trong đường thở.
Những chất này có thể gây tắc nghẽn đường thở, làm giảm trao đổi oxy và dẫn đến suy hô hấp nếu không được xử trí kịp thời”, bác sĩ Tuấn Anh chia sẻ.
Vì vậy, dù ban đầu tiên lượng nặng nhưng quá trình hồi phục của các bệnh nhân lại diễn ra khá nhanh. “Thông thường, với những ca nặng như vậy, chúng tôi dự đoán bệnh nhân phải mất khoảng một tuần mới có thể rời khoa hồi sức tích cực. Tuy nhiên, thực tế chỉ sau 2-3 ngày, tình trạng đã cải thiện rõ rệt”, bác sĩ cho biết thêm.
Chia sẻ từ giường bệnh, anh N.D.L. cho biết vào rạng sáng 12-4, anh nghe tiếng hô hoán cháy từ tầng dưới. Khi mở cửa, lửa đã bùng lên dữ dội, lối thoát hiểm không thể sử dụng.
Trong tình huống nguy cấp, anh đã dùng dao cạy tấm kính để tạo lối thoát cho vợ con.
“Không còn cách nào khác, lúc đó chỉ nghĩ làm sao cho người thân thoát ra trước. Khi nhập viện, tôi bất tỉnh, cứ nghĩ mình đã chết rồi, không ngờ giờ vẫn còn sống”, anh L. kể.
Hiện sức khỏe anh N.D.L. đã cải thiện, có thể tự thở nhưng vẫn còn mệt do tổn thương phổi và ngạt khói.
Bác sĩ Trần Huy Nhật – Phụ trách Phó khoa hồi sức tích cực và chống độc, Bệnh viện Nhân dân 115 – cho biết trước đó bệnh viện đã tiếp nhận 4 bệnh nhân trong tình trạng tổn thương đường thở, suy hô hấp do hít phải khói độc, mức độ từ trung bình đến nặng, có nguy cơ đe dọa tính mạng.
Cụ thể, người bệnh L.V.C. bị hôn mê, suy hô hấp nặng kèm bỏng độ II khoảng 36% diện tích cơ thể, đã được đặt nội khí quản, thở máy. Sau khi hội chẩn, bệnh nhân được chuyển đến Bệnh viện Chợ Rẫy để tiếp tục điều trị.
Người bệnh N.D.L. cũng nhập viện trong tình trạng hôn mê, rối loạn ý thức, suy hô hấp nặng, phải thở máy. Kết quả xét nghiệm ghi nhận suy đa cơ quan, kèm nhiều vết sây sát trên cơ thể. Đến ngày 14-4, người bệnh được rút ống nội khí quản. Hiện đã tỉnh táo, dự kiến sẽ chuyển qua khoa hô hấp để theo dõi và điều trị tiếp tục…
Theo bác sĩ Trần Huy Nhật, trong các vụ hỏa hoạn tại nhà ở, đặc biệt là không gian kín như nhà trọ, nguy cơ lớn nhất không chỉ đến từ lửa mà từ khói độc.
“Hiện nay nhiều vật liệu xây dựng và đồ gia dụng làm từ nhựa. Khi cháy, chúng phóng thích lượng lớn khói chứa nhiều hóa chất độc. Trong môi trường kín, người hít phải rất dễ bị suy hô hấp, tổn thương đa cơ quan, thậm chí bỏng đường thở do nhiệt và khí độc”, bác sĩ Nhật cho biết.
Bác sĩ Nhật cho hay việc trang bị kiến thức phòng cháy chữa cháy và kỹ năng thoát nạn là yếu tố then chốt để bảo vệ tính mạng trong tình huống khẩn cấp. Khi xảy ra hỏa hoạn, cần nhanh chóng đưa nạn nhân ra khỏi khu vực khói lửa, tránh hít phải khí độc; cho thở oxy sớm và khẩn trương chuyển đến bệnh viện để được cấp cứu kịp thời.
Vi khuẩn này lây truyền qua đường miệng - miệng là chủ yếu, trong khi người Việt Nam còn thói quen khá phổ biến dùng đũa hoặc muỗng đang ăn của mình để lấy thức ăn chung và gắp thức ăn cho người khác, chấm chung một chén nước chấm, uống chung một ly rượu, bia, nước ngọt…
Vi khuẩn Helicobacter pylori (H. pylori) dân gian gọi là HP, sống ở phần sâu lớp nhầy bao phủ niêm mạc dạ dày, và ở các vùng nối giữa các tế bào này.
Trong các nghiên cứu được công bố gần đây, khoảng một nửa dân số trên thế giới bị nhiễm vi khuẩn H. pylori nhưng hầu hết không có biểu hiện triệu chứng, trong số này chỉ có khoảng 1-2% dân số bị nhiễm sẽ tiến triển thành ung thư dạ dày.
Tại Việt Nam, tỉ lệ người nhiễm H. pylori ở các lứa tuổi khác nhau còn rất cao, trên 80%. Nếu cha mẹ bị nhiễm H. pylori, các con có tỉ lệ nhiễm trên 90%, riêng trẻ < 8 tuổi là 98,6%.Những thói quen ăn uống chưa đúng của chúng ta làm tăng nguy cơ lây nhiễm như dùng đũa hoặc muỗng đang ăn của mình để lấy thức ăn chung, chấm chung một chén nước chấm, dùng đũa/muỗng đang ăn trong miệng của mình để gắp/lấy thức ăn cho người khác; uống chung một ly rượu, bia, nước ngọt…Các thói quen khác như nhai cơm nát đút cho con ăn, dùng nước bọt đếm tiền, lật xem tài liệu... cũng làm tăng nguy cơ nhiễm H. pylori.Nhiễm H. pylori được coi là nguyên nhân chính gây viêm dạ dày, loét dạ dày, loét tá tràng và bệnh ác tính ở dạ dày bao gồm: ung thư dạ dày, và u lymphoma.Các yếu tố nguy cơ khác như tình trạng viêm teo niêm mạc dạ dày, viêm teo kèm dị sản ruột (chuyển sản ruột), loạn sản (nghịch sản) có thể được coi là thương tổn tiền ung thư dạ dày.Giả thuyết về nguyên nhân sinh bệnh ung thư dạ dày là sự kết hợp của nhiều yếu tố, trong đó có vai trò của vi khuẩn H. pylori cùng với các thương tổn tiền ung thư, yếu tố môi trường, chế độ ăn có chứa các chất sinh ung, các đột biến gene…Các yếu tố nguy cơ được chia thành 4 nhóm khác nhau, bao gồm: môi trường, chế độ ăn uống - dinh dưỡng, tại chỗ và di truyền.Liên quan đến chế độ ăn uống và môi trường: thói quen ăn mặn, ăn nhiều thực phẩm như thịt, cá hun khói chứa hàm lượng nitrate cao, nguồn nước không sạch, hút thuốc lá... đều làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh.Các yếu tố tại chỗ “đóng vai trò quan trọng”, đặc biệt là nhiễm vi khuẩn H. pylori, cùng với các tình trạng bệnh mạn tính như viêm, viêm teo niêm mạc dạ dày, dị sản ruột, loạn sản, polyp tuyến dạ dày kích thước lớn hơn 2cm, hoặc tiền sử cắt dạ dày trên 15-20 năm. Nam có nguy cơ mắc bệnh cao hơn so với nữ.Yếu tố di truyền và tiền sử gia đình có nguy cơ ung thư dạ dày cao hơn khoảng ba lần, và tỉ lệ ung thư dạ dày có tiền sử gia đình ở các nước châu Á cao hơn ở châu Âu và Bắc Mỹ. Bệnh viêm dạ dày phì đại, polyp tuyến dạ dày lớn hơn 2cm có nguy cơ ung thư từ 10 - 20%.Liên quan giữa ung thư dạ dày và các gene bao gồm sự kích hoạt các gene sinh ung thư và đột biến gây bất hoạt các gene áp chế ung thư có vai trò quan trọng, và có liên quan đến việc biến đổi gene ở người.
Vi khuẩn H. pylori gây nhiều bệnh ở dạ dày, lây chủ yếu qua đường ăn uống và hiện chưa có vắc xin phòng ngừa, nên phát hiện và điều trị sớm là cần thiết.Theo các đồng thuận thế giới và Việt Nam năm 2024, cũng như tại Hội nghị đồng thuận châu Á - Thái Bình Dương từ năm 2009 đưa ra ba chỉ định điều trị H. pylori liên quan đến ung thư dạ dày gồm: tầm soát và điều trị tiệt trừ H. pylori trong cộng đồng có tần suất ung thư dạ dày cao, tiền sử gia đình có người bị ung thư dạ dày, sau phẫu thuật cắt dạ dày do ung thư.Nhiễm H. pylori không triệu chứng hiện nay cũng cần điều trị do liên quan đến ung thư dạ dày, nhất là người sống ở vùng dịch tễ nhiễm H. pylori, tỉ lệ ung thư dạ dày cao hoặc gia đình có người ung thư dạ dày…Những người bệnh bắt buộc phải điều trị gồm: viêm dạ dày do nhiễm H. pylori, loét dạ dày - tá tràng do nhiễm H. pylori, sau điều trị các biến chứng của bệnh loét như thủng và chảy máu, u limphoma (MALTs), ung thư dạ dày, gia đình cùng huyết thống có người bị ung thư dạ dày nhiễm H. pylori, sau phẫu thuật cắt dạ dày do ung thư.Về điều trị, các phương pháp tiệt trừ H. pylori được đánh giá có hiệu quả và được khuyến cáo chỉ khi đạt tỉ lệ tiệt trừ thành công tối thiểu là 80% (theo ý định điều trị). Để đảm bảo hiệu quả điều trị, cần tuân theo các phác đồ đã được khuyến cáo, uống đủ liều, bác sĩ giải thích tác dụng phụ của thuốc... Sau điều trị kiểm tra lại bằng hơi thở hoặc nội soi dạ dày.Trong trường hợp uống thuốc nhưng không tiệt trừ được vi khuẩn (có thể do uống không đủ liều, cách uống khó khăn, tác dụng phụ của thuốc...), trong đó nguy cơ kháng các thuốc kháng sinh là quan trọng nhất.Về tình trạng tái nhiễm sau khi điều trị sạch vi khuẩn, một thời gian sau người bệnh đau bụng, đầy hơi thì cần kiểm tra nhiễm lại H. pylori. Nguyên nhân thường do tiếp tục ăn uống chung, nhai cơm mớm cho con, dùng tay thấm nước bọt khi đếm tiền hoặc lật tài liệu…Ngoài ra, những người làm nghề đặc thù như bác sĩ nội soi, nha sĩ... cũng có nguy cơ nhiễm và tái nhiễm H. pylori cao hơn do thường xuyên tiếp xúc với mầm bệnh.Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Hai bệnh nhân được người thân đưa tới Trung tâm Y tế Tân Kỳ (trước đây thuộc huyện Tân Kỳ) cấp cứu trưa 28/4 trong tình trạng bỏng vùng đầu, mặt, cổ và tứ chi.
Theo người nhà, sáng nay hai người sử dụng bình gas để thui thịt chó, đặt bình gần nguồn lửa. Khi mở van, khí gas phụt ra bắt lửa, gây bỏng trực tiếp.
Bác sĩ xác định hai bệnh nhân bị bỏng, diện tích khoảng 38% cơ thể. Tình trạng trở nên nghiêm trọng hơn do sau tai nạn, họ tự ý đổ xăng lên vết bỏng để xử lý, khiến tổn thương lan rộng và sâu hơn.
Các bệnh nhân được cấp cứu, xử lý theo phác đồ, đang được điều trị, theo dõi tích cực tại Khoa Ngoại để hạn chế nguy cơ sốc bỏng và nhiễm trùng.
Bác sĩ cảnh báo không sử dụng bình gas để đốt, thui thực phẩm. Đặt bình gần nguồn nhiệt hoặc thao tác không đúng kỹ thuật có thể gây cháy, nổ nguy hiểm. Khi bị bỏng, cần làm mát vùng da bằng nước sạch liên tục trong 15-20 phút, không bôi các chất như xăng, dầu, nước mắm hay kem đánh răng. Sau sơ cứu, cần tới cơ sở y tế gần nhất để được xử lý kịp thời.
Nhiều loại kháng sinh hiện nay được phát triển từ các hợp chất tự nhiên có nguồn gốc từ vi sinh vật. Một số chiết xuất thực vật, tinh dầu và thực phẩm cũng có đặc tính kháng khuẩn, hỗ trợ giảm triệu chứng bệnh.
Mật ong
Mật ong không chỉ là chất làm ngọt tự nhiên mà còn được biết đến là một trong những nguyên liệu có đặc tính kháng khuẩn lâu đời. Từ thời Ai Cập cổ đại, mật ong đã được sử dụng để bảo vệ da và hỗ trợ làm lành vết thương.
Mật ong có đặc tính kháng khuẩn nhờ nhiều cơ chế phối hợp. Thành phần hydrogen peroxide có thể giúp tiêu diệt vi khuẩn, hạn chế nhiễm trùng, trong khi hàm lượng đường cao tạo áp suất thẩm thấu, ức chế sự phát triển của vi sinh vật. Môi trường axit nhẹ của mật ong khiến vi khuẩn mất nước và khó tồn tại.
Mật ong có thể được thoa trực tiếp lên vết thương để hỗ trợ sát khuẩn, thúc đẩy tái tạo mô hoặc dùng đường uống như một cách hỗ trợ cơ thể chống nhiễm trùng. Tuy nhiên, không nên dùng cho trẻ dưới một tuổi do nguy cơ ngộ độc.
Chiết xuất tỏi
Tỏi có đặc tính kháng khuẩn mạnh. Các hợp chất sulfur trong tỏi có thể chống lại một số loại vi khuẩn gây bệnh. Bạn có thể mua tinh chất tỏi hoặc tự làm tại nhà bằng cách ngâm các tép tỏi đã đập dập trong dầu ô liu. Tinh chất này có thể được thoa trực tiếp lên các vết thâm hoặc vết thương ngoài da.
Tỏi nên được sử dụng ở mức vừa phải, khoảng 1-2 tép tươi mỗi ngày đối với người khỏe mạnh. Dùng quá nhiều có thể làm tăng nguy cơ chảy máu do ảnh hưởng đến quá trình đông máu. Tỏi có thể tương tác với thuốc chống đông, làm tăng tác dụng của thuốc và tiềm ẩn rủi ro. Vì vậy, người đang sử dụng các loại thuốc này nên tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi bổ sung tỏi.
Tinh dầu cỏ xạ hương
Tinh dầu cỏ xạ hương là thành phần phổ biến trong các chất tẩy rửa gia dụng tự nhiên nhờ khả năng kháng khuẩn.
Tinh dầu cỏ xạ hương chỉ nên dùng ngoài da, không được uống. Trước khi thoa, cần pha loãng với dầu nền như dầu dừa hoặc dầu ô liu để tránh kích ứng. Dùng tinh dầu nguyên chất có thể gây viêm da. Người bị tăng huyết áp hoặc cường giáp nên tránh sử dụng loại tinh dầu này.
Tinh dầu kinh giới
Tinh dầu kinh giới chứa carvacrol - một hợp chất có hoạt tính sinh học, được nghiên cứu về khả năng kháng khuẩn và chống viêm. Một số nghiên cứu cho thấy carvacrol có thể hỗ trợ giảm viêm và góp phần cải thiện một số vấn đề tiêu hóa, tuy nhiên các tác dụng này vẫn cần thêm bằng chứng lâm sàng.
Trong ứng dụng thực tế, tinh dầu kinh giới có thể được khuếch tán trong không khí hoặc dùng xông hơi với lượng phù hợp để giúp tạo cảm giác thông thoáng đường hô hấp. Khi dùng ngoài da, cần pha loãng với dầu nền trước khi sử dụng.
Tuyệt đối không uống tinh dầu kinh giới và không bôi trực tiếp tinh dầu nguyên chất lên da vì có thể gây kích ứng.
Các loại "kháng sinh tự nhiên" trên có hoạt tính sinh học, nhưng không thay thế thuốc điều trị. Khi bị nhiễm trùng hoặc mắc bệnh lý nghiêm trọng, người bệnh cần tham khảo ý kiến nhân viên y tế để được hướng dẫn phù hợp và an toàn.