Buổi thảo luận thuộc khuôn khổ tọa đàm Sử dụng năng lượng tiết kiệm do báo Tuổi Trẻ tổ chức, cùng tham gia có đại diện Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Tổng công ty Điện lực TP.HCM (EVNHCMC), Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC) cùng nhiều chuyên gia ngành điện.
Câu chuyện sử và tiết kiệm điện, đặc biệt trong các giai đoạn cao điểm, không chỉ là vấn đề của riêng ngành điện, mà còn gắn liền với thói quen tiêu dùng của mỗi hộ gia đình, cũng như chiến lược vận hành của từng doanh nghiệp.
Chia sẻ về công tác vận động tiết kiệm điện, sử dụng điện hiệu quả trên địa bàn, ông Bùi Trung Kiên – Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Điện lực TP.HCM (EVNHCMC),cho hay vấn đề tiết kiệm điện không chỉ trong năm nay, nhưng đã được thực hiện xuyên suốt trong nhiều năm trước đây.
Theo ông Kiên, các Chỉ thị 9, Chỉ thị 10 của Thủ tướng Chính Phủ đều cụ thể hơn, chỉ đạo triệt để hơn trong công tác tiết kiệm điện trong toàn xã hội.
Trong đó, Chỉ thị 10 đặt ra yêu cầu tiết kiệm điện 3%, yêu cầu cao hơn so với mức trước đây là 2%, nhất là trong cao điểm nắng nóng từ tháng 4 đến tháng 7 kéo dài từ miền Nam ra miền Bắc.
Ngoài tiết kiệm, việc sử dụng điện hiệu quả, hợp lý chia phụ tải cũng được nhấn mạnh, với việc cung – cầu điện cần được quản lý chặt chẽ hơn, quản lý phụ tải và điều chỉnh việc sử dụng các thiết bị có công suất lớn ra khỏi giờ cao điểm. Các nguồn điện tại chỗ và dự phòng cũng được yêu cầu huy động tối đa, các doanh nghiệp sẽ cần có máy móc hoặc nguồn phát dự phòng trong trường hợp nguồn cung bị gián đoạn bất khả kháng.
Bên cạnh đó, để tăng tỉ lệ năng lượng tái tạo và giảm nhu cầu điện từ lưới, khu vực dân sinh, sản xuất và khu vực công cũng được khuyến khích, yêu cầu lắp đặt điện mặt trời mái nhà.
Theo ông Kiên, với khí hậu nắng nóng khó lường và kéo dài, việc sử dụng điện được chỉ đạo tiết kiệm triệt để hơn trong năm nay, như việc các hệ thống chiếu sáng quảng cáo không chỉ được yêu cầu giảm giờ chiếu sáng, nhưng có thể sẽ phải tắt toàn bộ hệ thống quảng cáo, bảng hiệu. “Tiết kiệm điện là tiết kiệm cho bản thân, gia đình và xã hội”, ông Kiên nhấn mạnh.
Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao vào mùa nắng nóng, các doanh nghiệp sản xuất quy mô lớn, đặc biệt khối FDI trong lĩnh vực xuất khẩu, đang đứng trước sức ép kép: vừa bảo đảm tiến độ đơn hàng quốc tế, vừa đáp ứng những tiêu chuẩn ngày càng khắt khe về sử dụng năng lượng.
Ông Phan Tấn Học – Giám đốc kỹ thuật Công ty cổ phần TKG TaeKwang Vina cho biết với đặc thù là doanh nghiệp gia công giày xuất khẩu, bài toán điện năng hiện không chỉ dừng ở chi phí vận hành mà đã trở thành một chỉ số cạnh tranh trực tiếp. Quy mô sản xuất lớn, mức tiêu thụ điện “khổng lồ”, “áp lực xanh” từ đối tác quốc tế.
Theo ông Học, sức ép hiện nay không chỉ đến từ tiến độ đơn hàng mà còn đến từ hệ thống đánh giá nhà máy của đối tác quốc tế.
Các đối tác lớn như Nike không chỉ dựa trên báo cáo giấy tờ mà tiến hành kiểm tra, đo đạc thực tế ngay tại nhà máy. Điều này buộc doanh nghiệp phải triển khai các giải pháp tiết kiệm điện một cách thực chất, liên tục và có thể kiểm chứng.
“Đây không còn là câu chuyện tiết giảm chi phí nội bộ, mà gắn trực tiếp với năng lực cạnh tranh và khả năng giữ đơn hàng”, ông Học nhấn mạnh.
Trước các áp lực đó, trong 5 năm gần đây, doanh nghiệp đã đầu tư hệ thống điện mặt trời áp mái nhằm bổ sung nguồn điện phục vụ sản xuất và giảm phụ thuộc vào lưới điện trong giờ cao điểm. Song song đó, nhiều giải pháp tiết kiệm điện được triển khai đồng bộ trong toàn hệ thống nhà máy.
Toàn bộ hệ thống chiếu sáng đã được thay thế bằng đèn LED từ nhiều năm trước. Thiết kế nhà xưởng cũng được tối ưu để tận dụng tối đa ánh sáng tự nhiên, qua đó giảm mức tiêu thụ điện cho chiếu sáng ban ngày.
Bên cạnh đầu tư công nghệ, ông Học đặc biệt nhấn mạnh vai trò của ý thức người lao động trong bài toán tiết kiệm năng lượng. Việc xây dựng văn hóa tiết kiệm điện được xem là nền tảng để các giải pháp kỹ thuật phát huy hiệu quả.
Ở cấp độ vận hành, việc điều chỉnh thời gian sản xuất, chuyển một phần hoạt động sang giờ thấp điểm nhằm giảm tải cho hệ thống điện quốc gia là rất quan trọng. Ngoài ra, việc tối ưu bố trí dây chuyền sản xuất cũng góp phần giảm tình trạng vận hành không tải, từ đó tiết kiệm điện năng đáng kể.
Ông Lê Đình Kính, Công ty cổ phần thương mại dịch vụ giấy Thuận An chia sẻ đối với doanh nghiệp sản xuất thì đơn vị nhận thức rõ áp lực chi phí mua điện để phục vụ sản xuất.
Để tiết kiệm điện và chi phí doanh nghiệp đã áp dụng hai nhóm giải pháp chính: Giải pháp vận hành và nhân sự, nhà máy đã áp dụng dịch chuyển phụ tải (DR), chuyển các công đoạn tiêu thụ điện năng lớn sang khung giờ thấp điểm (từ 22h đêm đến 4h sáng) để tận dụng giá điện rẻ.
Điều tiết sản xuất giờ cao điểm, trong các khung giờ cao điểm, nhà máy giảm công suất vận hành tối đa, chuyển sang làm các khâu phụ trợ ít tiêu tốn điện hoặc thực hiện bảo trì, bảo dưỡng máy móc.
Đối với giải pháp kỹ thuật và thiết bị, chúng tôi lắp đặt hệ thống biến tần giúp động cơ khởi động êm hơn, tránh tình trạng dòng điện tăng vọt gây quá tải cục bộ. Cải thiện hệ thống chiếu sáng bằng cách thay thế toàn bộ bằng đèn LED tiết kiệm năng lượng.
Tối ưu hệ thống làm mát qua việc sử dụng thông gió tự nhiên và các quạt hút năng lượng gió để thoát hơi nóng trong nhà xưởng mà không tốn điện. “Việc triển khai của chúng tôi cũng gặp phải những khó khăn và thách thức về nhân sự và chi phí. Việc chuyển ca làm việc sang ban đêm gây ảnh hưởng đến sức khỏe và sinh hoạt của công nhân. Để khắc phục, nhà máy đã có các chính sách tăng phụ cấp ca đêm để khuyến khích người lao động.
Về chi phí đầu tư ban đầu cho các thiết bị hiện đại như hệ thống biến tần rất lớn. Tuy nhiên, doanh nghiệp xác định đây là khoản đầu tư cần thiết cho mục tiêu tiết kiệm lâu dài và giảm phát thải”, ông Kính đánh giá.
Dưới góc độ người tiêu dùng hộ gia đình, chị Trần Thị Thùy Vân (ngụ phường Phú Thọ Hoà) cho biết hóa đơn điện của gia đình vào khoảng 1 triệu đồng/tháng, với 4 người sử dụng. Chị cho biết mỗi thành viên luôn có ý thức tự tiết kiệm bằng việc tắt các thiết bị điện khi không có nhu cầu sử dụng và sử dụng các thiết bị có tiêu chuẩn tiết kiệm điện. Tuy vậy, dù tiết kiệm, vào cao điểm nắng nóng như hiện nay, hóa đơn điện nhà chị vẫn tăng 20%.
Cùng là hộ gia đình 4 người, anh Lê Hoàng Minh (phường Nhiêu Lộc) cho biết tiền điện của gia đình trước tháng nóng cao điểm khoảng từ 1,6 triệu đồng/tháng, nhưng thời điểm này tăng mạnh, vượt 2,3 triệu đồng. Gia đình anh tiết kiệm triệt để bằng cách rút hẳn các phích cắm đối với các thiết bị không sử dụng. Gia đình cũng tận dụng thêm ánh sáng tự nhiên, tắt bớt đèn đóm.
Theo anh Minh, gia đình có lượng tiêu thụ điện lớn, nên đã đầu tư lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái hệ 3kWh, với lượng tiêu thụ từ hệ thống này từ 12-15kWh mỗi ngày, giúp tiết kiệm gần 1 nửa tiền điện hằng tháng.
“Tôi thấy đây là mức tiết kiệm đáng kể. Các ban, ngành có thể vận động người dân lắp đặt thêm hệ thống điện mặt trời áp mái”, anh Minh nêu.
Ông Phạm Viết Thạch, Phó Trưởng ban Môi trường và phát triển bền vững, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cho biết đang tập trung nâng cao độ sẵn sàng của các nhà máy điện thuộc tập đoàn và các tổng công ty. Quán triệt các đơn vị phát điện tuyệt đối không để xảy ra tình trạng thiếu nhiên liệu (đặc biệt là than, dầu, khí) phục vụ sản xuất điện trong các tháng cao điểm mùa khô.
Kết quả quý 1, EVN và các đơn vị đã khởi công 46 công trình và đóng điện 36 công trình lưới điện (từ 110kV đến 500kV). Các dự án tiêu biểu như nâng công suất trạm biến áp 500kV Nho Quan, đường dây 220kV Dốc Sỏi – Dung Quất (đoạn đấu nối), trạm biến áp 500kV Vĩnh Yên.
Về tháo gỡ vướng mắc, EVN đã có nhiều văn bản kiến nghị các bộ, ngành và địa phương hỗ trợ tháo gỡ khó khăn về cơ chế chính sách, thủ tục đầu tư và giải phóng mặt bằng cho các dự án nguồn điện. Đồng thời cũng đề nghị các bộ ngành có giải pháp đảm bảo cung ứng nhiên liệu ổn định không chỉ cho EVN mà cho cả các đơn vị phát điện ngoài tập đoàn.
Về công tác phối hợp với khách hàng sử dụng điện, EVN mong muốn nhận được sự phối hợp của khách hàng, đặc biệt là các khách hàng lớn, trong việc điều chỉnh phụ tải điện. Ngành điện cũng khuyến khích sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả để giảm áp lực cho hệ thống điện quốc gia trong các khung giờ cao điểm.
Trao đổi về bài toán sử dụng điện trong bối cảnh nhu cầu tiêu thụ ngày càng gia tăng, ông Ngô Trọng Hiền, Trưởng ban Kinh doanh Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC), đánh giá đây không chỉ là thách thức đối với công tác vận hành hệ thống điện mà còn là cơ hội để tái định hình thói quen tiêu dùng năng lượng của toàn xã hội theo hướng bền vững hơn.
“Từ góc độ quản lý, chủ trương tiết kiệm điện đã được quán triệt từ trung ương đến các địa phương. Các chương trình hành động đang được triển khai đồng bộ, hướng tới mục tiêu chung là giảm áp lực lên hệ thống điện quốc gia, đặc biệt trong những thời điểm cao điểm phụ tải”, ông Hiền cho hay.
Đại diện Tổng Công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC) cho biết xác định tháng 4 – 7 là thời điểm nắng nóng. Đơn vị đã chủ động lên phương án và làm việc với các địa phương từ cuối năm 2025 để đảm bảo cân đối cung cầu và quản lý cung ứng điện.
Cụ thể, EVNSPC đã đạt được thỏa thuận với hơn 7.675 khách hàng có sản lượng sử dụng lớn từ 50.000kWh trở lên về các phương án tiết giảm khi khó khăn. Hiện có 4.572 khách hàng đang phối hợp rất tốt trong việc dịch chuyển phụ tải, giúp biểu đồ phụ tải công nghiệp duy trì ổn định.
Cùng đó, EVNSPC xác định có sự thay đổi về khung giờ cao điểm, bên cạnh khung giờ 14 – 16h30, gần đây xuất hiện thêm đỉnh phụ tải mới vào khoảng 9h30 – 10h30 sáng do nhu cầu sử dụng điện sinh hoạt tăng cao trong mùa nắng nóng.
Tại tọa đàm, đại diện Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cam kết tạo điều kiện thuận lợi nhất cho phát triển điện mặt trời mái nhà, nhằm đảm bảo an ninh năng lượng và tuân thủ các quy định pháp luật.
Mọi quy trình, hồ sơ đấu nối và thủ tục lắp đặt công tơ hai chiều hiện được công khai minh bạch trên website solar.evn.com.vn, để khách hàng dễ dàng tra cứu. Đây được xác định là nguồn điện phân tán tại chỗ quan trọng, giúp giảm chi phí cho người dùng và hỗ trợ hệ thống trong những thời điểm bức xạ tốt.
EVN đặc biệt khuyến khích mô hình “tự sản tự tiêu” cho các cơ quan công sở, cơ sở sản xuất và hộ gia đình, nhất là khi kết hợp với hệ thống lưu trữ năng lượng.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, các đơn vị điện lực chủ động phối hợp với địa phương để ban hành chỉ tiêu cụ thể.
Trong khảo sát mới nhất của Reuters, các nhà kinh tế học hạ dự báo tăng trưởng của nhiều nước Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh (GCC). Một số quốc gia khu vực này bị thay đổi triển vọng từ tăng trưởng sang suy giảm kinh tế.
Chiến sự tại Trung Đông đã làm xáo trộn thị trường năng lượng - huyết mạch kinh tế của nhiều nước khu vực này, gây ra cú sốc nguồn cung mang tính lịch sử. Việc phục hồi khủng hoảng năng lượng có thể phải chờ đến năm sau.
GDP Qatar, Kuwait và Bahrain được dự báo giảm lần lượt 6%, 4,4% và 2,9% năm nay. Các số liệu này trái ngược hoàn toàn so với ước tính hồi tháng 1, là tăng trưởng 3-5%. Trong khi đó, tăng trưởng kinh tế của UAE nhiều khả năng gần như đứng yên. Hồi đầu năm, nền kinh tế này được kỳ vọng tăng 5%.
Trong đợt giá dầu tăng tốc trước đây, các nền kinh tế vùng Vịnh thường hưởng lợi lớn nhờ xuất khẩu năng lượng. Tuy nhiên lần này, việc Iran gần như phong tỏa eo biển Hormuz - tuyến vận tải chịu trách nhiệm chuyên chở 20% dầu thô và khí hóa lỏng (LNG) toàn cầu - dẫn đến thiếu cung nhiên liệu. Nhiều cơ sở hạ tầng ngành năng lượng trong khu vực, từ Arab Saudi, UAE, Kuwait đến Qatar bị tập kích, khiến các nền kinh tế này chao đảo. Giá dầu thô hiện tăng khoảng 40% so với trước chiến sự.
"Chúng tôi không cho rằng GDP có thể dễ dàng quay về quỹ đạo tăng trưởng trước đó. Vài năm tới, GDP sẽ vẫn ở mức thấp bất chấp đà phục hồi nhanh. Các quốc gia này cần nửa cuối năm nay để tái thiết chuỗi cung ứng", ông Ralf Wiegert, nhà kinh tế học tại S&P Global Market Intelligence, nhận định.
Trên CNBC, Ryan Sweet – kinh tế trưởng tại Oxford Economics cũng cho rằng xung đột tại Iran là yếu tố "thay đổi cuộc chơi" với các nước vùng Vịnh. "Ngoài tác động đến doanh thu dầu khí, chiến sự còn ảnh hưởng đến du lịch, dòng tiền đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Trung Đông", ông cho biết.
Đầu tháng này, Economist ước tính các nước vùng Vịnh thiệt hại hàng chục tỷ USD vì chiến sự. Con số này đến từ doanh thu bán dầu khí sụt giảm, cơ sở hạ tầng thiết yếu chịu thiệt hại và chi phí cho hệ thống đánh chặn phòng không. Thiệt hại về uy tín thậm chí còn lớn hơn khi xung đột phơi bày điểm yếu của Trung Đông về mặt địa lý lẫn địa chính trị. Đây là vấn đề các quốc gia vùng Vịnh không dễ khắc phục, tạp chí này nhận định.
Arab Saudi, nước xuất khẩu dầu thô lớn nhất thế giới, và Oman được cho là chống chịu cú sốc này tốt hơn. Hai nền kinh tế này được dự báo vẫn tăng trưởng 2,6% và 2,2% năm nay. Tuy nhiên, các số liệu đều thấp hơn đáng kể so với dự báo tháng 1 là tăng 4,3% và 2,8%.
Giá dầu tăng đang kéo lạm phát toàn cầu lên cao. Các nền kinh tế vùng Vịnh cũng không ngoại lệ. Lạm phát tại đây được dự báo đạt 2-3% năm nay, tăng so với chỉ 1-2% hồi đầu năm.
"Vòng 2 của cú sốc này sẽ xảy ra với các lĩnh vực phi dầu mỏ. Điều này đặc biệt quan trọng với Arab Saudi, UAE và Qatar", Lluis Dalmau Taules - nhà kinh tế học tại Allianz cho biết. Lĩnh vực du lịch của Trung Đông tăng trưởng nhanh nhất thế giới trong vài năm qua. Vì vậy, chiến sự tác động mạnh đến bán lẻ và nhiều ngành nghề khác.
Các nhà kinh tế dự báo năm tới, Trung Đông sẽ hồi phục nhanh nếu xung đột sớm kết thúc. Theo đó, Qatar, UAE và Kuwait có thể tăng trưởng lần lượt 7,8%, 5,4% và 5% năm tới. GDP Arab Saudi, Bahrain và Oman được kỳ vọng ở mức 2,8-4,5%.
Trước đó, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cũng đưa ra dự báo sản xuất năng lượng và giao thông trong khu vực hồi phục, bình thường trở lại trong vài tháng tới.
Goldman Sachs cho rằng việc khôi phục này sẽ không đồng đều giữa các nền kinh tế ở vùng Vịnh. Về dài hạn, các nhà phân tích tại ngân hàng này cho rằng hoạt động kinh tế tại đây sẽ phục hồi mạnh nhờ được hỗ trợ từ nguồn lực vốn công, dự trữ dồi dào của chính phủ và doanh thu dầu khí tăng trở lại.
Nhận định được công ty nghiên cứu thị trường JLL Việt Nam đưa ra trong báo cáo thị trường bất động sản Hà Nội, công bố ngày 8-4.
Báo cáo của JLL Việt Nam ghi nhận trong quý 1 năm nay thị trường Hà Nội đón nhận khoảng 5.300 căn hộ và 164 nhà liền thổ mới từ hơn 30 dự án ở khu vực cạnh và ngoài vành đai 3 có hạ tầng đang phát triển.
Phân khúc cao cấp và trung cao cấp vẫn chiếm phần lớn nguồn cung căn hộ mới, trong khi nguồn cung nhà ở trung cấp và bình dân tiếp tục hạn chế, khiến thị trường thiếu vắng các sản phẩm phù hợp với nhóm người mua nhà lần đầu.
Bà Lê Thị Huyền Trang, Tổng giám đốc JLL Việt Nam, cho biết nguồn cung nhà ở tại Hà Nội 5 năm tới (2026-2030) sẽ tăng mạnh so với 5 năm vừa qua. Nguồn cung trung bình hằng năm sẽ đạt khoảng 23.000 căn, riêng nhà liền thổ đạt 13.000 căn/năm. Trong khi giai đoạn 2021-2025 nguồn cung nhà ở tại Hà Nội chỉ đạt khoảng 8.000 căn/năm.
Tuy nhiên nguồn cung nhà ở sẽ có xu hướng dịch chuyển ra các đô thị vệ tinh, vùng ven của Hà Nội, dự báo hơn 50% nguồn cung nhà ở của thủ đô trong 5 năm tới tập trung ở các đô thị vệ tinh, vùng ven nhờ hạ tầng kết nối thuận tiện và quỹ đất phát triển dự án rộng.
Cũng theo bà Trang, nguồn cung nhà ở của Hà Nội sẽ tăng mạnh trong thời gian tới nhờ hạ tầng kết nối ngày càng hoàn thiện, các luật liên quan tới thị trường được hoàn chỉnh, thủ tục pháp lý các dự án được khơi thông.
Về giá bán nhà tại Hà Nội, kết quả khảo sát nghiên cứu của JLL cho thấy giá nhà Hà Nội trong quý 1-2026 nhỉnh hơn TP.HCM.
Cụ thể, giá bán sơ cấp trung bình trong quý 1 tại Hà Nội duy trì ở mức cao, khoảng 94,4 triệu đồng/m² căn hộ, tăng 25,3% theo năm và 254,4 triệu đồng/m² nhà liền thổ, giảm 9,1% theo năm.
Trong đó một số dự án căn hộ tại các khu vực quy hoạch mới có giá bán trên 140 triệu đồng/m² đang bán rất chậm, người mua chủ yếu là người có năng lực tài chính mạnh, mục đích mua để ở.
Còn trên thị trường thứ cấp (mua đi bán lại), giá bán căn hộ cũng tăng ổn định, với thanh khoản tập trung tại các dự án hoàn thiện, vị trí tốt và các khu đô thị mới phía tây và đông thủ đô.
Tổng lượng giao dịch thành công trong quý 1 đạt khoảng 5.186 căn hộ và 261 nhà liền thổ. Người mua có xu hướng lựa chọn các sản phẩm có diện tích vừa phải, pháp lý rõ ràng, vị trí thuận tiện và được phát triển bởi những chủ đầu tư uy tín.
Ngoài ra trong quý 1 năm nay lãi suất cho vay mua bất động sản tại nhiều ngân hàng thương mại tăng, phổ biến ở mức 9-11%/năm trong 6-12 tháng đầu.
Do đó nhóm khách hàng phụ thuộc vào vốn vay đang chịu áp lực lớn hơn từ chi phí lãi và rủi ro lãi suất thả nổi cao sau khi hết thời gian ưu đãi, ảnh hưởng đến khả năng chi trả mua nhà.
Đánh giá về triển vọng thị trường Hà Nội, bà Trang nhấn mạnh dù lãi suất và lạm phát đang tạo ra những thách thức rõ nét, nhưng thị trường vẫn được nâng đỡ bởi nhu cầu ở thực bền vững.
Bất động sản vẫn được xem là kênh tích lũy và bảo toàn giá trị tài sản dài hạn, đặc biệt trong bối cảnh lạm phát. Nhu cầu ở thực và đầu tư an toàn vẫn là động lực then chốt của thị trường.
Thị trường kim loại quý vừa chứng kiến một phiên giao dịch đầy biến động khi giá bạc bất ngờ đảo chiều mạnh sau chuỗi tăng kéo dài sáu phiên liên tiếp. Trong phiên ngày 14/5, bạc từng leo lên vùng 88,48 USD/ounce - mức cao nhất trong 2 tháng - trước khi lao dốc xuống quanh 84,55 USD chỉ vài giờ sau đó.
Mức giảm gần 4 USD khiến bạc mất động lực tăng ngắn hạn, đồng thời tạo ra sự đối lập rõ rệt với vàng. Trong khi bạc rung lắc dữ dội, giá vàng chỉ giảm chưa tới 0,3%, cho thấy dòng tiền trên thị trường đang có sự phân hóa mạnh.
Diễn biến này nhanh chóng làm dấy lên lo ngại về khả năng kim loại quý bước vào một nhịp điều chỉnh sâu hơn. Tuy nhiên, giới phân tích cho rằng cú giảm của bạc phản ánh nhiều hơn những thay đổi trong kỳ vọng kinh tế vĩ mô thay vì sự suy yếu của xu hướng dài hạn.
Vì sao bạc giảm mạnh hơn vàng?
Để hiểu vì sao bạc lại nhạy cảm hơn vàng trong những phiên giao dịch đầy biến động, cần nhìn vào cấu trúc nhu cầu cốt lõi của kim loại này. Vàng gần như phụ thuộc hoàn toàn vào tâm lý tích trữ tài sản và trú ẩn an toàn. Bạc lại mang một sứ mệnh kép, vừa là tiền tệ vừa là nguyên liệu sản xuất không thể thiếu.
Theo dữ liệu từ báo cáo của Silver Institute, khoảng 55% nhu cầu bạc trên toàn cầu hiện nay phục vụ trực tiếp cho lĩnh vực công nghiệp. Kim loại này có mặt ở khắp mọi nơi, từ tấm pin năng lượng mặt trời, linh kiện xe điện, chip bán dẫn cho đến các thiết bị y tế công nghệ cao. Phần còn lại mới dành cho nhu cầu đầu tư và tích trữ vật chất.
Chính “vai trò kép” này khiến bạc thường biến động mạnh hơn vàng trong những giai đoạn thị trường lo ngại về lãi suất và tăng trưởng kinh tế. Khi kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) hạ lãi suất suy yếu, triển vọng sản xuất công nghiệp cũng chịu áp lực vì chi phí vốn tăng cao. Điều đó khiến giới đầu tư nhanh chóng cắt giảm phần “định giá công nghiệp” trong giá bạc.
Đó chính xác là những gì đã diễn ra trong phiên giao dịch ngày 14/5. Lực bán tháo xuất hiện không phải vì bạc mất đi giá trị trú ẩn, mà vì thị trường nhận ra động cơ công nghiệp của kim loại này đang phải đối mặt với những cơn gió ngược từ chính sách tiền tệ.
Cú sốc lạm phát khiến thị trường đổi kỳ vọng
Nguyên nhân trực tiếp bóp nghẹt kỳ vọng sản xuất đến từ 3 báo cáo kinh tế quan trọng của Mỹ được công bố liên tiếp. Các dữ liệu này đã dội một gáo nước lạnh vào hy vọng nới lỏng chính sách tiền tệ. Lạm phát tiêu dùng trong tháng 4 bất ngờ tăng lên 3,8%, mức cao nhất kể từ tháng 5/2023.
Tình hình ở mảng bán buôn còn căng thẳng hơn. Chỉ số giá sản xuất vọt lên 6% so với cùng kỳ năm trước, đánh dấu mức đỉnh kể từ cuối năm 2022. Cú sốc lớn nhất nằm ở chi phí năng lượng khi giá xăng tăng tới 15,6%, buộc các doanh nghiệp phải đẩy gánh nặng chi phí sang vai người tiêu dùng. Đồng thời, doanh số bán lẻ vẫn duy trì đà tăng 0,5%, cho thấy sức mua chưa hề suy kiệt.
Hệ quả là thị trường tài chính đã phải định giá lại toàn bộ lộ trình của Fed. Công cụ CME FedWatch cho thấy giới giao dịch đã hoàn toàn xóa bỏ kịch bản hạ lãi suất trong năm 2026. Thậm chí, gần một phần ba thị trường đang đặt cược vào khả năng lãi suất sẽ còn tiếp tục tăng trước khi năm nay khép lại.
Đây là môi trường đặc biệt bất lợi đối với bạc. Đồng USD mạnh lên khiến kim loại này trở nên đắt đỏ hơn với người mua toàn cầu, trong khi lãi suất cao làm tăng chi phí cơ hội của việc nắm giữ tài sản không sinh lợi suất.
Không chỉ chịu sức ép từ Mỹ, thị trường bạc còn đối mặt lực cản lớn từ châu Á. Ấn Độ vừa nâng thuế nhập khẩu vàng và bạc từ 6% lên 15% nhằm bảo vệ đồng rupee và dự trữ ngoại hối. Động thái này có thể làm suy yếu nhu cầu mua vàng bạc vật chất tại một trong những thị trường tiêu thụ lớn nhất thế giới.
Trong khi đó, giới đầu tư toàn cầu vẫn giữ tâm lý thận trọng trước cuộc gặp giữa Tổng thống Mỹ Donald Trump và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại Bắc Kinh.
Các thông tin về khả năng cắt giảm thuế đối với khoảng 30 tỷ USD hàng hóa giúp cải thiện phần nào kỳ vọng thương mại, nhưng sự thiếu rõ ràng về quy mô và thời điểm thực hiện khiến dòng tiền vẫn chưa sẵn sàng quay trở lại mạnh mẽ với nhóm kim loại công nghiệp.
Chu kỳ tăng giá của bạc đã kết thúc?
Tính đến 7h ngày 15/5, giá bạc giao dịch quanh mức 83,5 USD/ounce, tiếp tục giảm nhẹ so với phiên trước đó. Dù vậy, nhiều tổ chức vẫn cho rằng nền tảng dài hạn của bạc chưa thay đổi. Theo Silver Institute, thị trường bạc toàn cầu năm 2026 dự kiến thiếu hụt khoảng 46,3 triệu ounce. Đây là năm thứ sáu liên tiếp nhu cầu vượt sản lượng khai thác.
Nguồn cung bạc hiện vẫn bị giới hạn do phần lớn sản lượng là sản phẩm phụ từ các mỏ đồng, chì và kẽm, khiến việc mở rộng khai thác không thể diễn ra nhanh chóng dù giá tăng cao. Trong khi đó, nhu cầu công nghiệp dài hạn vẫn được hỗ trợ bởi quá trình chuyển đổi năng lượng, mở rộng sản xuất xe điện và sự bùng nổ của các trung tâm dữ liệu AI.
Ngoài ra, những cú sốc năng lượng toàn cầu liên quan đến eo biển Hormuz tiếp tục làm gia tăng áp lực lạm phát. Đây là dạng lạm phát phía cung mà công cụ lãi suất của Fed khó có thể xử lý triệt để. Điều đó đồng nghĩa các tài sản thực như vàng và bạc vẫn giữ vai trò quan trọng trong chiến lược phòng vệ dài hạn của giới đầu tư.
Hiện tại, thị trường bạc đang bước vào giai đoạn nhạy cảm nhất khi phải cân bằng giữa áp lực lãi suất ngắn hạn và triển vọng thiếu hụt nguồn cung kéo dài trong nhiều năm tới.