Theo số liệu của Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc, PPI tháng 3 tăng 0,5% so với tháng 32025, chấm dứt chuỗi giảm phát sản xuất dài nhất trong nhiều thập kỷ. Kết quả này cao hơn dự báo trong thăm dò của Reuters, ở mức 0,4%.
Giá sản xuất tăng mạnh trong các ngành tiêu thụ nhiều năng lượng như khai thác kim loại màu tăng 36,4%; luyện kim và chế biến kim loại màu tăng 22,4%. Tính chung quý I, chỉ số giá sản xuất vẫn giảm 0,6% so với cùng kỳ 2025.
PPI của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới quay đầu tăng trở lại tháng trước do xung đột Trung Đông đẩy giá dầu tăng, khiến chi phí nhiên – nguyên liệu sản xuất leo thang. Đến ngày 10/4, dầu Brent hợp đồng giao tháng 6 được giao dịch ở mức 96,7 USD mỗi thùng, tăng 33% kể từ khi chiến sự bắt đầu. Dầu WTI hợp đồng giao tháng 5 có giá 98,5 USD mỗi thùng, tăng 47%.
Từ cuối tháng 2, Trung Quốc đã cho phép giá nhiên liệu trong nước tăng, nhưng áp trần, nhằm giảm tác động từ giá dầu leo thang. Zhiwei Zhang, kinh tế trưởng tại Pinpoint Asset Management, cho rằng tình hình Trung Đông vẫn còn rất bất ổn. “Triển vọng lạm phát với nhiều nước, bao gồm cả Trung Quốc, cũng vậy”, ông nói.
Trung Quốc là nhà nhập khẩu dầu lớn nhất thế giới, nhưng nhờ dự trữ lớn và nguồn cung năng lượng đa dạng nên giảm được tác động kinh tế từ cuộc xung đột ở Vùng Vịnh, theo Robin Xing, Kinh tế trưởng Trung Quốc tại Morgan Stanley.
“Trung Quốc ứng phó tốt hơn các nước khác trước cú sốc dầu, nhờ khả năng linh hoạt trong chuyển đổi nguồn năng lượng và dư địa chính sách khi lạm phát thấp”, ông Robin Xing nhận định. Ông dự báo PPI nước này tăng 1,2% năm nay.
Tháng 3, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Trung Quốc tăng 1%, thấp hơn mức dự báo 1,2% của các nhà kinh tế do Reuters khảo sát và chậm hơn so với mức tăng 1,3% trong tháng 2. CPI lõi, không bao gồm các mặt hàng dễ biến động như thực phẩm và năng lượng, tăng 1,1% trong tháng 3.
Ông Xu Tianchen, chuyên gia kinh tế cấp cao tại Economist Intelligence Unit, cho biết trong số các nền kinh tế châu Á đã công bố dữ liệu lạm phát tháng 3 đến nay, Trung Quốc là nước duy nhất ghi nhận tốc độ CPI giảm theo tháng.
Với lạm phát thấp và tăng do chi phí đẩy (giá đầu vào) chứ không phải nhu cầu cao, Marco Sun, Trưởng bộ phận phân tích thị trường tài chính tại MUFG (Trung Quốc), dự báo Bắc Kinh sẽ không có điều chỉnh về chính sách điều hành kinh tế.
Tỷ giá nhân dân tệ và USD ổn định sau khi dữ liệu lạm phát được công bố, trong khi thị trường chứng khoán đại lục tăng điểm.
Morgan Stanley vừa hạ dự báo tăng trưởng Trung Quốc năm nay 10 điểm cơ bản, còn 4,7%, với giả định giá dầu trung bình đạt 110 USD mỗi thùng trong quý II trước khi hạ nhiệt. Trường hợp xung đột Trung Đông leo thang, đẩy giá dầu vượt 150 USD mỗi thùng quý này, GDP thực của Trung Quốc có thể giảm tốc còn 4,2%.
“Ngay cả khi eo biển Hormuz được mở lại, quá trình bình thường hóa nguồn cung chậm và nhu cầu tái tích trữ có thể khiến giá dầu duy trì ở mức cao”, ông Xing nói.
Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2025 vừa công bố của Tập đoàn Jollibee Foods (JFC) cho thấy Highlands Coffee có lợi nhuận trước thuế, khấu hao và lãi vay (EBITDA) gần 2,5 tỷ peso, tương đương hơn 1.085 tỷ đồng. Mức này tăng 5,7% so với năm 2024 và là mức cao nhất kể từ lần đầu công bố thông tin vào năm 2023.
Trung bình mỗi ngày, chuỗi cà phê này có gần 3 tỷ đồng EBITDA. Chuỗi này đóng góp gần 29% vào EBITDA của mảng cà phê và trà của Jollibee Foods Corporation. Nếu tính trên toàn tập đoàn, Highlands Coffee góp hơn 5,9%.
EBITDA cải thiện khi doanh số bán hàng tại cùng một cửa hàng (same-store sales) tăng 8,2% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số này chỉ tính trên các quán đã hoạt động ít nhất 15 tháng, không tính các điểm mở mới. Số lượng giao dịch cũng cải thiện 6%; còn doanh thu trung bình trên mỗi khách hàng tăng thêm 2,1%.
Báo cáo không thuyết minh cụ thể doanh thu. Song, SuperFoods - đơn vị đứng sau Highlands Coffee và Phở24 - báo cáo doanh thu đạt hơn 11,9 tỷ peso (tương đương hơn 4.946 tỷ đồng), tăng gần 17%. Trong khi Phở24 chỉ có 14 cửa hàng, điều này đồng nghĩa với việc doanh thu của chuỗi cà phê đóng góp đáng kể cho SuperFoods.
Highlands Coffee hiện là chuỗi cà phê lớn nhất Việt Nam. Tính đến cuối tháng 12, công ty này sở hữu 985 quán trong và ngoài nước, gồm mô hình tự vận hành và nhượng quyền. Thương hiệu đang có 38 cửa hàng nhượng quyền tại Philippines - thị trường ngoại quốc đầu tiên. So với cuối năm trước, mạng lưới hoạt động đã mở rộng thêm 135 cửa hàng. Highlands Coffee công bố có hơn 10.000 nhân viên, phục vụ hơn 100 triệu khách hàng mỗi năm.
Thương hiệu ra đời từ năm 1999, khởi đầu với sản phẩm cà phê đóng gói tại Hà Nội. Năm 2002, Highlands Coffee bắt đầu mở rộng sang mô hình chuỗi cà phê với quán đầu tiên tại TP HCM. Kể từ đó, chuỗi này không ngừng phát triển, trở thành thương hiệu cà phê nổi tiếng, không chỉ hoạt động trong nước mà còn lấn sang thị trường quốc tế.
Năm 2012, Highlands Coffee được mua lại bởi Jollibee Foods Corporation - một tập đoàn nhà hàng tại Philippines. Chia sẻ với VnExpress hồi tháng 4/2025, nhà sáng lập kiêm CEO David Thái khẳng định chuỗi cà phê này vẫn là một doanh nghiệp Việt Nam, Jollibee chỉ đồng hành dưới vai trò nhà đầu tư và cố vấn chiến lược, không tham gia vào vận hành hàng ngày của hoạt động kinh doanh. Việc quản lý vận hành và quản trị nhân sự Highlands Coffee đều dưới sự lãnh đạo của ông David Thái.
JFC đang xem xét kế hoạch chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) của Highlands Coffee. Thời điểm tiến hành dự kiến vào quý I/2027. Mục tiêu của kế hoạch này là hỗ trợ giai đoạn tăng trưởng tiếp theo của Highlands Coffee bằng cách huy động vốn, nâng cao hình ảnh doanh nghiệp, giúp họ tập trung hơn vào chiến lược và hoạt động.
Ngân hàng Nhà nước mới đây ban hành Thông tư 08 liên quan đến các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng. Trọng tâm của văn bản này là việc điều chỉnh cách xác định tổng tiền gửi khi tính tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR).
Theo quy định mới, tiền gửi của các tổ chức trong và ngoài nước (bao gồm cả tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài khác) tiếp tục phải loại trừ một số khoản mục trước khi đưa vào mẫu số LDR. Các khoản mục bị loại trừ bao gồm: tiền ký quỹ, tiền gửi vốn chuyên dùng của khách hàng, tiền gửi không kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước và 80% số dư tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước.
Như vậy, Thông tư 08 chính thức cho phép các ngân hàng thương mại tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào công thức LDR. Phần tiền gửi không kỳ hạn của cơ quan này tiếp tục không được ghi nhận. Việc phân định cơ cấu kỳ hạn là yếu tố nền tảng, do quy định mới không áp dụng đối với toàn bộ hệ thống tiền gửi Kho bạc.
Động thái này đánh dấu sự điều chỉnh cơ chế so với lộ trình thắt chặt trước đó tại Thông tư 26/2022. Trước đây, tỷ lệ khấu trừ tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước khỏi mẫu số LDR được quy định tăng dần: từ 50% (năm 2023), 60% (năm 2024), 80% (năm 2025) và lên mức 100% kể từ ngày 1/1/2026. Tính đến đầu năm nay, toàn bộ dòng tiền này đã hoàn toàn nằm ngoài công thức xác định LDR.
Tỷ lệ LDR được tính bằng tổng dư nợ cho vay chia cho tổng tiền gửi được phép tính vào nguồn vốn huy động. Trong trường hợp dư nợ cho vay giữ nguyên, việc mẫu số tăng lên sẽ giúp tỷ lệ này giảm xuống.
Ví dụ, một ngân hàng có 2 triệu tỷ đồng tiền gửi và 1,5 triệu tỷ đồng dư nợ cho vay, tương ứng tỷ lệ LDR ở mức 75%. Nếu ngân hàng tiếp nhận thêm 300.000 tỷ đồng tiền gửi có kỳ hạn từ Kho bạc Nhà nước, theo quy định mới, 20% số tiền này - tương đương 60.000 tỷ đồng được tính vào mẫu số của LDR.
Khi đó, tổng tiền gửi được phép tính tăng lên 2,06 triệu tỷ đồng, kéo tỷ lệ LDR giảm xuống còn khoảng 72,8%.
Trong bối cảnh trần LDR hiện hành là 85%, việc gia tăng 60.000 tỷ đồng ở mẫu số về lý thuyết có thể tạo thêm khoảng 51.000 tỷ đồng dư địa cho vay.
Tuy nhiên, khả năng mở rộng tín dụng trên thực tế còn phụ thuộc vào hạn mức tăng trưởng tín dụng được cấp, chất lượng tài sản, cơ cấu nguồn vốn, thanh khoản và các chỉ tiêu an toàn nội bộ của từng ngân hàng.
Ngoài ra, việc nới cách tính LDR giúp các nhà băng cải thiện tỷ lệ an toàn và có thêm dư địa tăng trưởng tín dụng, trong đó được hưởng lợi nhiều nhất là nhóm Ngân hàng có vốn nhà nước (Agribank, BIDV, Vietcombank, VietinBank).
Tính tới cuối quý I, tiền gửi của Kho bạc Nhà nước tại nhóm ngân hàng quốc doanh chiếm hơn 99% tiền gửi kho bạc toàn hệ thống. Tỷ lệ LDR của 4 ngân hàng quốc doanh gồm Agribank, BIDV, Vietcombank và VietinBank đều tăng trong những tháng đầu năm. Tại ngày 31/3, tỷ lệ này lần lượt ở mức 83%; 82,9%; 84,5% và 83,5%, tiến sát ngưỡng tối đa 85%.
Các chuyên gia của Chứng khoán MBS nhận định tỷ lệ LDR của các ngân hàng quốc doanh có thể giảm từ 1,1-1,5% so với trước khi thay đổi chính sách. Đồng thời, dư địa cho vay mới được bổ sung tương đương khoảng 0,3-0,4% tổng dư nợ tín dụng hiện tại của toàn hệ thống.
Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm nay vẫn ở mức cao, trong khi áp lực giữ mặt bằng lãi suất thấp để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế vẫn hiện hữu. Khi huy động vốn chưa thể cải thiện nhanh, việc nới kỹ thuật trong cách tính LDR giúp các ngân hàng có thêm “không gian” để duy trì nhịp tăng trưởng tín dụng mà không tạo áp lực quá lớn lên chi phí vốn.
Bên cạnh đó, từ đầu năm nay, các ngân hàng nhận chuyển giao bắt buộc tổ chức tín dụng yếu kém cũng được giảm 50% tỷ lệ dự trữ bắt buộc, qua đó tạo thêm dư địa cho vay toàn hệ thống. Tuy nhiên, theo MBS, tác động của chính sách này chủ yếu mang tính hỗ trợ cục bộ, giúp giảm áp lực thanh khoản và chi phí vốn ở một số nhà băng cụ thể, thay vì tạo thay đổi lớn trên toàn hệ thống.
Phía Trung Quốc cũng bày tỏ sẵn sàng mở rộng nhập khẩu hàng hóa Việt Nam, đặc biệt là nông sản chất lượng cao.
Về đầu tư, tác động quan trọng nhất của chuyến thăm không chỉ là tăng quy mô vốn, mà là nâng chất lượng dòng vốn hợp tác. Sau chuyến thăm, đầu tư Trung Quốc vào Việt Nam sẽ có xu hướng dịch chuyển rõ hơn vào các lĩnh vực sản xuất chế biến, công nghiệp hỗ trợ, hạ tầng, logistics, kinh tế số, trí tuệ nhân tạo, kinh tế xanh và các dự án kết nối lớn.
Việc hai bên trao các biên bản ghi nhớ hợp tác giữa doanh nghiệp trong khuôn khổ chuyến thăm, cùng với định hướng thúc đẩy "3 kết nối" (về lý tưởng niềm tin, lợi ích phát triển và văn hóa, lòng dân) và xây dựng kế hoạch hợp tác giai đoạn 2026 - 2028, sẽ biến quan hệ chính trị tốt đẹp thành các dự án đầu tư cụ thể nhanh hơn và thực chất hơn.
Về triển vọng thời gian tới, tôi cho rằng dòng vốn FDI từ Trung Quốc vào Việt Nam vẫn sẽ duy trì xu hướng tích cực, nhưng theo hướng "tăng có chọn lọc" hơn là tăng nóng.
Minh chứng cho điều này là trong ba tháng đầu năm 2026, Trung Quốc tuy đứng thứ 4 về tổng vốn, nhưng lại dẫn đầu về số dự án đầu tư mới, số giao dịch góp vốn, mua cổ phần. Điều này cho thấy các nhà đầu tư Trung Quốc vẫn rất quan tâm đến Việt Nam.
Việt Nam và Trung Quốc đang đẩy mạnh kết nối hạ tầng đường sắt, với kế hoạch đầu tư các tuyến đường sắt tốc độ cao Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, Móng Cái - Hạ Long - Hải Phòng, Lạng Sơn - Hà Nội. Sự kết nối giao thông đường sắt sẽ mang lại lợi ích kinh tế, thương mại rất lớn và mang tính hai chiều.
Về lợi ích kinh tế - thương mại đối với Việt Nam, điều lớn nhất là kéo giảm chi phí logistics và thời gian vận chuyển. Hợp tác đường sắt Việt Nam - Trung Quốc có ý nghĩa rất lớn trong việc giảm chi phí logistics, rút ngắn thời gian vận chuyển, nâng cao năng lực cạnh tranh hàng hóa, đồng thời giảm áp lực ùn tắc tại cửa khẩu đường bộ. Điều này đặc biệt có ý nghĩa với hàng nông sản, hàng công nghiệp, container xuất nhập khẩu và các chuỗi sản xuất đang cần vận hành nhanh, ổn định và chi phí thấp hơn.
Về phía Trung Quốc, lợi ích cũng rất rõ. Những tuyến đường sắt này sẽ giúp các địa phương phía nam và tây nam Trung Quốc tăng kết nối với thị trường Việt Nam, với hệ thống cảng biển phía Bắc Việt Nam và rộng hơn là với ASEAN.
Nếu được triển khai đúng tiến độ và đồng bộ với hạ tầng cửa khẩu, cảng biển, logistics và khu công nghiệp, thì kết nối đường sắt Việt Nam - Trung Quốc không chỉ là câu chuyện giao thông, mà có thể trở thành một đột phá chiến lược trong hợp tác kinh tế song phương giai đoạn tới.